Lời chúa mỗi ngày

+ Chúa Nhật 17/07/2022 – CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN năm C. – Phần tốt nhất.

  • In trang này
  • Lượt xem: 5,309
  • Ngày đăng: 16/07/2022 08:00:00

Phần tốt nhất.

17/07 – CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN năm C.

"Mát-ta rước Người vào nhà mình. Maria đã chọn phần tốt nhất".

 

Lời Chúa: Lc 10, 38-42

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu vào một làng kia và có một phụ nữ tên là Mát-ta rước Người vào nhà mình. Bà có người em gái tên là Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người. Mát-ta bận rộn với việc thết đãi khách.

Bà đứng lại thưa Người rằng: "Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với".

Nhưng Chúa đáp: "Mát-ta, Mát-ta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất".

 

* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ  link CGKPV

 

* Các BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ

 

 Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN – C

Lời Chúa: St. 18, 1-10a; Cl. 1, 24-28; Lc. 10, 38-42

 

1. Phần tốt nhất--‘Manna’

Suy Niệm

Nếu dựa trên bài Tin Mừng về người Samari tốt lành,

hẳn chị Mácta phải nhận được một lời ca ngợi,

vì chị đã làm, đã phục vụ Đức Giêsu.

Thế nhưng ở đây, Ngài chỉ dành cho chị lời trách móc.

Đức Giêsu có đối xử bất công không?

Chúng ta cần nhìn ngắm chị Mácta tất bật dưới bếp.

Chị thấy còn bao việc phải làm ngay cho kịp.

Lòng chị lo lắng bồn chồn về việc tiếp đãi Chúa.

Vậy mà cô em Maria lại ngồi không...

Mácta không thể nén được nữa.

Chị ngắt lời lúc Đức Giêsu đang trò chuyện với em.

Hơn nữa, chị muốn Ngài ra lệnh để em mình xuống bếp.

Câu nói của chị có nguy cơ phá vỡ cuộc trò chuyện.

Cả Đức Giêsu và Maria đều bị coi là những người vô tâm,

thản nhiên trò chuyện khi mà công việc đang ngập đầu.

Câu trả lời của Đức Giêsu đầy cảm thông, trìu mến.

Ngài hiểu nỗi bối rối của Mácta khi tiếp đãi Ngài,

nhưng Ngài cho thấy ngồi nghe cũng là một cách tiếp đãi,

thậm chí một cách tiếp đãi tuyệt vời.

Trong một thế giới thực dụng, coi trọng hiệu quả,

Hội Thánh có khá nhiều Mácta và rất ít Maria.

Lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện bị coi là xa xỉ phẩm,

là những điều vô ích, mất thì giờ, ù lì, thụ động.

Nhưng có hành động nào hiệu quả bằng ngồi nghe Chúa?

Tiếp xúc với Đấng Toàn Năng cho ta sức mạnh để làm mọi sự.

Một Hội Thánh quân bình khi có cả Mácta và Maria.

Một Kitô hữu quân bình khi coi trọng việc ngồi bên Chúa.

Không phải chỉ là làm cho Chúa,

mà còn sống với Ngài trong một tương quan mật thiết bền chặt.

Đừng đợi lúc rảnh, lúc lắng mới đến gặp Chúa.

Lúc cần gặp Chúa hơn cả là lúc bận bịu, lo âu.

Con người hiệu năng là con người cầu nguyện.

Khi được hỏi về bí quyết của mình, Mẹ Têrêsa đáp:

“Bí quyết của tôi rất đơn giản: tôi cầu nguyện.”

Có ai trong chúng ta muốn chọn phần tốt hơn như Maria?

Khi nhìn Mácta, chúng ta thấy khuôn mặt của mình.

Lúc đầu, chị chỉ muốn phục vụ Chúa.

Nhưng dần dần, điều chi phối chị không phải là Chúa nữa,

mà là sự thành công rực rỡ của bữa ăn do chị nấu.

Chị huy động mọi người

để phục vụ cho dự tính của chị, thay vì phục vụ Chúa.

Chị đi đến chỗ nghi ngờ cô em lười biếng,

trách Đức Giêsu vô tâm.

Cuối cùng không rõ chị tìm Chúa hay tìm mình,

tìm làm vui lòng Chúa hay thành công cá nhân.

Có khi chúng ta cũng bắt Chúa đứng vào phe mình

để cho công việc mình chóng thành tựu.

Làm thế nào để chúng ta phục vụ

mà không thấy mình phục vụ,

không ngắm nghía, nhâm nhi sự quảng đại của mình?

Làm sao tôi có thể yêu một cách trong suốt như Maria?

Gợi Ý Chia Sẻ

Cầu nguyện là lắng nghe Chúa nói với mình, là gặp gỡ Chúa trong tình con thảo. Bạn nghĩ gì về đời sống cầu nguyện của bạn hiện nay? Chất lượng và thời gian ra sao?

Cái khó và cái dễ khi bạn cầu nguyện trong một xã hội công nghiệp hiện đại?

Cầu Nguyện

Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,

xin dạy con biết sống quảng đại,

biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,

biết cho đi mà không tính toán,

biết chiến đấu không ngại thương tích,

biết làm việc không tìm an nghỉ,

biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào

ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. Amen.

 

2. Chỉ có một điều cần--‘Manna’

Suy Niệm

Trên dặm đường rao giảng Tin Mừng,

thỉnh thoảng Đức Giêsu và các môn đệ gặp được

một chỗ nghỉ chân chan chứa tình người.

Mácta là chủ nhà đón tiếp Đức Giêsu.

Chị tất bật lo việc tiếp đãi nấu nướng,

chị lo lắng trước bao việc phải làm ngay

để có được một bữa ăn thịnh soạn

hầu tỏ lòng kính trọng đối với vị khách quý.

Trong khi đó cô em Maria lại vô tư và bình thản,

ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Người.

Maria say mê nghe Lời Chúa,

Lời mở tâm tư cô ra trước những chân trời mới mẻ.

Cô thấy chẳng có gì hạnh phúc hơn giây phút này,

được ngồi nghe Thầy giảng như một môn đệ thực thụ.

Mácta không hiểu được cô em gái,

chị cũng không hiểu được Đức Giêsu,

nên cuối cùng chị đã đến thưa với Chúa:

Thầy không để ý tới sao?

Mácta muốn Thầy để ý đến việc mình đang làm,

muốn Thầy nhận ra sự vất vả mình phải chịu.

Em con để mình con phục vụ.

Mácta tưởng chỉ có mình mới là người phục vụ.

Chị không nhận thấy rằng Maria cũng đang tiếp khách

và ngồi nghe Chúa cũng là một cách phục vụ.

Xin Thầy bảo em giúp con một tay.

Mácta kéo Đức Giêsu vào cuộc,

kéo Ngài đứng về phía mình, phía đúng,

để gây áp lực trên cô em.

Chị muốn Maria phải vào bếp với mình,

phải phục vụ theo kiểu của mình.

Ngấm ngầm, Mácta không chấp nhận kiểu phục vụ của Maria.

Có lẽ chị nghĩ đó là một hành vi vô ích,

trong khi có biết bao việc quan trọng khác cần làm.

Đức Giêsu không ghét Mácta,

không coi nhẹ việc phục vụ của chị,

nhưng buộc lòng Ngài phải lên tiếng.

Ngài muốn giải phóng Mácta khỏi nỗi bồn chồn quá mức.

Ngài muốn giải phóng chị khỏi cái tôi,

khỏi lối nhìn hẹp hòi, để nhận ra điều duy nhất cần thiết.

Ngài gọi tên chị hai lần: Mácta! Mácta!

Con lo lắng và xao động vì nhiều chuyện quá,

dù chuyện ấy là chuyện con lo cho Thầy.

Cần thanh lọc lòng mình khỏi những tìm kiếm vị kỷ,

khỏi những ganh tị nhỏ mọn và tự mãn ngấm ngầm,

để có thể làm việc cho Chúa trong bình an thư thái,

dù có gặp thất bại hay bị lãng quên.

Chỉ có một chuyện cần mà thôi.

Coi chừng nỗi lo lắng về nhiều chuyện phụ

lại làm ta quên mất chuyện chính,

một chuyện cần hơn cả,

đó là an tĩnh gặp gỡ và lắng nghe Chúa mỗi ngày

trong tư thế khiêm hạ của người môn đệ.

Cuộc sống dồn dập hôm nay

dễ biến chúng ta thành Mácta:

xao động, âu lo, căng thẳng, mất kiên nhẫn.

Cả người làm việc cho Chúa cũng bị cuốn hút.

Có lẽ cần bớt việc và thêm giờ cầu nguyện,

cần để cho Chúa làm việc nơi tôi và qua tôi

thay vì tự mình bươn chải một mình.

Phải chăng đời Kitô hữu là kết hợp giữa Mácta và Maria,

giữa tất bật và an tĩnh, giữa lăng xăng và ngồi yên,

giữa hoạt động và cầu nguyện?

Để rồi giữa tất bật, tôi tìm thấy an tĩnh,

- giữa lăng xăng, tôi thấy mình ngồi yên,

- giữa hoạt động, tôi thấy mình chiêm niệm.

Gợi Ý Chia Sẻ

Có khi nào những khúc mắc của cuộc sống đưa bạn đến ngồi dưới chân Chúa không? Bạn nghĩ gì về sự cân đối giữa cầu nguyện và hoạt động trong đời bạn? Bạn cầu nguyện có đủ và sâu không?

Cầu nguyện là gặp gỡ và lắng nghe như cô Maria. Có khi nào bạn có kinh nghiệm như Maria không? Bạn có khi nào nghe Chúa nói tự thẳm sâu cõi lòng không?

Cầu Nguyện

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào,

xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc,

xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo,

xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa

để nghe Lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng,

xin cho con thoát được lên cao

nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện

thấm nhuần vào cả đời con.

Nhờ cầu nguyện,

xin cho con gặp được con người thật của con

và khuôn mặt thật của Chúa.

 

3. Phục vụ trong trật tự-TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Thoạt nghe bài Tin mừng hôm nay, có người đã trách móc: Sao Chúa quá mâu thuẫn. Mới tuần trước, Chúa kể truyện người xứ Samaria nhân hậu để dạy phải phục vụ. Vậy mà hôm nay, Chúa lại trách móc, tuy có nhẹ nhàng, nhưng vẫn đau đau, bà Mát-ta đã lăng xăng phục vụ đón tiếp Chúa. Tại sao thế?

Nếu đọc kỹ bài tường thuật hôm nay cũng như toàn bộ Tin mừng, ta sẽ thấy phục vụ tuy được Chúa đề cao, nhưng vẫn phải nằm trong một trật tự toàn bộ của đời sống đạo.

Trật tự thứ nhất: Phục vụ phải biết quên mình.

Phục vụ mà không quên mình sẽ đi đến khoe khoang tự mãn. Ta hãy nhớ lại chuyện hai người lên đền thờ cầu nguyện. Ông Biệt phái đứng giữa đền thờ, lớn tiếng kể công: “Lạy Chúa, con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18,12). Thái độ khoe mình của ông không được Thiên Chúa chấp nhận vì ông phục vụ mà không biết quên mình.

Phục vụ mà không quên mình sẽ đi đến ganh ghét, dòm ngó, lườm nguýt, loại trừ người khác. Về điểm này, Đức cha Bùi Tuần có đưa ra một hình ảnh rất ý nhị. Trên bàn thờ có ngọn nến và bông hoa. Cả hai cùng phục vụ bàn thờ. Nhưng nếu ngọn nến đốt cháy bông hoa thì thật đau lòng. Phục vụ mà không quên mình sẽ đưa đến loại trừ lẫn nhau. Điều Chúa muốn là phục vụ quên mình. Phục vụ quên mình là phục vụ kín đáo: “Tay trái không biết việc tay phải làm” (Mt 6,3). Phục vụ quên mình chỉ cố ý làm vui lòng Chúa chứ không so sánh hơn thua với anh em. Vì thế phục vụ quên mình sẽ rất khiêm tốn. “Sau khi đã làm tất cả thì hãy nói: Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10).

Trật tự thứ hai: Phục vụ phải biết lắng nghe.

Trước hết phải biết lắng nghe lòng mình xem có đức bác ái không. Nếu không có đức bác ái thì mọi việc phục vụ dù có lớn lao cũng trở thành vô ích như lời thánh Phao-lô nói: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, nếu tôi không có đức bác ái, cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13,3).

Thứ đến phải biết lắng nghe đối tượng phục vụ. Một phục vụ tốt phải đúng lúc, đúng nơi, đúng cách, đúng nhu cầu. Nhưng trên hết phục vụ phải biết lắng nghe Lời Chúa. Việc phục vụ của ta chỉ tốt và có ý nghĩa khi ta làm đúng ý Chúa muốn. Muốn biết ý Chúa, phải lắng nghe tiếng Chúa trong Tin mừng, qua cầu nguyện và tiếp xúc tâm sự với Chúa trong bí tích Thánh Thể. Lời Chúa là đèn soi bước chân ta, là ánh sáng hướng dẫn ta trong mọi hoạt động. Lắng nghe Lời Chúa làm cho hoạt động được vững vàng. Đó là xây nhà trên đá (cf. Lc 6, 47).

Trật tự cuối cùng: Phục vụ phải biết nghỉ ngơi.

Cuộc sống văn minh hiện đại ngày càng cuốn con người vào cơn lốc hoạt động đến ngộp thở. Người ta không còn thời giờ cho gia đình, cho bạn bè, và nhất là cho đời sống tâm linh. Tại các nước phương Tây, con người đang biến thành những cỗ máy làm việc, làm việc không ngừng. Đó là một đời sống mất quân bình, rất nguy hiểm.

Trong Phúc âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc nhở chúng ta: “Đừng quá băn khoăn lo lắng”. Hôm nay Chúa nhắc lại với bà Mát-ta một lần nữa: “Đừng băn khoăn lo lắng quá”. Chúa không chê trách công việc bà làm, nhưng Chúa chê trách thái độ lăng xăng, lo lắng thái quá. Chúa mời gọi bà hãy biết nghỉ ngơi, biết giữ bình an nội tâm trong một đời sống quân bình bằng cách biết cầu nguyện. Cầu nguyện là nghỉ ngơi bên Chúa. Cầu nguyện tạo cho ta một khoảng không gian và thời gian, nhờ đó đời sống tâm linh phát triển. Chính nhờ những giây phút cầu nguyện bên Chúa mà sinh lực ta được phục hồi. Và ta có thể phục vụ tốt hơn.

Lời Chúa kêu gọi bà Mát-ta, Chúa cũng muốn nói với mỗi người chúng ta hôm nay: “Con đừng quá băn khoăn lo lắng cho cuộc sống. Hãy biết đến bên Cha mà nghỉ ngơi. Cha sẽ bổ sức cho con. Hãy chọn lấy phần tốt nhất như Maria. Đó là một kho tàng bền vững mãi mãi”.

Xin cho mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, hãy đến bên Chúa nghỉ ngơi. Để nhờ Chúa hướng dẫn, việc phục vụ của chúng ta sẽ theo đúng ý Chúa muốn và để đời sống tâm linh ta được phát triển toàn diện trong một nếp sống quân bình. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1-  Cầu nguyện là lắng nghe Chúa nói với mình, là gặp gỡ Chúa trong tình con thảo. Hiện nay bạn cầu nguyện thế nào? Có sốt sắng không? Có nhiều thời gian cầu nguyện không?

2-  Bạn đọc kinh nhiều, nhưng bạn có cầm trí không, hay chỉ đọc như máy?

3-  Khi phục vụ, bạn có thực sự quên mình, hay phục vụ để được tiếng là người đạo đức, để hơn người?

4-  Muốn việc phục vụ thực sự tốt đẹp, ta cần có thái độ nào?

 

4. Đón rước Chúa – ViKiNi--‘Xây Nhà Trên Đá’--Lm Giuse Vũ Khắc Nghiêm

Dolbeau ở bắc Canada, nơi mấy căn nhà thấp bé, nho nhỏ, xinh xinh, ẩn mình, nơi du khách được tiếp đón chân tình, thân thương, quý mến với những nụ cười tươi nở thanh thoát, linh thiêng của mười bảy nữ tu Dòng Kín sống trong bốn bức tường êm đềm, đơn sơ, giản dị. Khi ra đi, du khách in đậm những kỷ niệm còn lưu luyến mãi Dolbeau. Có phải ở đó phảng phất hương vị đầy tình thương mến ấm áp của Bêtania xưa không?

Matta, Maria có phải là nữ tu hiền hòa, hiếu khách đã nồng nhiệt đón rước một Đấng du khách từ trời xuống thăm chăng?

Ba bài đọc lời Chúa hôm nay trình bày hai cách đón rước Chúa:

Cách Matta và Abraham, cách của Maria và Phaolô.

1- Cách của Matta và Abraham: Matta lo dọn bữa ăn uống, lo cho phần xác được no đầy, khoẻ mạnh, sạch sẽ, khoan khoái. Bài đọc một nói đến việc tiếp đón và đãi khách rất nồng hậu của Abraham. Abraham đang ngồi hóng mát trước cửa nhà dưới trời nóng bức. Ông thấy ba người khách lạ đi ngang qua. Ông chạy vội ra mời họ quá bộ vào nhà nghỉ mát, bưng nước cho khách rửa lau, dẫn khách nằm nghĩ dưới bóng cây. Ông bắt bê ngon làm thịt. Bà nhồi bột làm bánh. Ông bà hầu hạ khách lạ như mình là tôi tớ. Thật lạ lùng! Matta tiếp đãi Chúa và các môn đệ cũng hết mình như một tôi tớ.

2- Cách của Maria và Phaolô: Một cách tiếp khách đặc biệt, ít người để ý tới. Đó là lắng nghe khách nói. Bà Carnegie viết rất nhiều sách làm người nổi tiếng. Trong cuốn Đắc Nhân Tâm, bà viết: Cách làm cho khách vui lòng nhất là lắng nghe khách nói, lắng nghe ước muốn, nguyện vọng, tâm tư của người khác. Như vậy, tỏ ra mình kính trọng, quan tâm đến người để hiểu biết, thông cảm, chia sẻ những tâm tình, những kiến thức, những yêu cầu thiết thực nhất của người, quý hơn cả cơm ăn, áo mặc. Đây là cách tiếp đón của Maria và Phaolô. Maria nghe lời hằng sống Chúa dạy bảo, lời cứu độ, lời vinh phúc muôn đời. Phaolô, trong bài đọc hai, đã đón rước Chúa bằng thông phần, chia sẻ những gian nan thử thách, những đau khổ Đức Kitô còn phải chịu. Ngài cũng đón tiếp các dân ngoại bằng hy sinh gian khổ, bằng rao giảng lời Chúa cho họ, sống với họ như anh em và phục vụ đem lại ích lợi cho anh em, để anh em được hy vọng đạt tới vinh quang.

3- Như vậy đón rước Chúa, trước nhất là lắng nghe. Đức Giêsu đang âm thầm đến gõ cữa nội tâm bạn, bạn cần thiết phải thinh lặng để lắng nghe Ngưới nói trong lương tâm, trong suy niệm Tin Mừng. Phải biết dẹp đi những ồn ào trần thế, phải xếp lại những công việc rối loạn, phải thanh tẩy những vui chơi điên đảo, mới lắng nghe được tiếng êm ái dịu hiền của Người.

Tiếp đón Chúa còn là cách biết nhận ra Chúa trong mọi người: Trong những người đau khổ, neo đơn, cô độc, trong những người bị áp bức, bị phản bội, trong những người bệnh tật, đói khổ, tù đầy, tôi mọi. Những cảnh khốn cùng, âu lo, sầu khổ, phiền muộn, tuyệt vọng, ngặt nghèo triền miên lan tràn trên mặt đất, đang phơi bày ra trước mắt chúng ta. Chúng ta có thấy Chúa trong đó không? Chúng ta có thấy Đức Kitô đang vác khổ giá đó không?

Sau nữa, tiếp đón Chúa chính là phục vụ của mỗi người chúng ta tùy theo khả năng, tùy theo hoàn cảnh, theo ơn gọi riêng của mình: Maria ngồi bên chân Chúa để chiêm ngắm lắng nghe, Matta lo ăn uống nội trợ phục vụ những nhu cầu vật chất, ông Simon khỏe mạnh ra tay nâng đỡ Thánh giá Chúa, bà Vêronica dâng khăn lau mặt đầm đìa mồ hôi máu của Chúa. Tiếp đón Chúa bằng bất cứ cách nào, miễn là trọn nghĩa vụ mình với lòng khiêm tốn, vô tư, quảng đại yêu thương vì sáng danh Chúa.

Thế giới ngày nay, càng văn minh, càng sống ở đô thị, càng đóng kín cửa nhà, đóng kín đến nỗi sống liền nhà nhau hàng chục năm cũng không bao giờ gặp nhau. Họ không bao giờ tiếp đón nhau, nhưng loại trừ nhau, vì họ đã đóng kín cửa lòng đối với Thiên Chúa. Nhà họ chật ních những đồ vật, máy móc, nhưng lòng họ cô đơn trống vắng, chật ních những hình ảnh rối bời và tiền bạc xô bồ, nhưng rất thiếu tâm tình mến yêu.

Thế thôi! con người ơi! hết rồi!

Lạy Chúa, xin cho con biết đón rước Chúa để tâm hồn con được vươn cao vô tận. Xin cho con biết tiếp đón nhau để liên kết những con tim bừng bừng sức sống, biết chia sẻ cho nhau, hiệp thông với nhau trong tình tương thân tương ái.

Lạy Chúa, xin đừng bao giờ để trái tim con chết khô cô độc.

 

5. Gặp Chúa, gặp tha nhân--TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thiên Chúa là Đấng vô hình. Để gặp gỡ Ngài, chúng ta phải có đức tin. Nói cách khác, chỉ có đức tin mới giúp chúng ta gặp gỡ Chúa, để rồi giữa cuộc sống trần gian, chúng ta vẫn “như thấy Đấng vô hình” (x. Dt 11,27). Cuộc gặp gỡ thiêng liêng này giúp ta cảm nhận sự hiện diện của Chúa, tâm sự với Ngài để giãi bày những nỗi niềm buồn vui của cuộc sống. Đức tin cũng giúp chúng ta gặp gỡ Chúa nơi tha nhân, tức là qua những con người cụ thể, chúng ta được gặp gỡ Đấng tối cao.

Ông Abraham là người kính sợ Chúa. Ông đã nghe lời Chúa gọi bỏ quê hương xứ sở đến một nơi Chúa sẽ chỉ cho, tức là ông chưa biết đó là nơi nào. Sự dứt khoát lên đường của Abraham được coi như mẫu mực của lòng tin và lòng phó thác cho mọi thế hệ sau này. Một buổi trưa nọ, vào lúc thời tiết nóng bức, Đức Chúa đã đến và gặp gỡ ông, dưới hình thức “ba người đàn ông”. Tác giả ghi lại sự mến khách, lòng nhiệt thành và hy sinh của ông cùng với vợ mình là bà Sara trong việc tiếp đón và phục vụ vị khách đến đột xuất. Lòng mến khách của ông đã được đáp đền. Vị khách hứa vào năm sau bà Sara sẽ có con trai. Qua sự tiếp đón niềm nở của Abraham và vợ ông, ông bà đã được gặp Chúa và được ngài ban cho điều đang mong đợi, đó là có được một mụn con vào lúc tuổi đã xế chiều.

Một cuộc đón tiếp khác được nhắc tới trong Tin Mừng hôm nay, đó là cuộc đón tiếp của hai chị em ở Bêtania dành cho Chúa Giêsu. Đây là gia đình Đức Giêsu lui tới thường xuyên, giống như những gia đình giáo dân đạo đức quảng đại hiện nay. Hai người phụ nữ với hai công việc khác nhau: một người lo dọn bữa, một người lắng nghe Chúa nói. Câu nói của Matta không thể hiện sự ghen tỵ cho bằng mối tương quan thân thiết giữa gia đình này với Đức Giêsu. Qua câu nói này, Matta có vẻ như gợi ý để được Chúa quan tâm, cũng là cách nói lên tình quý mến trân trọng. Để trả lời cho thắc mắc của Matta, Chúa Giêsu đã đánh giá việc lắng nghe Lời Chúa chiếm phần ưu tiên. Câu trả lời xem ra khó hiểu, vì nếu không có sự lo toan bận rộn của Matta, thì việc đón tiếp cũng sẽ trở nên buồn tẻ. Chuẩn bị bữa ăn để đón khách là việc ông Abraham và bà Sara đã làm để thể hiện lòng mến khách. Nay bà Matta cũng đang làm như thế và cũng xuất phát từ lòng mến khách. Khi tuyên bố: “Maria đã chọn phần tốt nhất”, thực ra Chúa Giêsu không phê phán hay coi thường việc dọn bữa. Người vừa coi trọng người chuẩn bị bàn ăn để đón tiếp Người, vừa khen ngợi tâm tình lắng nghe Lời Chúa của bà Maria. Khi khẳng định việc lắng nghe Lời Chúa của Maria là “phần tốt nhất”, Chúa muốn nhắc lại điều Người đã nói trước đó, trong trình thuật về việc Người chịu cám dỗ trong hoang địa: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4). Qua đó, Người cũng muốn nhắc chúng ta: việc lắng nghe Lời Chúa phải dành phần ưu tiên trong cuộc đời.

Trong Cựu ước, Thiên Chúa viếng thăm con người dưới hình thức “ba người đàn ông”, tức là những con người bằng xương bằng thịt. Thời Tân ước, Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể đã đích thân đến để gặp gỡ con người. Hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện giữa chúng ta, khác với thời Cựu ước và thời Tân ước, mà đó là sự hiện diện huyền nhiệm thiêng liêng. Thánh Phaolô khẳng định: Thiên Chúa muốn cho mọi người nhận ra chân lý cao siêu này, đó là Đức Kitô đang hiện diện giữa chúng ta. Đây là một “mầu nhiệm được ẩn giấu từ thời xa xưa và nay được tỏ hiện”. Người là niềm hy vọng và là vinh quang của chúng ta. Rao giảng Đức Kitô là sứ mạng Chúa Cha đã trao phó cho chúng ta, nhằm mục đích dẫn đưa con người đạt tới sự hoàn thiện trong Đức Kitô (Bài đọc II). Như thế, mỗi người được mời gọi đón nhận Chúa Giêsu, không phải như một con người trần thế, mà là Thiên Chúa vô hình đang hiện diện trong cuộc đời, nơi tha nhân, nhất là nơi những người cùng khổ bần hàn. Chính khi đón tiếp và cứu giúp những người bất hạnh mà chúng ta được đón tiếp Chúa (x. Mt 25).

Dưới đây là một trong những gợi ý suy tư và cầu nguyện của Cộng đoàn Taizé cho năm 2019: “Sự hiếu khách của Thiên Chúa đối với chúng ta là một lời mời gọi. Chúng ta có thể đón nhận người khác, không phải như cách chúng ta muốn họ là ai, mà là đón nhận chính con người thật của họ được không? Chúng ta có thể để chính bản thân mình được họ chào đón theo cách của họ, mà không phải cách của ta hay không? Chúng ta hãy trở nên những người nồng hậu, dành thời gian để lắng nghe ai đó, mời gọi họ một bữa tối, tiếp cận những người nghèo khổ, nói những lời nói tử tế với người mình gặp mặt...”.

"Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết" (Dt 13, 2). Quả vậy, đón tiếp tha nhân là cơ hội tốt để đón tiếp Chúa. Gặp gỡ tha nhân sẽ giúp chúng ta gặp gỡ Đức Kitô, Đấng đang sống và đang hoạt động giữa chúng ta.

 

6. Rước Chúa vào nhà--Lm Carolô Hồ Bặc Xái

"Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy"

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến,

Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện hai chị em Matta và Maria rước Chúa Giêsu vào nhà mình. Matta thì ân cần lo việc phục vụ, còn Maria thì ngồi bên chân Chúa để lắng nghe lời Ngài.

Trong Thánh lễ này, chúng ta có dịp làm điều mà Maria đã làm, là ngồi bên chân Chúa để lắng nghe Lời Ngài. Xin Chúa cho chúng ta được thân thiết với Chúa ngày một hơn.

II. Gợi ý sám hối

Chúng ta quá lo lắng những việc trần gian mà ít quan tâm đến việc Chúa.

Chúng ta dành thời giờ cho Chúa mỗi ngày quá ít.

Chúng ta chưa quan tâm đủ đến việc ở bên Chúa và lắng nghe tiếng Chúa.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (St 18, 1-15)

Câu chuyện này làm nổi bật lòng hiếu khách của tổ phụ Abraham: Ông đang ngồi trong lều giữa trưa nóng bức thì thấy bên ngoài có 3 người đàn ông. Abraham vội vàng mời 3 người vào lều mình, lấy nước cho họ rửa chân, lấy bột làm bánh, bắt một con bê tốt nhất làm thịt để tiếp đãi họ. 3 người này chính là sứ giả của Thiên Chúa.

Đáp lại lòng hiếu khách của Abraham, Thiên Chúa đã cho bà Sara vợ ông có được đứa con trai đầu lòng mặc dù cả hai ông bà đều đã già quá tuổi sinh con.

2. Đáp ca (Tv 14)

Tv này thuộc loại giáo huấn, nhằm trả lời cho câu hỏi "Ai được Thiên Chúa tiếp đón vào cư ngụ trong nhà Ngài?" Tác giả trả lời: đó là người sống thanh liêm và thực thi công chính.

3. Tin Mừng (Lc 10, 38-42)

Câu chuyện có 3 vai: vai chính là Chúa Giêsu, hai vai phụ là Mác-ta và Maria mỗi người phục vụ Chúa một cách khác nhau:

Mác-ta lăng xăng lo cơm nước, giường chiếu v. v.

Maria "ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy"

Mác-ta khó chịu xin Chúa Giêsu bảo Maria tiếp mình. Nhưng Chúa Giêsu nói: "Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi", đó là việc Maria đang làm, tức là ngồi bên chân Chúa đề lắng nghe lời Chúa.

4. Bài đọc II (Cl 1, 24-28) (Chủ đề phụ)

Thánh Phaolô tỏ ý sung sướng vì được chịu khổ trong khi thi hành sứ vụ tông đồ. Sở dĩ những đau khổ ấy trở thành niềm vui vì Phaolô ý thức rằng nhớ đó mà ông bổ khuyết nơi thân xác mình những gì còn thiếu trong cuộc chịu nạn của Chúa Giêsu Kitô.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Chọn phần tốt nhất (Lc 10, 38-42)

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi:

- Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ:

- Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin!

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn:

- Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?

Chàng sinh viên liền hỏi:

- Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

- Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!

* * *

Chúa phán: "Macta, Macta ơi! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi" (Lc 10, 41-42). Phần tốt nhất ấy chính là ở bên cạnh Chúa, lắng nghe Chúa nói, và cầu nguyện với Chúa.

Nhà bác học đại tài Ampère, với công việc nghiên cứu của ông về điện tử học, về nam châm điện đã đem lại biết bao lợi ích cho nền văn minh của nhân loại. Thế nhưng, ông không cho đó là vĩ đại, mà ông nói: "Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi".

Mẹ Têrêsa Calcutta, một nữ thánh giữa đời thường, mỗi ngày trước khi bước xuống "địa ngục Calcutta" để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đi vào "nhà hấp hối" để an ủi các kẻ liệt lào, các nữ tu của Mẹ đã quì cầu nguyện trước Thánh Thể một tiếng đồng hồ để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ.

Hoạt động tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với anh em, tại sao chúng ta lại không kín múc nơi Chúa là suối nguồn yêu thương. Cho dù là hoạt động truyền giáo, hoạt động từ thiện bác ái, hay sinh hoạt hằng ngày theo bổn phận, chúng ta cũng đừng quên "chọn phần tốt nhất" này. Hãy nhớ lời Chúa: "Không có Ta, chúng con không làm gì được".

Các triết gia phương Tây có khuynh hướng hoạt động cho rằng Chúa không làm gì, con người làm hết. Các triết gia phương Đông trái lại ưa thích thuyết tĩnh học, để Chúa làm hết và con người không làm gì. Nhưng khuôn vàng thước ngọc của chúng ta là: "Cầu nguyện và hoạt động", Macta phải đi đôi với Maria. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động, và hoạt động là kết quả của cầu nguyện. P. Graef có một câu nói rất thâm thuý: "Hoạt động mà không có cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà không có hoạt động là thiếu đất gieo hạt".

Tuy nhiên, có một cám dỗ khiến chúng ta khó thoát khỏi. Đó là nhiều khi chúng ta tưởng mình phục vụ Chúa, nhưng hóa ra chúng ta phục vụ chính mình. Nhìn Mácta lăng xăng dọn bữa ăn, chúng ta thấy dáng dấp của chính mình. Chúng ta hoạt động để được tiếng khen, để gây chú ý: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay" (Lc 10, 40-41). Chúng ta mời gọi kẻ khác cộng tác, cũng là để phục vụ cho chương trình của chính mình.

Đôi khi chúng ta cầu nguyện cũng là để kéo Chúa về phe mình, xin Chúa ủng hộ để cá nhân mình sớm được vẻ vang. Chúng ta muốn mình luôn được thành công. Chúng ta không chấp nhận thất bại. Chúng ta mãn nguyện với những hoạt động tông đồ của mình. Chúng ta hài lòng với công cuộc từ thiện của chúng ta. Chúng ta đi tìm chính mình!

* * *

Lạy Chúa , xin dậy chúng con biết rằng: Cầu nguyện là ở bên Chúa, lắng nghe và chuyện vãn với Chúa, chứ không phải thuyết phục Chúa làm theo ý muốn chúng con.

Xin cho chúng con một tình yêu trong suốt như Maria dưới chân Chúa. Xin đừng để chúng con bị ô nhiễm bởi tính háo danh và óc vụ lợi khi phục vụ Chúa và anh em. Amen. (Thiên Phúc).

* 2. Chọn phần ưu tiên

Có thể xếp những việc chúng ta phải làm hằng ngày thành hai loại: việc cấp bách (urgent) và việc thiết yếu (essential). Những việc cấp bách thì rất nhiều, những việc thiết yếu thì rất ít.

Cũng như Matta, chúng ta thường dành ưu tiên cho những việc cấp bách. Còn việc thiết yếu thì chúng ta hoãn lại. Khi nào làm xong hết những việc cấp bách, ta mới nghĩ đến việc thiết yếu. Nhưng khi đó thì đã quá muộn, chúng ta làm việc thiết yếu đó một cách hấp tấp và hời hợt.

Đức Hồng Y Joseph Bernardin, Tổng giám mục giáo phận Chicago, khi hay tin mình bị ung thư đến giai đoạn cuối, đã nói: "Bây giờ tôi mới nhận thức ra rằng chúng ta thường bỏ rất nhiều thời giờ của cuộc sống để làm những việc phụ thuộc không mấy ý nghĩa".

Việc thiết yếu nhất mà người ta thường hoãn lại không làm là gì? Thưa đó là việc mà Maria đã làm, đó là ngồi bên chân Chúa và lắng nghe lời Chúa". Chính Chúa Giêsu đã đánh giá đó là việc thiết yếu duy nhất và là việc tốt nhất phải làm (FM)

* 3. Một cách cầu nguyện

Đối với nhiều người, cầu nguyện là nói để xin.

Nhưng, xét theo một nghĩa nào đó, sự cầu nguyện đích thực chỉ bắt đầu khi ta ngừng nói. Cách cầu nguyện tốt nhất là ở bên chân Chúa, chẳng nói lời nào và cũng chẳng làm gì cả, như Maria vậy.

Có người nghĩ rằng làm việc là cách chứng tỏ cụ thể tình yêu của mình đối với Chúa, cho nên cứ ngồi im bên chân Chúa là mất giờ vô ích, nhất là khi ta còn nhiều việc phải làm. Có lẽ đúng. Nhưng nếu làm việc mà không cầu nguyện thì những việc làm kia dễ trở thành những việc làm vì mình và cho mình chứ không phải vì Chúa và cho Chúa; và cũng có thể chúng trở thành những việc của mình chứ không phải của Chúa. Kết quả là sau khi ngưng việc, ta cảm thấy lòng mình trống rỗng, con người mình rất hời hợt nông cạn.

 

Thoreau nói: "Đừng sợ đời mình kết thúc, nhưng hãy sợ đời mình chưa bao giờ bắt đầu".

Nhà tâm bệnh học Thomas Moore nói: "Có người có thể chữa khỏi những rối loạn tâm thần chỉ cần bằng cách tự ban cho mình mỗi ngày một ít phút thinh lặng suy nghĩ". Đối với sức khoẻ tâm thần mà đã là như thế, huống chi đối với sức khoẻ siêu nhiên.

* 4. Chuyện minh họa

a/ Một bà lão đến một Linh mục xin tham vấn:

- Thưa cha, tôi đã cầu nguyện không ngừng suốt 14 năm qua, nhưng tôi chả cảm thấy sự hiện diện của Chúa gì cả.

- Thế Bà có cho Chúa cơ hội để nói với Bà lời nào không?

- À... không. Tôi cứ nói miết. Nhưng như thế không phải là cầu nguyện sao?

- Không. Bây giờ tôi khuyên bà mỗi ngày bỏ ra 15 phút chỉ ngồi im trước mặt Chúa thôi.

Bà cụ đã làm theo lời khuyên đó. Chỉ vài ngày sau, Bà trở lại khoe:

- Thật tuyệt diệu: Khi tôi nói với Chúa thì tôi chẳng cảm thấy gì cả. Nhưng khi tôi ngồi yên trước mặt Ngài thì tôi thấy như mình được sự hiện diện của Ngài bao phủ lấy tôi.

b/ Khi linh mục đang thống kê tình hình của xứ đạo, ngài hỏi một gia đình câu hỏi thường lệ:

- Các con có thường cầu nguyện chung cả gia đình không?

Gia trưởng trả lời:

- Thưa cha, chúng con không có thời giờ.

- Giả như con biết một đứa con sẽ bị bệnh nếu chúng con không cầu nguyện, gia đình con có cầu nguyện không?

- Ồ, con đoán chúng con sẽ cầu nguyện.

- Giả sử con biết ngày nào đó khi gia đình lơ là việc cầu nguyện, một đứa con sẽ gặp tai nạn. Các con có cùng cầu nguyện không?

- Tất nhiên chúng con sẽ cầu nguyện.

- Giả sử mỗi ngày con quên cầu nguyện, giáo luật phạt 5 đôla. Các con có sao lãng việc cầu nguyện không?

- Chắc chúng con sẽ cầu nguyện. Nhưng ý của những câu hỏi này là gì?

- Vấn đề của con là không có thời giờ. Con có thể tìm được thời giờ. Con không nghĩ cầu nguyện chung gia đình là quan trọng như nộp phạt hay giữ sức khỏe cho con. Ơn ban của Chúa qua lời cầu nguyện quan trọng hơn bất cứ những gì con có thể nghĩ tới.

c/ Một ngư dân đưa một thanh niên lên thuyền của ông. Một bên mái chèo có viết chữ cầu nguyện và bên kia viết chữ làm việc. Anh thanh niên nói vẻ khinh miệt: "Này chú, chú lỗi thời quá. Ai muốn cầu nguyện làm gì, nếu như họ làm việc?"

Bác ngư phủ không nói gì, nhưng buông lỏng mái chèo có viết chữ cầu nguyện và chèo mái kia. Ông chèo và chèo mãi, nhưng chiếc thuyền chỉ quay tròn mà không tiến đi được.

Anh thanh niên hiểu ra rằng bên cạnh mái chèo làm việc, chúng ta cũng cần phải có mái chèo cầu nguyện.

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Lời Chúa hôm nay đặt cho mỗi người chúng ta một câu hỏi: Chúng ta đã đón tiếp Chúa như thế nào trong cuộc sống thường ngày? Với ước mong được đón tiếp Chúa thật xứng đáng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh là đại gia đình của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đình này / luôn sống hiệp nhất và yêu thương nhau.

2. Hiện nay có biết bao người không chốn nương thân / sống cảnh màn trời chiếu đất / không ai ngó ngàng gì đến họ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang sống không nhà không cửa / tìm được một chỗ ở xứng hợp với nhân phẩm của mình.

3. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường dẫn lối cho người Kitô hữu trong cuộc lữ hành trần thế / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Lời Chúa soi sáng các Kitô hữu / để mọi việc họ làm đều phù hợp với chân lý và tình thương của Chúa.

4. Hằng ngày trước mắt chúng ta / có biết bao người nghèo là hiện thân của Đức Kitô bị bỏ rơi / bị hất hủi / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết quảng đại nâng đỡ những người bất hạnh trong xã hội.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng chúng con trở nên thửa đất phì nhiêu, hầu đón nhận hạt giống lời Chúa và làm cho sinh hoa kết quả dồi dào. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Không lời cầu nguyện nào hay bằng lời kinh Lạy Cha do chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Vậy chúng ta hãy sốt sắng cầu nguyện bằng lời kinh Chúa dạy.

VII. Giải tán

Chúng ta đã ý thức rằng làm việc và cầu nguyện phải đi đôi với nhau, và chính sự cầu nguyện sẽ hỗ trợ cho những việc chúng ta làm. Anh chị em sắp trở lại với những việc làm hằng ngày. Đừng quên cầu nguyện để Chúa giúp anh chị em làm những việc đó tốt hơn.

 

7. Maria đã chọn phần tốt nhất--Lm Giuse Đinh Lập Liễm

A. DẪN NHẬP.

Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng muốn được người ta tôn trọng và đón tiếp, ai cũng ca tụng tính hiếu khách vì hiếu khách là một đức tính tốt, và người hiếu khách là người có tinh thần bác ái. Sách Sáng thế cho biết ông Abraham là một người hiếu khách, ông đã mời ba người khách lạ vào lều và hầu hạ họ như tôi tớ. Đáp lại tấm thịnh tình của ông, ba vị sứ giả của Thiên Chúa loan báo cho ông biết là ông sẽ có con trai trong tuổi già (Bài đọc 1). Mát-ta và Maria cũng là người hiếu khách, hai chị em đã đón tiếp Đức Giêsu vào nhà và đã phục vụ Ngài một cách tận tình, tuy mỗi người có một cách phục vụ khác nhau (Tin mừng).

Trong cách tương giao, câu chuyện giữa chủ và khách  là một cuộc đối thoại chứ không phải là độc thoại. Theo tâm lý chung, ai cũng thích nói, muốn bộc lộ hết tâm tư cho người kia, nhưng người sành tâm lý và được người ta ưa chuộng là người biết lắng nghe, tạo cơ hội cho người kia bộc bạch hết tâm tình của mình. Trong cuộc đón tiếp Đức Giêsu vào nhà, Mát-ta chỉ bận rộn cho bữa ăn mà bỏ quên Ngài, còn Maria thì biết tạo cơ hội cho Ngài thổ lộ tâm tình và được hiểu biết những chân lý mà Ngài muốn mạc khải cho. Trong hai cách phục vụ thì Chúa thích lối phục vụ của Maria hơn, đó là biết lắng nghe: “Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Trong cuộc sống Kitô hữu, nhất là trong cuộc sống tông đồ, sinh hoạt để làm sáng danh Chúa là một điều tốt, nhưng những sinh hoạt ấy chỉ đem lại lợi ích nếu nó được đan dệt bằng sự cầu nguyện, bằng suy niệm và bằng sự thinh lặng trong sự hiện diện của Chúa. Chúng ta đừng đặt câu hỏi: Chúa có nói với chúng ta không, mà phải  hỏi ngược lại: chúng ta có thinh lặng và yên tĩnh đủ để nghe Ngài hay không?

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+  Bài đọc 1: St 18,1-10a.

Bài đọc 1 hôm nay nói lên lòng hiếu khách của ông Abraham. Câu chuyện ấy như sau: Trong một bữa trưa nóng bức, Abraham đang ở trong lều thấy có ba người khách lạ đang đứng ở ngoài lều. Ông vội vàng mời ba người khách lạ vào nhà và tiếp đãi một cách rất nồng hậu: lấy nước cho họ rửa chân, lấy bột làm bánh, lấy con bê béo tốt làm thịt đãi khách. Ông không ngờ đây là ba vị sứ giả của Thiên Chúa.

Đáp lại lòng hiếu khác và quảng đại của Abraham, ba vị sứ giả đã loan báo cho ông: Thiên Chúa sẽ ban cho ông một đứa con trai đầu lòng mà ông hằng mơ ước, mặc dầu hai ông bà đều già quá tuổi sinh con.

+  Bài đọc 2: Cl 1,24-28.

Mầu nhiệm được giữ kín nơi Thiên Chúa, nay được vén mở: đó là bản thân Đức Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Là những người được hưởng nhờ mầu nhiệm này, chúng ta cũng phải chia sẻ cho người khác biết.

Thánh Phaolô đã hiểu được mầu nhiệm này, ngài cũng muốn chia sẻ cho người khác khi Ngài thi hành sứ mạng tông đồ. Vì thế, ngài vui sướng vì được chịu đau khổ, biến những đau khổ ấy thành niềm vui. Sở dĩ có được tinh thần ấy vì ngài ý thức rằng nhờ đó mà ngài được bổ khuyết nơi thân xác mình những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô.

+  Bài Tin mừng: Lc 10,38-42.

Khi Đức Giêsu đến viếng thăm Mát-ta và Maria, ta thấy mỗi người có một cung cách tiếp khách: Mát-ta thì cho, còn Maria thì nhận. Mát-ta thì bận rộn lo đủ mọi chuyện để dâng cho Đức Giêsu một bữa cơm ngon miệng. Cô bận rộn đến nỗi phải xin Ngài bảo em giúp mình một tay. Còn Maria thì không làm gì cả, cô chỉ cung kính lắng nghe những lời Ngài dạy.

Câu chuyện này dạy cho chúng ta một bài học: điều Thiên Chúa muốn, không phải là chúng ta làm cho Ngài điều này điều nọ mà là để Ngài giáo huấn chúng ta, để chúng ta được biến đổi nhờ những lời giáo huấn ấy. Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi: biết lắng nghe Lời Chúa.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA. Lắng nghe Lời Chúa.

Truyện mở đầu: Vị vua đến thăm.

Ngày xưa có một vị vua muốn tìm cách giúp cho dân nước ấm no và hạnh phúc. Vua dự tính đi thăm viếng dân làng và hỏi ý kiến họ về tình hình đất nước. Nhà vua gửi sứ giả đến trước gặp hai gia đình ngài muốn thăm viếng để hỏi họ về những niềm hy vọng và ước mơ cho quê hương xứ sở.

Ngày đầu tiên vua đến với gia đình thứ nhất. Vì muốn làm cho vua vui lòng bằng một bữa tiệc  với những đồ ăn ngon quí giá chưa từng có, nên khi vua đến nơi, gia đình chủ nhà vẫn còn đang bận rộn vất vả dọn tiệc linh đình. Nhà vua và các quan cận thần phải ngồi ở sân trước nhà để chờ đợi họ sửa soạn bữa ăn. Bữa ăn rất ngon, nhưng khi dọn lên thì mọi người trong gia đình đã quá mỏi mệt, không còn thì giờ và hứng thú để nói chuyện với vua về những điều vua muốn biết. Vua ra về và không mấy hài lòng.

Ngày hôm sau, vua đến thăm nhà thứ hai. Cả nhà ra đón tiếp vua một cách niềm nở. Mặc dù họ chỉ chuẩn bị một bữa ăn rất đơn sơ đạm bạc, nhưng buổi tối hôm đó mọi người trong gia đình đều ngồi quây quần bên vua, chia sẻ cởi mở  những uớc mơ và niềm hy vọng  của gia đình và dân làng. Họ rất phấn khởi  khi vua cho họ biết  những dự tính muốn thực hiện cho đất nước. Mặc dù không ăn uống thịnh soạn như tối hôm trước, nhưng khi ra về vua rất hài lòng với buổi gặp gỡ đúng như ý ngài muốn.

Bài Tin mừng hôm nay (Lc 10, 38-42) cũng mang một nội dung như vậy: chị em Mát-ta và Maria tiếp đón Đức Giêsu vào nhà mình, mỗi người có một cung cách tiếp đón. Vậy Đức Giêsu thích cách tiếp đón nào? Của Mát-ta hay của Maria?

I. CÂU CHUYỆN NGƯỜI TIẾP ĐÃI KHÁCH.

1. Ông Abraham tiếp đón khách.

Bài sách Sáng thế ghi lại việc ông Abraham tiếp đãi sứ giả của Thiên Chúa một cách nồng hậu. Abraham đang ngồi hóng mát trước cửa lều trong buổi trưa nóng bức. Ông thấy ba người khách lạ đi ngang qua. Ông vội chạy ra mời họ quá bộ vào nghỉ mát, bưng nước cho khách rửa chân, dẫn khách nằm nghỉ dưới bóng cây. Ông bắt con bê béo làm thịt. Bà nhồi bột làm bánh. Ông hầu hạ khách như mình là tôi tớ. Đáp lại lòng hiếu khách của ông, sứ giả nói với ông: “Sang năm vào độ này, tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai”.

2. Mát-ta và Maria đón tiếp Đức Giêsu.

Trên đường tiến về Giêrusalem, Đức Giêsu ghé vào nhà chị em Mát-ta, Maria và Lazarô ở làng Bêtania, cách Giêrusalem ba cây số. Mát-ta đón rước Đức Giêsu vào nhà. Cô là chủ nhà và chưa có gia đình vì cô đón tiếp khách. Nếu có chồng thì chồng sẽ tiếp đón khách. Cách đón tiếp của Mát-ta  đã chứng tỏ rằng gia đình này đã từng quen biết Ngài và đã có nhiều lần Ngài đến nhà như người quen biết thân mật (Ga 11,1-14).

Hai chị em có hai tính tình khác nhau: Mát-ta là một người hoạt động, còn Maria là một người trầm lặng. Cô Maria cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Ngài. Còn cô Mát-ta thì lăng xăng lo lắng đón tiếp Chúa, một vị khách quí mà cô muốn bầy tỏ hết lòng kính trọng. Mát-ta cảm thấy khó chịu vì cô em không giúp mình một tay, sợ trễ giờ, đến nỗi phải xin Chúa can thiệp, với một giọng trách móc: “Xin Thầy bảo em con giúp con với”.

 Không biết câu trả lời của Đức Giês có làm cho Mát-ta buồn không: “Mát-ta, Mát-ta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không ai lấy mất” (Lc 10,42).

II. CÂU CHUYỆN NGƯỜI PHỤC VỤ VÀ LẮNG NGHE.

Như vậy, Mát-ta và Maria xuất hiện ở đây như hai hai môn đệ nhiệt thành đón tiếp Đức Giêsu Thầy mình, nhưng Maria chỉ lắng nghe Lời Thầy, còn Mát-ta lo dành riêng cho Thầy một sự đón tiếp nồng hậu.

1. Một Mát-ta năng động.

Mát-ta là con người rất yêu mến Đức Giêsu, biết quan tâm tới sức khỏe của Ngài. Trên cuộc hành trình đi vào làng, Ngài mệt mỏi, đói bụng, phải được ăn uống bồi dưỡng để tiếp tục đi rao giảng Tin mừng. Sự lo lắng cho sức khỏe của người khác là nét tinh tế của người phụ nữ. Vì yêu Chúa nhiều, Mát-ta mới lo lắng và lăng xăng như thế. Trong khi đó Ngài lại trách yêu Mát-ta: “Mát-ta, Mát-ta, con lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá” (Lc 10,42). Nói như vậy, phải chăng là Ngài phê bình Mát-ta chỉ đặt trọng tâm vào việc ăn uống?

Căn cứ vào sự kiện Mát-ta hối thúc nói với Maria giúp cô, một học giả Rachel Conrad Wehberg giải thích với một nét nhân từ hơn: Người ta phải suy luận rằng đây là công việc trong bếp hai người đã quen làm. Maria vẫn thường phụ giúp Mát-ta. Nếu họ đã phân chia công tác: Mát-ta nấu ăn, Maria tiếp khách, thì chẳng có vấn đề gì, vì mỗi người đều chấp nhận và kính trọng nhau. Nhưng ở đây, theo thói quen, cả hai chị em cùng làm công việc nấu nướng. Nếu cả hai cùng làm, sẽ mau có bữa ăn hơn, và cả hai chị em đều có cơ hội ngồi tâm sự với Chúa lâu giờ hơn. Do đó, Mát-ta than phiền không phải vì bà chỉ bận tâm đến việc ăn uống, cũng không phải vì ghen tương, nhưng vì trái tim bà hối thúc muốn được cùng lắng nghe Lời Chúa, cùng ở bên Chúa với Maria. Đó là lý do Mát-ta đã than phiền (Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa lòng đời, năm C, tr 255-256).

Tuy nhiên, Đức Giêsu đang trong lúc bồn chồn lo lắng chuẩn bị cho cuộc tử nạn, Ngài muốn có người biết chia sẻ tâm tình hơn để làm vơi nỗi lòng mình, còn việc ăn uống lúc này thì chỉ là phụ thuộc, không cần thiết mấy. Maria đã đáp ứng đúng tâm trạng của Đức Giêsu.

Truyện: Thèm lòng chứ không thèm thịt.

Một người cha có thói quen, sau giờ làm việc, đi dạo chung với cô con gái. Ông cảm thấy rất hạnh phúc được chuyện trò với con. Thình lình, cô gái bắt đầu cáo lỗi vì không thể đi dạo hằng ngày với cha được. Người cha cảm thấy đau khổ nhưng không nói ra. Sau cùng vào ngày sinh nhật của ông, cô con gái mang đến tặng cha một cái áo len mà cô mới đan. Người cha đã nhận thấy rằng cô con gái đã đan áo len trong lúc ông đi dạo một mình. Ông nói với con: “Mát-ta. Mát-ta, Ba rất quí chiếc áo này. Nhưng Ba thích con đi dạo với Ba hơn. Một cái áo len Ba có thể mua ở bất cứ tiệm bán quần áo nào. Nhưng con gái cưng của Ba, Ba không thể mua được. Con làm ơn đừng bao giờ bỏ rơi Ba nữa nhé”.

2. Một Maria trầm lặng.

Cả hai chị em đều có đức tính đáng khen, cả hai đều yêu kính Thầy và ước ao được làm vui lòng Thầy. Nhưng trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ, Mát-ta đã làm quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon lành. Còn Maria thì trực giác hơn được điều Chúa muốn, nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Ngài dạy. Cô biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, cô phải để ý đến ý muốn của vị khách trước, phải lắng nghe người khác nói. Trong việc tiếp đãi Thầy, cô đã làm được việc lớn hơn chị cô.

Bà Carnegie viết rất nhiều sách học làm người nổi tiếng. Trong cuốn “Đắc nhân tâm”, bà viết: “Cách làm cho khách vui lòng nhấùt là lắng nghe khách nói, lắng nghe ước muốn, nguyện vọng, tâm tư của người khác. Như  vậy, tỏ ra mình kính trọng, quan tâm đến người để hiểu biết, thông cảm, chia sẻ những tâm tình, những kiến thức, những yêu cầu thiết thực của người, quí hơn cả cơm ăn, áo mặc”.

Truyện: Tổng thống Abraham Lincoln chia sẻ.

Trong lịch sử nước Mỹ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln  viết thư mời ông bạn cũ ở Illinois tới Washington để thảo luận vài vấn đề. Ông bạn tới Bạch cung là Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ  về tờ thông báo ông định công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Tổng thống ôn lại tất cả các lý lẽ bênh vực cho các đạo luật ấy và những lý lẽ phi bác lập trường đối nghịch. Ông lại đọc cả những bức thư và bài báo về vấn đề đó, trong đó nhiều người trách ông chần chừ chưa phế bỏ chế độ nô lệ, lại có những bài chỉ trích vì ông có ý tiến hành  việc ủng hộ chế độ nô lệ. Sau khi hăng hái nói một hồi lâu, Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta bình an và tiễn ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến gì hết. Lincoln đã nói, đã trút bỏ những nỗi suy nghĩ đang đè nặng trong lòng ông, như vậy đầu óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: “Khi Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn”. Lincoln chỉ cần một người bạn thân thiết biết nghe ông nói và hiểu lòng ông để ông trút bầu tâm sự của ông thôi.

3. Một sự cần thiết mà thôi.

Đức Giêsu trả lời cho Mát-ta: “Mát-ta, Mát-ta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không ai lấy mất”. Câu trả lời của Đức Giêsu đã gây nên nhiều tranh luận và tùy cách hiểu mà dịch ra khác nhau.

Một cách theo như nghĩa trong truyện thì cô Mát-ta lo lắng cho nhiều làm chi, một món  ăn là đủ rồi.

 Một cách khác theo như bản Phổ thông lấy theo nghĩa thiêng liêng. Đối nghịch với những bận rộn đón tiếp của cô Mát-ta, chỉ có một sự cần thiết là lắng nghe Lời Chúa.

Ở đây thực ra không có ý so sánh những của đời này với của duy nhất trên trời, mà là lấy làm hơn thái độ của Maria chăm chú nghe Chúa, cô Mát-ta chia trí lo lắng quá nhiều sự. Vì thế, Đức Giêsu đã tuyên bố Maria đã chọn phần nhất là nghe Lời Chúa.

III. CÂU CHUYỆN NGƯỜI TÔNG ĐỒ BIẾT LẮNG NGHE.

1. Lạc giáo hoạt động (Hérésie de l’action).

Ngày nay, trong Giáo hội, có phong trào tư tưởng cho rằng Giáo hội phải lăn xả vào công việc xã hội nhiều hơn, phải đi đến với người nghèo trước đã. Đạo có chiều dọc và chiều ngang. Hàng dọc hướng về Thiên Chúa, hàng ngang hướng về anh em. Tư tưởng  dấn thân trước tiên cho kẻ khác được cổ võ mạnh. Môn Thần học Giải phóng muốn đặt lại căn bản Đức tin: Mến Chúa yêu người, nhưng cứu người trước đã. Từ ngữ “giải phóng” được đem thay thế từ ngữ “cứu rỗi” của Thần học, vì “nó minh bạch và sáng sủa hơn” (Seguido – Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa, năm C, tr 99).

2. Hoạt động và lắng nghe.

Tuy Đức Giêsu chấp nhận lòng hiếu khách của Mát-ta với lòng biết ơn, và đánh giá đúng mức những cố gắng cô thực hiện để tiếp khách cho tốt đẹp, Nhưng dù sao Ngài cũng muốn cô khám phá một điều còn quan trọng hơn, một điều khẩn thiết bậc nhất và duy nhất, mà cô liều mình quên mất: đó là lắng nghe Lời Chúa. Và, vì đã bỏ tất cả để chỉ giữ “một chuyện cần thiết”, mà Maria, em cô, đã tỏ mình là một môn đệ gương mẫu hoàn hảo nhất.

 R. Meynet chú giải thêm: “Mát-ta đón tiếp Đức Giêsu vào nhà. Chúa vừa bước vào, thì cô đã bỏ Ngài đó, để lo trăm nghìn chuyện. Vịn cớ phục vụ Ngài, cô tất bật, cô lo lắng mọi sự chỉ trừ Chúa ra. Việc phục vụ của cô lấn lướt cả vị khách của cô. Cô lăng xăng, lo lắng, sợ rằng mình không tiếp đãi đúng mức với vị khách quí. Về phần Maria cô giữ một thái độ xứng hợp nhất, ngồi bên chân Đức Giêsu, trong tư thế của người môn đệ. Cô không làm gì, không nói gì, cô chỉ ngồi và nghe. Cô đã quên tất cả mọi sự, ngoài Chúa. Cô quên chính mình. Cô dành cả con mắt, lỗ tai để nhìn và nghe Lời Chúa. Cô cũng đón tiếp Đức Giêsu hơn ai hết, với phong cách tốt nhất. Nhìn cô, người ta dám nói rằng: chính cô được Ngài tiếp đón mới đúng (Fiches dominicales, năm C, tr 253-154).

Ngày nay, người đàn bà danh tiếng nhất thế giới là một nữ tu bác ái, một Mát-ta thời đại: chân phước Têrêsa Calcutta. Bà đã hiểu và truyền lại cho con cái thiêng liêng của Bà tinh thần bài Tin mừng hôm nay. Cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày để ra một giờ để chầu Mình Thánh Chúa trước khi xuống “địa ngục Calcutta” để săn sóc kẻ nghèo hoặc đi vào trong các “nhà chết”.

Trong khi tiếp xúc với Chúa chúng ta phải biết trao đổi như người ta nói: “Có đi có lại mới toại lòng nhau”, nghĩa là phải biết nói và biết nghe, biết cho và biết nhận. Nhiều khi chúng ta rất hào phóng chỉ biết cho Chúa mà không biết nhận. Trong lúc Chúa muốn cho chúng ta  tạo điều kiện để Chúa có cơ hội ban cho chúng ta nhiều ơn, để chúng ta tiếp nhận, nhưng tiếc thay, Ngài không có cơ hội.

Câu chuyện trong Tin mừng cho chúng ta thấy sự khác biệt chủ yếu giữa Mát-ta và Maria. Mát-ta không có khả năng nhận, trong khi Maria thì có. Maria cho Chúa món quà là một tâm trí mở rộng và một tâm hồn mẫn cảm. Còn Mát-ta, trong lúc rất tốt, rất hào phóng khi cho, lại rất nghèo khi nhận. Cả Chúa cũng không thể cho cô điều gì.

3. Quân bình trong hoạt động và lắng nghe

Đặt thái độ của Mát-ta và Maria đối chọi nhau và nghĩ rằng chỉ có một phía đúng, là quá vội vàng. Maria lắng nghe Lời Chúa, còn Mát-ta tất bật lo phục vụ Chúa. Mỗi cô mỗi cách, họ đều muốn giữ chân Chúa nghỉ lại, trên đường lên Giêrusalem. Cô này bằng cách phục vụ, thì làm tất cả những gì có thể làm cho Ngài; cô kia bằng cách lắng nghe lời Chúa, thì cố gắng ghi nhớ lời Ngài, lời của Thiên Chúa.

Trong cuộc sống của người môn đệ, có lúc “tất bật”, và có lúc  “lắng nghe”. Tuy nhiên, không thể có hoạt động tốt nếu không lắng nghe tốt. Maria đã thành công khi tạo cho mình một thái độ không thể thiếu của một môn đệ: là ngồi dưới chân Đức Giêsu, cô quên mọi sự khác, để toàn tâm chú ý vào Chúa và lời Ngài... Nhưng sau đó, có lẽ cô sẽ là một tông đồ hoạt động vì Thầy mình (Fiches dominicales).

Các triết gia Tây phương có khuynh hướng hoạt động cho rằng Chúa không làm gì, con người làm hết. Các triết gia Đông phương trái lại ưa thích thuyết tĩnh học, để Chúa làm hết và con người không làm gì. Nhưng khuôn vàng thước ngọc của chúng ta là: “Cầu nguyện và hoạt động”. Mát-ta phải đi đôi vơiù Maria. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động, và hoạt động là kết quả của cầu nguyện.

P. Graef nói một câu rất thâm thúy: “Hoạt động mà không có cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà không có hoạt động là thiếu đất gieo hạt”.

Một nhà tâm lý trị liệu và nhà văn Mỹ, ông Thomas Moore nói: “Không còn nghi ngờ việc một số người có thể tiết kiệm chi phí và tránh cho mình sự phiền toái về tâm lý trị liệu chỉ vì họ đã dành mỗi ngày ít phút để nguyện ngắm. Hành động đơn giản này cung cấp cho họ điều họ thiếu trong cuộc sống – một thời gian bất động chủ yếu là để nuôi dưỡng linh hồn”.

Truyện: Bác học Ampère cầu nguyện

Frédéric Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện cách sốt sắng ở dẫy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy  không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học lên tiếng hỏi:

- Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ:

- Thưa giáo sư, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép giáo sư cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin!

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn:

- Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm.

Chàng sinh viên liền hỏi:

- Thưa giáo sư, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh vên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

- Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi.

4. Sống dưới sự hiện diện của Thiên Chúa.

Đời sống Kitô hữu phải được đan dệt bằng hoạt động và cầu nguyện. Các tu sĩ sống đời chiêm niệm không phải chỉ có cầu nguyện mà còn phải làm việc; còn các tu sĩ sống đời hoạt động cũng phải cầu nguyện chứ không phải chỉ có hoạt động. Cha Don Marmion nói: “Sự cầu nguyện hỗ trợ cho công việc tông đồ là linh hồn của mọi sứ vụ truyền giáo”.

Người Kitô hữu sống ở trần gian, nhiều lúc phải tất bật với những công việc, nhưng không thể thiếu được sự cầu nguyện. Đối với nhiều người, cầu nguyện chủ yếu là đọc kinh, nhưng đọc kinh chỉ là một trong những hình thức cầu nguyện. Cốt yếu của sự cầu nguyện là kết hợp với Chúa. Nhiều khi chúng ta không đọc kinh, chỉ thinh lặng trước sự hiện diện của Chúa cũng là một cách cầu nguyện rất hay. Thinh lặng cũng là một cách cầu nguyện.

Có lẽ kinh nguyện có lợi nhất là ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không làm gì cả. Chỉ ngồi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, như Maria ngồi trong sự hiện diện của Đức Giêsu. Nếu chúng ta dành một số thời giờ cho việc cầu nguyện và suy niệm, hoặc chỉ cần ngồi thinh lặng trong sự hiện diện của Thiên Chúa, thì không phải là thời gian lãng phí mà là thời gian được sử dụng tốt. Mỗi ngày chúng ta phải cố gắng, dù trong một thời gian ngắn, tìm kiếm khuôn mặt của Thiên Chúa.

Với cái nhìn nông cạn, nhiều người cho là phần việc của Maria có vẻ dễ dàng vì chỉ có ngồi đó, còn phần việc của Mát-ta thì khó khăn hơn. Nhưng nếu suy cho kỹ, chúng ta có thể thấy ít nhất đôi khi, phần việc của Maria khó khăn hơn nhiều trong hai phần việc ấy. Gạt bỏ công việc của mình và chú trọng hoàn toàn vào người khác không dễ dàng. Đem sự chú tâm trọn vẹn ấy vào Thiên Chúa lại càng khó khăn hơn. Nhưng đó là linh đạo sinh lợi ích rất lớn lao.

Truyện: Dưới sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tổng Giám mục Anthony Bloom kể lại rằng người đầu tiên đến xin Ngài một lời khuyên khi ngài được truyền chức thánh là một bà cụ. Bà nói:

- Thưa cha, con đã cầu nguyện hầu như không ngừng suốt bốn mươi năm, và con chưa bao giờ có cảm giác gì về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Ngài hỏi:

- Con có để cho Thiên Chúa có cơ hội lên tiếng không?

Bà nói:

- Ồ không! Con đã nói với Người suốt thời gian ấy. Như thế không phải là cầu nguyện sao?

Ngài nói:

- Không. Cha không nghĩ như thế. Bây giờ cha gợi ý thế này: con hãy dành riêng mười lăm phút để chỉ ngồi trước mặt Thiên Chúa.

Và bà đã làm như thế. Kết quả là gì? Không lâu sau, bà trở lại và nói:

- Thật lạ lùng, khi con cầu nguyện cùng Thiên Chúa, nói cách khác, khi con nói với Người, con không thấy điều gì. Nhưng khi con ngồi thinh ặng, yên tĩnh mặt đối mặt với Người, con cảm thấy được bao trùm trong sự hiện diện của Ngươi. (Flor McCarthy, Phụng vụ Chúa nhật, năm C, tr 514-515)

Để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cần xác tín rằng: “Câu hỏi thường đặt ra không phải Thiên Chúa có nói với chúng ta hay không, nhưng là chúng ta có thinh lặng và yên tĩnh đủ để lắng nghe Ngài hay không”.

 

8. Biết nghe--Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô là ba chị em ở Bê-ta-ni-a, đây là một gia đình quen thuộc, thân tình, nghĩa thiết mà mỗi khi lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su thường ghé qua nghỉ ngơi như quán trọ. Rồi một hôm, như bài Tin Mừng kể lại, Chúa đến cùng với các môn đệ, cả hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a đón tiếp Chúa, nhưng theo hai cách thức khác nhau: Mác-ta cho rằng phải lo tiếp đãi cho khách ăn uống đàng hoàng mới làm hài lòng khách, nhất là đối với Chúa Giê-su, là khách quý của gia đình. Có lẽ nhiều người chúng ta cũng nghĩ như thế. Còn Ma-ri-a thì lại nghĩ khác, cô có một cái nhìn sâu sắc hơn, cao hơn: lâu lâu Chúa mới đến thăm nhà một lần, chắc có nhiều điều muốn nói, và như Chúa đã từng nói: Ngài không đến để được phục vụ mà đến để rao giảng tin mừng nước trời, nên điều quan trọng là phải tiếp chuyện Chúa. Quả thực, Ma-ri-a đã đoán đúng ý Chúa và Chúa đã cho biết Chúa ưng cách tiếp đón của Ma-ri-a hơn: chỉ có một điều cần mà thôi, đó là lắng nghe lời Chúa.

Không phải cô Mác-ta không nghe lời Chúa, nhưng cô đã đặt lộn giá trị, cho việc nghe lời Chúa xuống hàng thứ hai sau việc nội trợ. Còn cô Ma-ri-a cũng không phải là không nghĩ tới chuyện ăn uống cho Chúa và các tông đồ lúc ấy, nhưng cô đã đặt đúng địa vị nghe lời Chúa là ưu tiên. Lời Chúa là lời hằng sống, là ánh sáng, là lời cứu rỗi, là sự sống, linh nghiệm sắc bén hơn gươm hai lưỡi, hơn cả các thực phẩm trần gian: “Người ta sống không chỉ bằng cơm bánh mà còn sống bởi lời Thiên Chúa”. Lời Chúa cao quý và giá trị như thế, nên Chúa bảo: Hãy lắng nghe lời Chúa. Đó cũng là lời Chúa nhắn nhủ chúng ta.

Biết lắng nghe, đó là một nghệ thuật khó hơn người ta tưởng, rất ít người biết lắng nghe thật sự, bởi vì người ta thích nói hơn là thích nghe. Đa số chúng ta đều mắc phải một lầm lẫn lớn là trong mọi việc giao thiệp, thảo luận với mọi người, chúng ta thích nói mà quên mất người đối thoại, chúng ta quên mất một điều là chúng ta có hai tai và một miệng, như vậy, đáng lẽ chúng ta phải nghe nhiều hơn nói. Nhưng sự thực thì phần đông chúng ta đều nói nhiều hơn nghe, nhất là chúng ta không biết nghe. Biết nghe là cả một nghệ thuật, vừa tế nhị vừa khó khăn, mà chỉ những người nào đã từng sống, từng kinh nghiệm mới thấu triệt được.

Ở nước Mỹ, trong nhiều tiểu bang, người ta mở phòng làm việc mệnh danh là “phòng nghe giùm tâm sự” với lời quảng cáo như sau: “Chúng tôi sẽ cung cấp cho thân chủ những người biết nghe chuyện, có khả năng lão luyện để nghe các bạn nói, lâu bao nhiêu tùy ý, mà không làm gián đoạn lời nói của các bạn, số tiền thù lao rất phải chăng”. Ở tiểu bang Phờ-lo-ri-đa, có một bà trở nên triệu phú với cái nghề nghe tâm sự của người khác, và bà tính tiền thù lao rất mắc, thế mà người ta vẫn đổ xô đến để giãi bày nỗi niềm với bà. Người ta nói rằng: ở các tòa soạn báo chí, người nhận được nhiều thư nhất của độc giả là người nghe tâm sự của độc giả, là những người phụ trách mục “gỡ rối tơ lòng” hoặc “tâm tình của bạn”.

Để chứng minh “biết nghe” là bí quyết quan trọng đắc nhân tâm và thành công trên đường đời, sau đây là một trường hợp: Ông Al-len, người duy nhất đã liên tiếp làm cố vấn riêng cho hai vị tổng thống thuộc hai đảng đối lập ở Mỹ: đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Ông Al-len không quen biết gì tổng thống Rô-sơ-veo, nhưng ông đã được tổng thống mời làm cố vấn riêng, không phải vì ông đã khoe tài, khoe khôn với tổng thống, nhưng chính vì ông đã biết nghe hơn là biết nói. Khi ông Tru-man, thuộc đảng Dân chủ, kế vị ông Rô-sơ-veo tại tòa bạch ốc, người ta tưởng ông Al-len sẽ phải về vườn, vì thường thường một vị tổng thống bao giờ cũng tìm người thân tín của mình, người “đồng chí” thuộc đảng mình làm cố vấn, chứ không bao giờ chọn một người đã từng làm cố vấn cho vị tổng thống thuộc đảng đối lập. Vậy mà sau 30 phút tiếp chuyện với ông Al-len, tổng thống Tru-man lại mời ông Al-len làm cố vấn. Một phóng viên đã hỏi ông Al-len tại sao tối nào tổng thống cũng mời ông tới bạch cung nói chuyện trong khi các ông tai to mặt lớn khác thì phải chầu chực mà vẫn không được tiếp? Ông Al-len trả lời: “Tôi biết nghe”. Tóm lại, muốn thành công, muốn chiếm được cảm tình của người khác, chúng ta cần biết nghe hơn là biết nói.

Trong phạm vi siêu nhiên cũng vậy, nhiều khi chúng ta không nhận ra được sự hướng dẫn của Chúa, không nghe được tiếng nói của Chúa, chỉ vì chúng ta thiếu sự yên lặng lắng nghe cần thiết. Chúng ta khó mà nghĩ rằng Thiên Chúa nói với chúng ta, thế mà Ngài vẫn không ngừng nói với chúng ta đấy. Thế thì tại sao chúng ta lại không nghe ra tiếng của Ngài? Chỉ vì chúng ta không ở trong tư thế sẵn sàng lắng nghe. Nếu cái máy của chúng ta không mở, làm gì chúng ta nghe được chút nhạc nào trong phòng, nhưng căn phòng của chúng ta vẫn đang đầy ắp nhạc, chỉ cần mở máy ra là thu được ngay. Chúng ta phải thu lấy tiếng nói của Chúa, Ngài đang ngỏ lời với chúng ta qua Kinh Thánh và qua cuộc sống. Nhưng để nghe được tiếng Ngài giữa những âm thanh ồn ào đang làm rối tiếng Ngài nói, chúng ta phải lắng nghe theo một làn sóng thuộc về riêng Ngài. Làn sóng ấy Ngài sẽ chỉ cho ai biết xin Ngài và biết lắng nghe Ngài trong sự lặng lẽ âm thầm.

Nói rõ hơn, cuộc sống có quá nhiều bận rộn và ồn ào khiến chúng ta không nghe được tiếng nói và không nhận ra được sự hiện diện của Chúa. Có những ồn ào của những bận tâm thái quá cho danh vọng, cho tiền của, cho tương lai; có những ồn ào của tham lam giành giựt, không đếm xỉa đến người khác; có những ồn ào của sôi sục thù hận. Tuy nhiên, dù hằng ngày phải vật lộn với cuộc sống, chạy lo cơm áo, vất vả với đủ thứ công việc; dù hằng ngày luôn phải sống trong bồn chồn lo lắng và giữa muôn vàn tiếng động, chúng ta vẫn phải cố dành ra ít phút thinh lặng cho riêng mình. Bởi vì có thinh lặng chúng ta mới nghe được tiếng thì thầm mời gọi của Chúa, có thinh lặng chúng ta mới nghe được lời an ủi, đỡ nâng của Ngài, có thinh lặng chúng ta mới nghe được tiếng dội của lương tâm kêu gọi, nhắc nhở, thôi thúc sống có ý nghĩa hơn và sống đúng tính cách một người tín hữu của Chúa hơn.

 

9. Tương quan thân thiết với Thiên Chúa--Lm Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)

Thái độ của Maria và Mattha trong tin mừng được nhiều người chú giải cho rằng nó phản ánh đời sống tu trì chiêm niệm và hoạt động, nhưng theo thiển kiến của tôi, lời giải thích như vậy không phản ánh hoàn cảnh lịch sử thời Đức Yêsu và cũng chẳng phản ánh trung thực nét chiêm niệm của những người sống đời hoạt động. Thái độ của Maria và của Mattha đối với Đức Yêsu, phản ánh thái độ của mỗi người trong tương quan với Thiên Chúa và với Đức Yêsu. Maria đặt tương quan thiết thân với Đức Yêsu trên tất cả, Mattha lo phục vụ Thiên Chúa qua việc phục vụ tha nhân.

Điều đáng trách nơi Mattha không phải là những lo toan nhằm phục vụ Đức Yêsu và các tông đồ, nhưng là thái độ của Mattha đối với em mình là Maria, cũng như thái độ Mattha đòi Đức Yêsu can thiệp để Maria làm theo ý mình. Nếu không có Mattha lo việc phục vụ, thì việc thăm viếng của Đức Yêsu và các tông đồ cũng không hoàn toàn tốt đẹp. Việc Mattha lo phục vụ ăn uống rất đáng khen, nhưng điều dở nơi Mattha là đòi Maria phải bỏ việc tiếp Đức Yêsu, đòi Maria bỏ việc ngồi nghe Đức Yêsu mà làm công việc mà chị thấy là cần. Mattha thấy việc làm điều này điều kia là cần, nhưng Maria thấy việc ngồi bên chân Đức Yêsu và nghe Ngài nói chuyện là cần. Đừng bắt người khác làm theo ý mình, và cũng đừng áp lực người khác nữa can thiệp để đòi ai đó làm theo ý mình. Sở dĩ Mattha đòi như vậy, vì Mattha nghĩ việc “phục vụ” là cần nhất; thật ra, điều đó là cần nhưng điều khác cũng cần không kém.

Điều làm xung khắc giữa Mattha và Maria hôm nay, chúng ta lại thấy rất hài hòa nơi Abraham. Abraham rất hiếu khách, ông lo để ba vị khách có nước rửa chân, có lương thực để ăn, và chính ông lại đứng hầu tiếp chuyện với khách. Thái độ và cách hành xử của Abraham thật tuyệt vời.

Abraham chưa nhận ra ba vị đây chính là Thiên Chúa, nhưng thái độ của Abraham đối với ba vị khách này rất kính cẩn, rất hiếu khách. Không ai nghĩ rằng, đối xử với con người là đối xử với Thiên Chúa, nhưng sự thực lại đúng là vậy. Abraham đối xử với ba vị khách, là đối xử với Thiên Chúa. Dân Bêlem đối xử với thánh Yuse và Đức Maria cùng hài nhi nằm trong dạ Đức Maria, là đối xử với gia đình thánh và đối xử với Thiên Chúa. Đức Yêsu trong lời dạy trong Mt.25, 31tt đã đồng hóa mình với những người nghèo hèn nhất, và ai đối xử với nghèo hèn nhất thế nào là đối xử với Thiên Chúa như vậy. Với Maria và Mattha, Đức Yêsu lúc này là một vị thầy kính yêu nhưng hai chị chưa biết đó là Thiên Chúa nhập thể; tuy vậy, đối xử với Đức Yêsu là đối xử với Thiên Chúa. Đối xử tốt đối với Đức Yêsu, là đối xử tốt với Thiên Chúa; không đối xử tốt với Đức Yêsu, là không đối xử tốt với Thiên Chúa; tuy vậy, Đức Yêsu vẫn cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi và làm hại Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết.” Con người đối xử với Thiên Chúa có thể không tốt, nhưng Thiên Chúa đối xử với con người thì luôn thành tín và yêu thương.

Thiên Chúa tới thăm Abraham, cho thấy tình thân và tình thương của Thiên Chúa đối với Abrahm thắm thiết như thế nào. Thiên Chúa biết nỗi bận tâm của Abraham và Sara khi hai người không có con; Thiên Chúa đã đoái thương và hứa sẽ cho Sara có con vào thời điểm này năm sau. Thiên Chúa yêu thương nên quan tâm đến những ước vọng của con người. Thiên Chúa luôn gần gũi và quan tâm đến nỗi bận tâm của mỗi người đến mức độ không ngờ: Thiên Chúa luôn can thiệp vào cuộc đời mỗi người, để yêu thương giúp đỡ và bảo vệ mỗi người.

Nơi Phaolô, người ta thấy một tình yêu rất đặc biệt đối với Đức Yêsu. Kể từ khi biết Đức Yêsu, Phaolô coi tất cả như thua lỗ bất lợi, trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Yêsu. Biến cố Đức Yêsu chết và sống lại, Đức Yêsu là Thiên Chúa nhập thể, là một tin mừng thật đặc biệt đối với Phaolô. Phaolô muốn cho mọi người được biết Tin Mừng Cứu Độ này. Cả đời của Phaolô đã miệt mài rao giảng Tin Mừng Đức Yêsu Kitô. Phaolô hạnh phúc khi rao giảng Tin Mừng, vì Phaolô biết người ta sẽ hạnh phúc khi người ta nhận biết Đức Yêsu là ai, là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là Thiên Chúa nhập thể, là tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, là bảo chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào.

Đức Yêsu là niềm tự hào, là vinh dự của Phaolô. Những người Phaolô phục vụ và rao giảng Tin Mừng, cũng là triều thiên và vinh quang của Phaolô. Chính nhờ Đức Yêsu, mà Phaolô có tương quan thân thiết đối với những người Ngài phục vụ. Nhờ Đức Yêsu, nhờ Đấng mà Phaolô rao giảng, Phaolô được tất cả trong Thiên Chúa. Phaolô vẫn mang trong mình tất cả những gì của kiếp người: “đã ba lần tôi xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt tôi, nhưng Ngài nói: ơn Ta đủ cho con” (2Cor.12, 8-9). Phaolô giống chúng ta mọi đàng với những giới hạn và khó khăn, nhưng ngài là người yêu mến Đức Yêsu rất đặc biệt. Đức Yêsu là tất cả đối với Phaolô. Phaolô trở thành một mẫu mực cho tất cả chúng ta, trong cách chúng ta đối xử với Thiên Chúa, với Đức Yêsu, và đối với con người. Thiên Chúa trên hết, Đức Yêsu là tất cả, và tha nhân là triều thiên và vinh dự của ngài.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Con người có thể có tương quan thân thiết với Thiên Chúa không? Xin trưng bằng cớ cho lập trường của bạn.

2. Tương quan giữa con người với nhau diễn tả tương quan của con người đối với Thiên Chúa. Bạn nghĩ sao về câu nói trên?

3. Làm sao để phát huy mối tương quan tốt với Thiên Chúa cũng như mối tương quan tốt giữa con người với nhau?

 

10. Những mẫu gương sáng ngời--Lm Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.

Ba bài đọc của Chúa Nhật hôm nay cho thấy những tấm gương sống Lời Chúa trong những hoàn cảnh khác nhau: Abraham, Maria và Phaolô.

Chọn điều tốt nhất

Đức Giêsu trên đường rao giảng, ghé vào một gia đình rất quý mến Ngài. Đó là gia đình của Mát-ta, Maria và Lazarô. Cô Mát-ta lo làm đồ ăn đãi khách. Có lẽ có cả các tông đồ cùng ở với Đức Giêsu, vì thế Mát-ta một mình làm bếp cho mười sáu người ăn. Với gia đình này, Đức Giêsu và các tông đồ là những vị khách quý, nên có thể đây là bữa tiệc. Biết bao việc phải làm, thế mà Maria vẫn ngồi bên chân Đức Giêsu và nghe Ngài giảng dạy. Chắc Mát-ta đã ra hiệu hoặc nói với Maria giúp mình, nhưng Maria vẫn giữ lập trường: ngồi tiếp chuyện Đức Giêsu, ngồi nghe Ngài giảng dạy. Không thể chịu nổi nữa, Mát-ta đã xin Đức Giêsu can thiệp: “em con để một mình con với bao nhiêu việc, xin thầy bảo nó giúp con một tay”.

Theo nhiều người, Mát-ta hoàn toàn có lý. Cả Maria lẫn Đức Giêsu đều không được tế nhị lắm. Có lẽ Mát-ta không chỉ trách Maria, mà trách cả Đức Giêsu như thể Đức Giêsu vô tình không để ý đến vất vả của Mát-ta.

“Mát-ta, chị lo lắng về nhiều chuyện quá. Chỉ cần một điều thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và không ai cướp đi được”. Trên đời có nhiều điều có thể làm, phải chọn điều nào quan trọng và cần thiết để làm. Trong trường hợp này, không cần phải làm nhiều món để đãi Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài. Không cần phải vất vả như vậy. Tại sao lại phải làm nhiều món, và điều đó lại là không quan trọng (đối với Đức Giêsu), để rồi phải càm ràm oán trách người khác. Maria đã chọn nghe Lời Chúa, và cũng sẵn sàng chấp nhận bị chị càm ràm, và cả người đời càm ràm chê trách, như thể là người lười, như thể là người không tế nhị và không biết giúp đỡ chị nữa.

Không có một bản lĩnh và một chọn lựa dứt khoát, không thể hành xử như Maria được. Trong cuộc sống, tôi đã chọn điều gì là quan trọng?

Niềm nở ân cần tiếp đón tha nhân

“Đang ngồi hóng mát, nhìn lên Abraham thấy “ba vị” đang đứng gần. Abraham chạy lại, cúi mình chào các vị, mời các vị khách rửa chân cho thoải mái trong một môi trường nóng bức, và dùng bữa”. Với Abraham, đây không phải là những người quen thường gặp, thế nhưng Abraham đã tiếp đón rất ân cần tử tế. Thái độ hiếu khách của Abraham đã làm tương quan giữa Abraham và khách trở nên rất tốt, đến độ các vị khách đã “tỏ mình” cho Abraham.

Thái độ hiếu khách của Abraham đặt vấn đề cho con người ngày nay. Thái độ sống của tôi đối với những người tôi gặp gỡ như thế nào? Abraham đã đón tiếp tha nhân, và cuộc đón tiếp này đã trở thành cuộc đón tiếp Thiên Chúa. Đức Giêsu cũng đã đồng hoá mình với những người nghèo, đến độ ai đón tiếp người nghèo là đón tiếp Chúa, ai cho người nghèo ăn là cho Chúa ăn, ai đi thăm và giúp đỡ người nghèo là đi thăm và đón tiếp Chúa (Mt.25, 31tt). Đối xử với con người, là đối xử với Thiên Chúa.

Rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô

Cả cuộc sống của Phaolô sau khi trở lại, là rao giảng, phục vụ Tin Mừng. Ngài được gọi để được sai đi rao giảng, và Ngài đã thực hiện sứ mạng của Ngài trong mọi hoàn cảnh, bất chấp những khó khăn và nguy hiểm. Ngài rao giảng cả khi ở trong tù, cho cả người Do Thái lẫn người ngoại, cho người đời bình thường cũng như cho những người có địa vị và thế lực. Ngài vui ngay cả trong những khổ đau, và Ngài muốn “hoàn tất” những gì còn thiếu trong thân thể Giáo Hội. Với Phaolô, Ngài “học no học đói”, Ngài làm tất cả để Chúa được tôn vinh hơn.

Với Phaolô, Đức Giêsu là Tin Mừng. Đức Giêsu là mầu nhiệm được giữ kín từ muôn thuở, nay được mặc khải cho con người. Đức Giêsu Kitô là tất cả đối với Phaolô, Ngài sẵn sàng bỏ tất cả để được Đức Giêsu Kitô.

Phaolô trở thành con người tuyệt vời, nhờ thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Ước gì mỗi người không mắc cỡ nhưng can đảm tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Tin Mừng. Chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà mỗi người Kitô hữu trở thành người tuyệt vời.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Bạn có chấp nhận chọn lựa của Maria không? Tại sao?

2. Theo bạn, hiếu khách có còn giá trị trong xã hội hiện tại không? Xin cho biết lý do.

3. Có cần phải rao giảng Tin Mừng cho con người thời đại ngày nay không? Tin vào Tin Mừng giúp gì cho con người ngày nay?

 

11. Cầu nguyện và làm việc--Lm Antôn Nguyễn Văn Độ

Cầu nguyện và hoạt động là hai việc không thể thiếu trong đời sống người kitô hữu chúng ta. Người kitô hữu đích thực là người có đời sống cầu nguyện kết hợp mật thiết với Chúa. Người cầu nguyện đích thực thì không thể chỉ cầu nguyện mà không hành động. Cầu nguyện mà không hoạt động thì không phải là cầu nguyện thật. Vì thế cầu nguyện và hoạt động luôn hiệp nhất với nhau một cách sâu xa trong đời sống người kitô hữu chúng ta.

Abraham và Sara

Abraham và Sara là đại diện cho đời sống người kitô hữu trong cầu nguyện và hành động. Vừa thấy khách quí, Abraham ra đón rước vào nhà và sấp mình xuống cầu nguyện, rồi mang nước và bánh cho khách. Abraham không có làm một mình mà còn gọi Sara cộng tác làm bánh, còn ông đi bắt bê non làm thịt (x. St 18,), mỗi người mỗi việc để khách vui lòng, chủ và khách gặp nhau vang lên tiếng cười giòn giã.

Sara là vợ của Abraham mà ba tôn giáo độc thần là Do Thái giáo, Hồi giáo và Kitô giáo, đều nhận ông là cha của họ trong đức tin. Nếu thế, Sara, người phụ nữ xinh đẹp này đã đồng hành với Abram, cũng là "Mẹ trong đức tin", bởi bà cũng quyết định rời bỏ thành Ur xứ Canđê (thuộc Iraq ngày nay) đến định cư tại đất Canaan.

Sara có một vai trò quan trọng. Tên của bà được nhắc đến bảy lần là bằng chứng (x. St 18, 1-15 ). Con số bảy trong Kinh Thánh có ý nghĩa là tràn đầy. Vì Abram sẽ trở thành Abraham khi Thiên Chúa chỉ ra một sự thay đổi về sứ vụ, Sarai, có nghĩa là "công chúa của tôi" trở thành Sara, nghĩa "công chúa". Sara sẽ không còn là của riêng Abraham nữa. Bà có một sứ mệnh mà Thiên Chúa đã ủy thác cho trong tương quan với Abraham. "Tôi sẽ chúc lành cho bà mẹ của các dân tộc và các vua".

Tiếng cười vang dội sau bữa ăn. Bởi một trong ba vị khách loan báo rõ ràng rằng bà sẽ là mẹ của nhiều dân tộc mặc dù son sẻ. Nghe tin ấy Bà cười phá lên. Vì dưới cái nhìn của chính bà thì lời hứa này là không thể. Dù vậy bà vẫn đặt tên cho con trẻ là Isaac, có nghĩa là "Anh cười." Isaac là con của tiếng cười, con của những điều không thể. Thiên Chúa hứa ban cho bà khả năng sinh nở và Ngài trung thành với lời hứa. Đây là kết quả của cầu nguyện và hoạt động song hành với nhau.

Marta và Maria

Tin Mừng thánh Luca chương 10, nói về hai chị em Marta và Maria quê tại Betania. Cứ sự thường, thái độ của Marta và Maria được người ta qui chiếu về hai cách sống là: chiêm niệm và cầu nguyện, ơn gọi của người Kitô hữu. Thánh sử Luca miêu tả họ như sau: Maria ngồi dưới chân Chúa "lắng nghe lời Người", trong khi Marta bận rộn với việc phục vụ (x. Lc 10,39-40), bận tới độ hướng tới Chúa Giêsu và nói: "Lậy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm gì sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với" (Lc 10, 40). Nhưng Chúa Giêsu quở trách dịu dàng: "Marta, Marta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi, là con hãy nghỉ ngơi, và ngay cả điều quan trọng nhất, con hãy nghỉ ngơi bên cạnh Thày, chiêm ngắm Thầy và nghe Thầy nói" (Lc 10, 41).

Chính lời trên của Chúa Giêsu làm nảy sinh những khuynh hướng khác nhau. Có người cảm thấy tiếc cho Marta, vì Maria đã để Marta làm mọi việc, còn cô ngồi vui vẻ trò chuyện với Chúa Giêsu, thì lại được khen là người khéo chọn "phần tốt nhất ". Vậy là việc Marta làm chưa phải là tốt nhất.

Khuynh hướng khác cho rằng, Chúa Giêsu không có ý phê phán thái độ hiếu khách của Marta khi Người nêu bật hành vi của Maria "ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người". Chúa Giêsu không làm một cuộc so sánh về hai thái độ của Marta và Maria. Trong thực tế, cả hai thái độ này đều cần thiết: tinh thần hiếu khách được biểu lộ cụ thể qua việc chuẩn bị bữa ăn, nhưng cũng được thể hiện không kém qua sự hàn huyên tâm sự. Chúa Giêsu đề cao thái độ của Maria, nhưng không hề giảm thái độ của Marta. Chúa không chê hoạt động, lại càng không trách sự tiếp đón quảng đại, Người chỉ muốn mượn hình ảnh của Maria để nói lên thái độ cơ bản con người phải có đối với Thiên Chúa.

Ðiều quan trọng trước hết là hiểu rằng ở đây không phải là sự chống đối giữa hai thái độ: lắng nghe lời Chúa, chiêm niệm, và phục vụ tha nhân một cách cụ thể. Đây không phải là hai thái độ chống đối nhau, nhưng trái lại, chúng là hai khía cạnh không bao giờ tách rời nhau, chung sống trong sự hiệp nhất và hài hòa sâu xa, bởi chúng có cùng nòng cốt đối với cuộc sống kitô của chúng ta làm nên người tín hữu trọn hảo.

Áp dụng

Chúa Giêsu muốn nói gì vậy? Ðiều duy nhất cần lo lắng ấy là gì?

Chúng ta phải phối hợp và áp dụng cả đời sống của Marta và Maria. Phần lớn trong chúng ta, được Thiên Chúa đã kêu gọi sống như "Marta". Nhưng cũng đừng quên rằng Chúa muốn chúng ta ngày càng như "Maria". Đời sống và sức mạnh của người kitô hữu chỉ có thể bền vững và triển nở nếu kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, lắng nghe Lời Chúa, tránh những tiếng ồn ào và tẻ nhạt che giấu sự hiện diện của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta "chọn phần tốt hơn" và không để cho bất cứ ai lấy mất. Đừng quên rằng điều quan trọng nhất không phải là những gì chúng ta có thể làm, nhưng là Lời Chúa soi sáng đời sống chúng ta, và do đó nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà việc chúng ta làm chất chứa tình yêu.

Một lời cầu nguyện mà không đưa tới hành động cụ thể đối với người anh em nghèo, bệnh tật, cần giúp đỡ, người anh em đang gặp khó khăn, là một lời cầu nguyện cằn cỗi và không trọn vẹn. Nhưng đồng thời trong việc phục vụ Giáo hội khi người ta chỉ chú ý tới việc làm, đặt trọng lượng nơi các sự vật, nhiệm vụ, cơ cấu, mà quên đi trọng tâm là Chúa Kitô, không dành thời giờ cho việc đối thoại với Chúa trong lời cầu nguyện, thì có nguy cơ phục vụ chính mình chứ không phục vụ Thiên Chúa nơi người anh em cần sự giúp đỡ.

Thánh Biển Ðức tóm gọn kiểu sống mà thánh nhân chỉ cho các tu sĩ của người trong hai từ "ora et labora" "cầu nguyện và làm việc". Chính từ việc chiêm niệm, làm nảy sinh tương quan tình bạn với Chúa nơi chúng ta.

Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc nhớ chúng ta rằng: Chúa có nhiều điều để nói với chúng ta nhiều hơn chúng ta nghĩ. Vậy, hãy tìm kiếm, những khoảnh khắc của sự thinh lặng và bình an đến gặp Chúa Giêsu, và với Chúa, chúng ta gặp được chính mình. Chúa Giêsu Kitô mời gọi chúng ta phải chọn "phần tốt nhất" (Lc 10,42). (Trích thông điệp: Giáo Hội sống từ Thánh Thể).

Lạy Mẹ Maria, Mẹ của sự lắng nghe và phục vụ, xin dậy chúng con suy niệm trong lòng Lời của Chúa Giêsu Con Mẹ và cầu nguyện với lòng trung thành, để luôn chú ý tới các nhu cầu của tha nhân cách cụ thể hơn. Amen.

 

12. Phần tốt nhất--Lm Antôn Nguyễn Văn Độ

Khung cảnh gia đình

Bước vào Chúa nhật XVI thường niên C, thánh sử Luca thuật lại cho chúng ta chuyện gia đình của Matta và Maria. Gia đình hai cô hàng ngày ra sao chúng ta không hay biết, chỉ khi cô chị Matta rước Chúa Giêsu vào nhà và tất bật làm cơm thiết đãi Chúa, còn cô em thì ngồi bên chân nghe Chúa và nghe lời Người chúng ta mới có chuyện (Lc 10,38-42). Gia đình Matta và Maria còn có cậu em trai là Lazarô không thấy nói tới.

Chúng ta thử tưởng tượng quang cảnh diễn ra trong nhà: người chị chạy lên chạy xuống, còn người em ra như bị lôi cuốn vào việc chuyện trò với Khách. Một lúc sau, người chị Matta, chắc cảm thấy mệt nhọc, nên đã đứng lại và lên tiếng nói với vị Khách: "Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình, mà không quan tâm sao sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với?" Xem ra cô chị Matta không những bất bình với cô em là Maria mà còn cả với Khách mời nữa. Nhưng Chúa Giêsu bình tĩnh đáp lại: "Matta, Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất" (10,41-42).

Thái độ cần phải có

Chính câu nói này của Chúa Giêsu làm nảy sinh những khuynh hướng khác nhau. Có người cảm thấy tiếc cho Matta, vì Maria đã bỏ mặc tất cả mọi công việc cho Matta, trong lúc cô ta vui hưởng cuộc nói chuyện với Chúa Giêsu, khi Matta đến phàn nàn, Chúa Giêsu lại nói: "Matta, Matta con lo lắng nhiều chuyện, Maria đã chọn phần tốt nhất". Vậy là việc cô làm chưa phải là tốt nhất.

Khuynh hướng khác cho rằng, Chúa Giêsu không có ý phê phán thái độ hiếu khách của Matta khi Ngài nêu bật hành vi của Maria "ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người." Tuy nhiên, khi phải chọn lựa thì Chúa Giêsu vẫn thích người "nghe" lời Người hơn là loay hoay chuyện rót nước, dọn cơm... Ngài cũng cho biết đây là "phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy mất. "

Hẳn Chúa Giêsu không làm một cuộc so sánh về hai thái độ: một của Matta tất bật với việc tiếp đãi Khách, và một của Maria ngồi bên chân Khách để trò chuyện. Trong thực tế, cả hai thái độ này đều cần thiết: tinh thần hiếu khách được biểu lộ cụ thể và tích cực qua việc chuẩn bị bữa ăn, nhưng cũng được thể hiện không kém qua sự hàn huyên tâm sự. Chúa Giêsu đề cao thái độ của Maria, nhưng không hề giảm thái độ của Matta. Chúa không chê hoạt động, lại càng không trách sự tiếp đón quảng đại, Ngài chỉ muốn mượn hình ảnh của Maria đang ngồi dưới chân Ngài để nói lên thái độ cơ bản con người phải có đối với Thiên Chúa, đó là thái độ lắng nghe lời Chúa. Lời Chúa thì vững bền và mang lại ý nghĩa cho các hoạt động hằng ngày của chúng ta.

Gương của Matta và Maria

Matta và Maria trong Tin Mừng hôm nay nêu gương cho chúng ta và bảo chúng ta rằng nhân đức không chỉ có một mặt, vì trong việc tông đồ, người này làm việc tích cực, hết sức mình, người kia quan tâm đến việc rao giảng Lời Chúa. Nếu sự quan tâm này kết hợp sâu xa với đức tin, thì sẽ rất tốt cho công việc: “Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Chúng ta cũng thế, chúng ta cần phải cố gắng, để có được điều mà không ai có thể lấy mất được, nên cần phải lằng nghe. Lắng nghe ở đây không phải là đãng trí, nhưng là chú ý; vì ngay cả hạt giống lời Chúa từ trời xuống cũng bị lấy mất, nếu hạt giống đó gieo bên vệ đường, không được gieo vào đất tốt, tức là nghe những không được đón nhận (Lc 8, 5.12)

Lắng nghe lời Chúa như cô Maria là khôn ngoan, vì đây là việc làm cao cả và hoàn hảo nhất. Lo lắng phục vụ là cần thiết, nhưng làm sao để những lo lắng phục vụ không cản trở ta đón nhận Lời Chúa từ trời xuống. Hãy khoan đừng có chỉ chích phê bình hay kết án những sự nhàn rỗi, những người mà chúng ta sẽ thấy họ làm việc tất bật để có được sự khôn ngoan, như Salomon, một con người hiền hòa, đã nài xin Chúa gửi Đức khôn ngoan của Ngài tới cự ngụ nơi nhà ông, khi thưa: "Lạy Chúa, xin gửi Đức không ngoan Ngài tới, để phù trì và đồng lao cộng khổ với con" (Kn 9, 10). Tuy nhiên đấy không phải là lời trách móc những việc Matta làm: Maria được Đức Giêsu thích hơn vì Maria đã chọn phần tốt nhất. Đức Giêsu là Đấng giầu có, và Ngài trao ban cho cả hai cô Matta và Maria cách quảng đại; Maria là người nữ khôn ngoan, vì cô biết nhận ra và chọn lựa điều quan trọng nhất.

Các Tông Đồ cũng cho rằng: "Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải” (Tđcv 6,2). Khi đứng giữa hai điều, một là rao giảng Lời Chúa, hai là phục vụ, tất cả đểu là việc khôn ngoan: Stéphanô cùng với Philipphê, Pơrôkhôrô, Nicano, Timôn, Pácmêna và ông Nicôla, đã chọn việc phục vụ, với tư cách là thầy phó tế, và các ngài đã hoàn thành cách thật khôn ngoan (Tđcv 6,5.8)... Như thế, Giáo hội là một thân thể, các bộ phận tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể: "Vậy mắt không có thể bảo tay: "Tao không cần đến mày"; đầu cũng không thể bảo hai chân: "Tao không cần chúng mày". (1 Cr 12, 21)... Nếu có một vài chi thể quan trọng nhất, thì các bộ phận khác cũng không kém phần quan trọng. Sự khôn ngoan ở trong đầu, còn hoạt động thể hiện nơi những bàn tay.

Lời Chúa trong cuộc đời

Sống trong một thế giới đang đánh mất dần ý thức về thần linh, trong một thế giới đề cao quá mức những thực tại vật chất. Người Kitô hữu phải lấy việc lắng nghe Lời Chúa là điều quan trọng nhất. Chúng ta có thể lắng nghe tiếng Ngài, bằng cách suy niệm Kinh Thánh với đức tin, bằng cách tĩnh tâm cầu nguyện riêng cá nhân cũng như cộng đoàn, bằng việc im lặng mặc niệm trước Thánh Thể; từ Nhà Tạm, Chúa Kitô nói với chúng ta về tình yêu của Người. Đặc biệt vào ngày Chúa Nhật, những người kitô được mời gọi đến gặp gỡ và lắng nghe Chúa. Điều này được thực hiện cách trọn vẹn, nhờ qua việc tham dự vào Thánh Lễ, trong đó Chúa Kitô dọn ra cho các tín hữu bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Bánh ban sự sống. Tuy nhiên, những giây phút cầu nguyện và suy tư, những giây phút nghỉ ngơi và sống tình huynh đệ, cũng có thể góp phần hữu ích vào việc thánh hóa ngày của Chúa.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ đã chọn phần tuyệt hảo là lắng nghe và tuân giữ lời Chúa, xin Mẹ giúp chúng con gắn bó cùng Chúa cho đến trọn đời. Amen.

 

13. Chỉ một chuyện cần mà thôi--Lm Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1. Ý CHÍNH: Câu chuyện trong Tin mừng hôm nay có 3 nhân vật chính: Đức Giê-su và hai chị em Mác-ta Ma-ri-a. Hai chị em này phục vụ Chúa mỗi người một cách: Mác-ta thì bận rộn lo việc cơm nước, đang khi Ma-ri-a lại ngồi bên chân Chúa và nghe Lời Người. Mác-ta khó chịu với em và xin Chúa can thiệp bảo Ma-ri-a giúp đỡ mình. Nhưng Người lại cho biết việc nghe Lời Chúa mà Ma-ri-a đang làm mới là điều quan trọng và cần thiết hơn cả.

3. CHÚ THÍCH:

- C 38-39: + Trong khi Thầy trò đi đường vào làng kia: Đức Giê-su vào làng Bê-ta-ni-a, cách Thủ đô Giê-ru-sa-lem 3 cây số. + Có một người phụ nữ tên là Mác-ta: Đây là chị cả trong một gia đình có ba chị em. Mác-ta chưa lập gia đình, vì nếu đã có chồng thì người chồng đã đứng ra tiếp đón Đức Giê-su. Là chị cả nên Mác-ta phải đảm đương mọi việc. Bà lo dọn bữa ăn phục vụ Đức Giê-su và các môn đệ. + Đón Người vào nhà: Người Do thái vốn hiếu khách. Đức Giê-su không những là khách mà còn là bạn thân của gia đình (x. Ga 11,5). Thái độ tiếp đón này trái với thái độ dân làng Sa-ma-ri trước đó đã từ chối không đón tiếp Người (x. Lc 9,53). Trong thời điểm những ngày cuối đời, việc đón tiếp Đức Giê-su của Mác-ta còn là hành động can đảm. Vì Người khi ấy đang bị các đầu mục Do thái nghi kỵ theo dõi, và ai đón tiếp Người có thể bị coi là đồng đảng và có thể bị khai trừ khỏi hội đường nữa (x. Ga 9,22; 12,10.42). + Người em gái tên là Ma-ri-a: Đây là Ma-ri-a làng Bê-ta-ni-a, khác với Ma-ri-a làng Mác-đa-la (x. Lc 8,2), cũng không phải là Ma-ri-a thân mẫu Gia-cô-bê và Giô-sép (x. Mt 27,56), không phải Ma-ri-a mẹ của Gio-an (x. Cv 12,12). Cô Ma-ri-a là em của Mác-ta, là chị của La-da-rô. Chính cô đã hy sinh bình dầu đắt tiền để xức chân Đức Giê-su (x Ga 12,3). Cần phân biệt cô Ma-ri-a này với người phụ nữ tội lỗi cũng xức dầu thơm trên chân Đức Giê-su (x Lc 7,38). Cả 3 chị em nhà này đều được Đức Giê-su yêu mến (x. Ga 11,5). + Ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người dạy: Trong Lu-ca, ngồi dưới chân là thái độ của người môn đệ (x. Lc 8,35; Cv 22,3)

- C 40-42: + Em con để mình con phục vụ...: Mác-ta luôn tỏ ra quí mến Đức Giê-su và quan tâm phục vụ Người (x. Ga 12,2). Cô không hài lòng khi thấy cô em Ma-ri-a nhàn nhã ngồi bên và lắng nghe lời Thầy đang khi cô phải vất vả lo dọn bữa ăn cho Người. Do đó cô đã yêu cầu Đức Giê-su cho Ma-ri-a xuống bếp giúp cô một tay. + Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi: Chuyện cần thiết duy nhất này là gì? Đó là điều cô em Ma-ri-a đang làm: "Ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy". Đức Giê-su không đánh giá thấp việc nội trợ bếp núc của Mác-ta. Nhưng việc tìm biết thánh ý Thiên Chúa lại là điều duy nhất cần thiết. Hơn nữa, Lời Chúa là của ăn tinh thần nên có giá trị cao hơn của ăn vật chất như Người đã nói: "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh" (Lc 4,4) và "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy" (Ga 4,34).

4. CÂU HỎI: 1) Tin mừng đã kể ra mấy phụ nữ tên Ma-ri-a và các bà này liên quan thế nào với Đức Giê-su? 2) Có mấy người phụ nữ đã xức dầu thơm cho chân Đức Giê-su? 3) Đức Giê-su đã cho biết quan điểm thế nào giữa hai việc làm phục vụ Người: Một là việc phục vụ bàn ăn của Mác-ta và hai là việc ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người của Ma-ri-a?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: "Cô Ma-ri-a cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người dạy. Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ" (Lc 10,39-40).

2. CÂU CHUYỆN: Giá trị của cầu nguyện.

PHÊ-ĐÊ-RIC Ô-DA-NAM (Federic Ozanam), một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo hội Pháp vào cuối thế kỷ 19, khi đang là sinh viên đại học đã trải qua một cơn khủng hoảng về đức tin. Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh vào một ngôi thánh đường ở Pa-ri. Từ cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện ở hàng ghế đầu gần gian cung thánh. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra đó không ai khác hơn là nhà bác học Ăm-pe (Ampère), giáo sư của anh, một nhân vật nổi tiếng lúc bấy giờ. Anh đứng lặng lẽ một hồi để quan sát nhà bác học khi ấy đang cầu nguyện rất sốt sắng. Sau đó, anh theo gót thầy trở về phòng làm việc của ông. Thấy chàng sinh viên đứng thập thò ngòai cửa, nhà bác học liền mở lời hỏi: "Này anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp gì được cho anh đây?" Chàng thanh niên nhỏ nhẹ thưa: "Thưa giáo sư, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm. Hôm nay con xin hỏi thầy một vấn đề về đức tin!" Nhà bác học mỉm cười khiêm tốn đáp: "Anh lầm rồi. Đức tin là môn yếu nhất của tôi đấy. Nhưng nếu giúp được anh điều gì thì tôi cũng sẵn sàng". Chàng sinh viên liền hỏi: "Thưa giáo sư, người ta có thể vừa là một nhà bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu đạo đức chuyên cần cầu nguyện hay không?" Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của anh học trò. Sau một lát im lặng, ông trả lời bằng một giọng run run đầy cảm xúc: "Con ơi! Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!".

3. SUY NIỆM:

1) Về hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a: Câu chuyện được Lu-ca đặt trong cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su (c 38). Làng Bê-ta-ni-a là một trong những nơi Đức Giê-su đi ngang qua trong cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa (x Lc 13,22). Chính trong ngôi nhà của ba chị em Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô này mà Đức Giê-su sẽ cho biết thái độ nào cần thiết để đón nhận được Tin Mừng Nước Thiên Chúa ấy.

- "Thầy chẳng quan tâm": Mác-ta đã tỏ thái độ bất mãn trước sự thờ ơ của Đức Giê-su và của cô em Ma-ri-a khi để mặc cô phải làm bữa một mình. Cô nhờ Đức Giê-su nhắc Ma-ri-a giúp cô. Trong câu trả lời, Đức Giê-su cho biết đâu là thái độ Người muốn (c 41). Đức Giê-su không bác bỏ việc vất vả làm bữa phục vụ của Mác-ta, nhưng Người muốn cô nhận biết đâu mới là việc tốt nhất và cần thiết để có được Nước Thiên Chúa làm phần sản nghiệp của mình. Khi nhận xét về thái độ của Mác-ta, Đức Giê-su dùng từ "nhiều chuyện", nghĩa là quá lo lắng về việc phục vụ bữa ăn cho Người.

- "Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi": Đức Giê-su không chê trách thái độ phục vụ của cô chị Mác-ta, vì đó là dấu chỉ lòng mến cô đã dành cho Người. Tuy nhiên, qua thái độ của cô em Ma-ri-a, Đức Giê-su nhìn thấy một tâm tình cao đẹp hơn. Đó là lắng nghe lời Chúa, đặt Chúa làm trung tâm cuộc đời của mình. Ở đây, Đức Giê-su muốn dùng Ma-ri-a làm mẫu gương cho các tín hữu chúng ta. Tuy đang sống giữa trần gian, phải tất bật lo tìm kiếm cái ăn cái mặc giống như cô Mác-ta, nhưng chúng ta cũng phải biết dành ra thời giờ để cầu nguyện, bằng việc lắng nghe lời Chúa và tâm sự với Người noi gương cô Ma-ri-a.

2) Về sự cầu nguyện trong cuộc đời người tín hữu:

- Gương sáng về sự cầu nguyện: Nhân vật thứ nhất là AM-PE, tên đầy đủ là André-Marie Ampère (1775–1836), một nhà vật lý lừng danh người Pháp, đã để lại nhiều thành quả nghiên cứu khoa học về điện học, nam châm điện... ang lại nhiều ích lợi cho nền văn minh nhân loại. Thế nhưng, Am-pe không coi những thành quả đó là lớn lao khi nói rằng: "Chúng ta chỉ vĩ đại khi cầu nguyện mà thôi". Nhân vật thừ hai là Mẹ Tê-rê-sa thành Can-quýt-ta, một vị nữ tu thánh thiện sồng giữa đời thường. Mỗi ngày trước khi bước xuống "địa ngục Can-quýt-ta" để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đến "nhà hấp hối" để an ủi những kẻ đau liệt, Mẹ Tê-rê-sa đều cùng các chị em nữ tu trong nhà quì chầu Thánh Thể tại nhà nguyện một giờ đồng hồ.

- Ích lợi của sự cầu nguyện: Ngày nay, trong một thế giới thực dụng, coi trọng hiệu quả vật chất bề ngoài, Hội thánh đang có nhiều Mác-ta và có rất ít Ma-ri-a. Nhiều người đã coi việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện là xa xỉ phẩm, là mất thời giờ vô ích, là thái độ ù lì thụ động. Nhưng thực ra có hành động nào hiệu quả bằng nghe và thực hành Lời Chúa? Hoạt động tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với tha nhân. Vậy tại sao chúng ta lại không múc đầy tình yêu nơi Thánh Tâm Chúa là suối nguồn yêu thương vô tận. Cho dù hoạt động truyền giáo, từ thiện bác ái, hay sinh hoạt hàng ngày, chúng ta cũng đừng quên "chọn phần tốt nhất" này. Hãy nhớ Lời Chúa: "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).

- Sự cần thiết phải cầu nguyện: Đôi tay của cô Mác-ta phục vụ bữa ăn cho Đức Giê-su là việc làm quan trọng và không thể thiếu để phục vụ Chúa về phần thể xác. Nhưng đôi chân quì bên Chúa và đôi tai lắng nghe Lời Người của cô Ma-ri-a lại quan trọng và cần thiết hơn vì nó mang lại sự sống đời đời như lời Đức Giê-su trong Tin Mừng hôm nay (x Lc 10,42).

- Tập cầu nguyện ngay khi đang làm việc: Một Hội thánh sẽ trở nên quân bình khi có cả Mác-ta và Ma-ri-a. Một tín hữu sẽ quân bình khi vừa chu tòan các việc bác ái tông đồ phục vụ Chúa và tha nhân, nhưng đồng thời còn phải luôn sống cầu nguyện hiệp thông với Người. Đừng đợi tới khi rảnh việc mới đến gặp Chúa, vì chính khi đang bận rộn làm việc lại là lúc chúng ta cần tới sự nâng đỡ của Chúa hơn cả.

TÓM LẠI: Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta thống nhất đời sống: Trong một ngày, chúng ta thường chỉ dành một ít giờ phút cho việc cầu nguyện dâng lễ, còn phần lớn thời gian còn lại, chúng ta dành cho các sinh hoạt khác. Dù vậy, chúng ta vẫn có thể biến mọi sinh hoạt đời thường như: ăn uống, ngủ nghỉ, học tập, làm việc... kia trở thành một lời cầu nguyện liên lỉ, bằng việc dâng ngày mỗi buổi sáng khi vừa thức giấc, bằng những lời nguyện tắt dâng lên Chúa trước mỗi công việc... Nhờ đó, chúng ta sẽ biến những việc làm ấy trở thành lễ vật hy sinh, kết hiệp với lễ vật cao trọng là Mình Máu Chúa Giê-su đang được dâng trên các bàn thờ mỗi ngày. Nhờ đó chúng ta mới có sự sống đời đời như lời Chúa dạy.

4. THẢO LUẬN: 1) Qua Lời Chúa dạy hôm nay, bạn thấy cầu nguyện có cần thiết không? Mỗi ngày bạn thường cầu nguyện vào những lúc nào? Bạn thường cầu nguyện bằng cách nào? 2) Noi gương cô Ma-ri-a, có bao giờ bạn cầu nguyện bằng cách đọc một đoạn Tin mừng, sau đó suy nghĩ và cầu nguyện dựa theo ý tưởng mà Lời Chúa gợi ra hay không? 3) Bạn có thể dùng cách nào để biến các việc làm hằng ngày trở thành lời cầu nguyện liên lỉ dâng len Thiên Chúa không?

5. NGUYỆN CẦU

- Lạy Chúa Giêsu, Khi con bị bao vây bởi những tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng bên Chúa. Khi con vất vả với trăm công nghìn việc, xin cho con biết quý trọng những lúc được an nghỉ bên Chúa. Khi con bị kéo ghì bởi những đam mê dục vọng, xin cho con được ơn giải thoát và bay lên cao nhờ biết kêu cầu Danh Chúa.

- Lạy Chúa, Ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả cuộc sống của con, để chúng con có thể cầu nguyện không ngừng trong cuộc sống hằng ngày như lời thánh Phao-lô đã dạy: "Vậy, dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa" (1 Cr 10,31).

X) Hiệp cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

 

14. Chỉ có một điều cần—Lm G. Nguyễn Cao Luật, OP

Đón tiếp

Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu ghé vào nhà một người quen. Hai chị em Mácta và Maria đón tiếp Đức Giêsu, nhưng mỗi người một cách. Thái độ của Maria đúng là thái độ của các môn đệ trước Thầy mình (Lc 8,35; Cv 22,3; Lc 7,38; 8,41; 17,16). Đó cũng là bổn phận đầu tiên của người môn đệ đích thực (Lc 6,47; 8,43; 15,21). Trong khi đó, Mácta lăng xăng lo tiếp đón: là chủ nhà, cô muốn tiếp đón Đức Giêsu cách chu đáo, để bày tỏ lòng kính trọng. Cô đã lấy phương tiện làm mục đích: chú ý nhiều đến việc tiếp đón hơn là thái độ tiếp đón. Người khách đến nhà chỉ là cái cớ để cô tỏ hiện, làm nổi lên cách sắp xếp công việc của mình. Ở đây, có thể nói thêm rằng đó chính là cách thế duy nhất mà xã hội nhường cho người phụ nữ để họ tự khẳng định chính mình.

Chính vì ý nghĩ ấy, cô không thể hiểu được thái độ vô vi của cô em, vì cô này không chịu tham gia vào công việc người chị đang quan tâm. Đàng sau phản ứng này, người ta có thể nhìn thấy một thái độ nhằm lôi kéo sự chú ý của người khác. Mácta lên tiếng nhằm hướng sự chú ý của Đức Giêsu vào vũ trụ của mình, vào thế giới đóng kín của mình mà dường như Đức Giêsu không quan tâm. Đức Giêsu đang ở trong nhà của cô, nhưng lại không nói điều gì với cô. Do đó, không hẳn cô chỉ mong muốn cô em đứng dậy, không ngồi bên cạnh Đức Giêsu nữa, mà đứng dậy, lo dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị bữa ăn. Cô quá chắc chắn về phán đoán của mình, đến nỗi đã nói với giọng điệu trách móc, và cô nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ ủng hộ ý kiến của mình. Cô đòi một thứ quân bình: cô đang cô độc, và cô mong muốn cô em phải chia sẻ tình trạng ấy của mình.

Đúng ra là được tiếp đón

Nhưng Mácta đã lầm. Đức Giêsu đã không bảo Maria đi giúp Mácta, mà lại còn cho thấy việc làmcủa Maria là đúng: "Mácta, Mácta ơi! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi." Thế đấy, cái vất vả lăng xăng của Mácta từ nãy đến giờ, tưởng rằng có giá trị thì lại thua kém thái độ yên lặng của Maria. Lời nói nhẹ nhàng nhưng đầy trách móc của Đức Giêsu có thể làm Mácta hờn dỗi, buồn phiền. Thật ra, những lời này chỉ có thể hiểu được khi đặt vào trong tương quan mật thiết với chủ đề Tin Mừng Lên Đường - Lên đường đi Giê-ru-sa-lem, lên đường tìm Nước Thiên Chúa, lên đường hướng về Nước Trời.

Khi quở trách Mácta lo lắng xôn xao nhiều chuyện, Đức Giêsu lấy lại đề tài đã được trình bày nhiều lần trong các bài giảng dạy của Người về sự lo lắng: lo lắng bênh vực khi bị bắt (Lc 12,11; Mt 10,19), lo lắng về của ăn áo mặc (Lc 12,22-26; Mt 6,25-34), lo âu làm chết ngạt hạt giống Lời Chúa (Lc 8,14; Mt 13,22; Mc 4,19) và lòng trí nặng nề (Lc 21,34). Sự lo lắng ấy bị lên án vì làm tín hữu quên mất điều chính yếu: tuyên xưng đức tin vào Con Người (Lc 12,7-9), tìm kiếm Nước Thiên Chúa (Lc 12,31), đón nhận Lời (Lc 8,11-15), trông đợi ngày của Con Người (Lc 21,34-36).

Tuy thế, điều quan trọng không phải là việc Đức Giêsu quở trách thái độ ghen tị của Mácta, hay kiểu tiếp khách không lịch sự của cô. Không phải vấn đề lịch sự (cách thức), và còn hơn cả sự ân cần (tấm lòng), mà chính là một tương quan cứu độ. Không phải là vấn đề có phục vụ Chúa hết mình không, nhưng là có để cho Chúa phục vụ mình không, có lắng nghe được tiếng Chúa mời mọc, có được đón nhận trong tình yêu thương của Người không. Trong việc tiếp đón này, có một sự trao đổi ý nghĩa, người tiếp đón trở nên được tiếp đón, người phục vụ trở nên được phục vụ, bởi vì "Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và đổ máu ra làm giá cứu chuộc cho muôn người."

Trong việc tiếp đón này, không được tự hào vì mình đã cho điều gì quý giá, nhưng là cảm ơn vì điều mình đã nhận còn quý giá hơn nhiều. Đó có thể là mối liên hệ ngọt ngào giữa con người với nhau, đó có thể là tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, đó có thể là... nhưng nói chung, đó chính là ân sủng tình yêu và cứu độ của Thiên Chúa.

Nói thế, không có nghĩa là Đức Giêsu coi thường việc tiếp đón có tính cách vật chất, nhưng nồng hậu của Mácta, nhưng Người muốn xếp lại giá trị, mà quan trọng nhất là lắng nghe Lời Chúa như Maria đã làm.

Phần tốt nhất

"Maria đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi." Phải chăng Đức Giêsu muốn đề cao đời sống chiêm niệm hơn là đời sống hoạt động? Có người muốn giải thích câu Tin Mừng này theo nghĩa này. Tác giả Tin Mừng không có ý đó, và người đọc cũng không nên phân biệt như thế.

Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng giải thích cách đơn giản: "Tôi biết rằng nếu những bông hoa nhỏ muốn trở thành những bông hồng, thì thiên nhiên sẽ chẳng còn vẻ huy hoàng... Tôi hiểu rằng Thiên Chúa bày tỏ cho người đơn sơ cũng như cho những tâm hồn cao cả."

Trong một thế giới mà đời sống được đồng hóa với sự hiệu năng, làm được coi như vượt lên trên hiện diện. Người ta xét đoán nhau dựa trên việc làm hơn là sự có mặt. Người ta không thể hiểu nổi tại sao có nhiều bạn trẻ ở bên nhau, nói với nhau, lắng nghe nhau. Chuyện gì mà nhiều vậy?

Như vậy, phần tốt nhất, đích thực nhất là để cho Thiên Chúa đón tiếp, để cho người khác bày tỏ mình. Không hẳn chỉ là làm việc, nhưng còn là đón nhận, là sống với người khác.

Đàng khác, cũng có thể áp dụng bài Tin Mừng vào trong đời sống đạo của chúng ta. Phản ứng tự nhiên của Mácta thường cũng là phản ứng của chúng ta. Chúng ta tìm cách làm tăng giá trị của mình trước mặt người khác bằng cách phô bày những hành động của mình. Một lần nào đó, chúng ta cố gắng làm cho mình nổi bật bằng việc phục vụ Chúa để rồi nghĩ rằng mình hơn người khác và người khác phải noi gương ghen tương trong thái độ cư xử: chúng ta sợ Chúa để ý đến người khác mà quên để ý đến chúng ta: chúng ta muốn kéo Chúa về phía mình. Chúa đâu tầm thường vậy, Người thấy hết và hiểu hết, đồng thời Người yêu thương tất cả mọi người.

Dầu sao, bài Tin Mừng này vẫn muốn cho ta hiểu rằng:chỉ có một điều cần, một điều cấp thiết là: lắng nghe Lời Chúa. Lắng nghe Chúa và để Chúa tiếp đón; đó là phần tuyệt hảo, không có gì sánh bằng.

Lạy Chúa, Chúa yêu thương chúng con trước khi chúng con yêu mến Chúa.

Buổi sáng, ngay khi thức dậy, con hướng tâm hồn lên cùng Chúa và cầu nguyện, thì Chúa đã có đó và đã yêu thương con.

Khi con bỏ cuộc vui chơi giải trí và lắng tâm hồn lại, để nghĩ đến Chúa, thì Chúa đã yêu thương con rồi.

Theo S. Kierkegaard.

 

15. Phục vụ

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về những thái độ của Macta và Maria. Trước hết là thái độ bận rộn và lắng nghe.

Thái độ của Macta là thái độ bận rộn, vồn vã để tiếp đãi Chúa Giêsu cho thật thịnh soạn, chứng tỏ một tấm lòng hiếu khách. Còn Maria thì lại biểu lộ cũng tâm tình ấy bằng cách ngồi dưới chân Chúa mà lắng nghe lời Người. Hai thái độ, nhưng cùng chung một tâm tình, cùng chung một đối tượng. Chỉ có điều là Chúa Giêsu đã từng coi những mối bận rộn là như một bụi gai làm nghẹt sức sống của Lời Chúa, hay có thể biến thành một ông chủ thống trị trong trái tim con người, chống lại chính Thiên Chúa tình thương, hoặc tệ hơn nữa là làm cho lòng con người ra nặng nề, đến độ không còn nhạy bén để đón chớ Chúa đến.

Trong khi Lời Chúa mà Maria đã chọn để lắng nghe là một ưu tiên tuyệt đối. Được coi là mẹ và anh em thật của Chúa Giêsu chính là những ai nghe và tuân giữ Lời Chúa. Khi quá bận rộn vì vừa phải lo phục vụ vật chất, lại vừa phải rao giảng trong cộng đoàn, các tông đồ đã ưu tiên chọn việc rao giảng Lời Chúa.

Tiếp đến là ý mình và ý khách. Macta đón tiếp Chúa Giêsu là để thiết đãi Người theo sở thích của cô, như một bà chủ nhà có dịp trổ tài nội trợ và bày tỏ tấm lòng hiếu khách, mà chả cần hiểu khách đang mong đợi điều gì. Trong thâm tâm của bà chủ nhà đó, niềm vui không phải là vì người khách, nhưng là vì tự mãn, tự thấy mình tài khéo và đức độ.

Điểm khác biệt còn rõ nét hơn nữa trong thái độ của Macta so sánh với tinh thần của Chúa Giêsu, và đã bắt Người phải can thiệp, chính là vì cô đã đánh giá, và đã lên tiếng phiền trách Maria và cả Chúa Giêsu sao lại không thấy việc cô làm mới là đúng, mới là quan trọng. Cô như muốn nói với Chúa Giêsu: Thưa Thầy, Thầy không thấy rằng em tôi để mặc tôi một mình lo phục vụ là sai quấy hay sao? Xin Thầy bảo nó giúp tôi với.

Thực ra vẫn có những cách tiếp đón làm cho chúng ta không còn gặp gỡ được Chúa Giêsu và tha nhân. Chẳng hạn Giáo Hội Do Thái thời đó với những chuyên viên về tôn giáo, với những tín đồ sùng mộ, lại đang thiết tha mong đợi Đấng Cứu Thế, nhưng họ đã không gặp được Người suốt hơn ba mươi năm trời Người sống giữa họ. Chẳng hạn hai môn đệ trên đường về Emmaus đã cùng đi với Người cả một ngày đàng mà vẫn không gặp gỡ được con người thật của Người. Phải chăng vì trong những trường hợp đó, mặc dù hình ảnh Chúa đang chiếm ngự tâm hồn họ, nhưng lại là hình ảnh do họ tư vẽ ra theo những ước vọng của bản thân họ mà thôi.

Điều kiện và quy luật cho mọi cuộc gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa, đó là phải từ bỏ chính bản thân mình, để ngồi dưới chân Chúa, và lắng nghe Lời Người như Maria ngày xưa.

 

16. Phần tuyệt hảo.

Có một thời người ta đã dựa vào đoạn Tin Mừng này để đề cao đời sống chiêm niệm, như là phần tối hảo mà Maria đã khôn ngoan giành lấy cho mình. Còn đời sống bôn chôn hoạt động của Mát-ta là phần ít giá trị hơn. Thực ra Chúa Giêsu không thể bênh vực cho thứ chiêm niệm lười lĩnh cũng như thứ hành động múa may. Điều Ngài đòi hỏi là lắng nghe và thực thi lời Chúa.

Ngày kia, có lẽ bất ngờ, Chúa Giêsu đến thăm viếng gia đình ba chị em Mát-ta, Maria và Lagiarô. Đối với người Do Thái, thì được tiếp đón một người khách đến thăm là một ơn huệ Chúa ban và cũng là dịp để tưởng niệm cuộc xuất hành của dân Chúa trên đường tiến tới miền đất Hứa. Việc đón tiếp khách được tổ chức một cách tỉ mỉ và ân cần. Khách vào nhà được rửa chân vì đi đường bụi bậm. Thường thì người nhỏ nhất trong nhà có phận sự rửa chân cho khách.

Trong đoạn Tin Mừng này, chúng ta có một vài dấu hiệu cho biết Maria là người được phân công rửa chân cho khách. Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu và xem ra Maria cũng đóng vai trò tiếp chuyện khách. Bà ngồi bên chân Chúa để lắng nghe lời Ngài. Trong khi đó Mát-ta nắm giữ địa vị của một người nội trợ bận rộn với công việc bếp núc. Bà muốn cho việc tiếp đón phải thật chu đáo. Nhưng Chúa Giêsu thì lại nghĩ khác. Việc đón tiếp chu đáo và đúng nghĩa nhất đối với Ngài là đón nghe lời Ngài. Còn tất cả chỉ là phụ thuộc. Mát-ta đã bị Chúa quở trách vì bà đã quá chú trọng vào những cái phụ thuộc, để mình chìm nghỉm trong mọi thứ công việc khiến không còn thời giờ và sức lực để nghe và đón nhận lời Ngài. Người khách như Chúa Giêsu đến với gia đình Bêtania, hẳn không phải là để được hạ, tiếp rước, mà là để ban phát, để thiết tiệc lời hằng sống. Do đó ưu tiên số một không phải là việc cho Ngài ăn gì, uống gì mà là lắng nghe lời Ngài vì của ăn đích thực của Ngài là rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

Chúng ta còn nhớ một lần kia bên bờ giếng Giacóp, Ngài đã xác quyết: Của ăn của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta. Và ý của Đấng đã sai Ngài chính là việc rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Vì thế, những ai muốn theo Ngài, cũng phải lắng nghe và thực hiện những lời Ngài truyền dạy.

Vào một dịp lễ trọng như lễ Chúa Giêsu chẳng hạn, cả giáo xứ để hết tâm trí vào việc dọn dẹp và trang trí nhà thờ, làm hang đá, treo đèn kết hoa, khiến cho không còn thời giờ, không còn lòng trí để tìm hiểu và đào sâu ý nghĩa của việc Con Thiên Chúa làm người. Giáo xứ ấy đã đi theo vết chân của Mát-ta và bỏ mất phần tối hảo.

Bởi đó chúng ta đã kiểm điểm đời sống xem chúng ta đã thực sự đầu tư một cách đầy đủ cho điều chính yếu, là lắng nghe và thực thi lời Chúa, hay vẫn còn đang lẩn quẩn ở những vòng ngoài, ở những cái phụ thuộc.

 

17. Hóa thánh ngày Chúa Nhật--Lm Joshepus Quang Nguyễn

THI HÀNH LÒNG THƯƠNG XÓT

ĐỂ NGÀY CHÚA NHẬT HÓA THÁNH

Điều răn thứ ba của Mười Điều Răn dạy rằng giữ ngày Chúa nhật, tức là thánh hóa ngày Chúa nhật. Vì sao phải thánh hóa ngày này? Vì chưng, Thánh Kinh Cựu Ước dạy “Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh” (Xh 20,11). Thánh Kinh còn dạy trong ngày này, Dân Chúa tưởng nhớ biến cố giải phóng dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai Cập. Cho nên, Thiên Chúa ban cho Ít-ra-en ngày sa-bát, để họ tuân giữ như một dấu chỉ giao ước vững bền (x. Xh 31,16 ). Ngày sa-bát được hiến dâng cho Thiên Chúa, là ngày thánh dành để chúc tụng Thiên Chúa, ca ngợi công trình sáng tạo và những kỳ công Người đã thực hiện để cứu Ít-ra-en. Cho nên, Lời Chúa dạy: “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã ngưng các việc và nghỉ ngơi” (Xh 31,17), thì con người cũng phải “ngưng làm việc” để những người khác, nhất là kẻ nghèo “lấy lại sức” (Xh 23,12).

Sang Tân Ước, Chúa Giê-su đã sống lại vào “ngày thứ nhất trong tuần” (Lc 24,1), ngày phục sinh của Đức Ki-tô. Vì là “ngày thứ nhất” nên nhắc đến cuộc sáng tạo đầu tiên; “ngày thứ tám” liền sau ngày Sa-bát (Mc 16,1), nên mang ý nghĩa một công trình sáng tạo mới đã được khai mở với biến cố Đức Ki-tô phục sinh. Đối với các Ki-tô hữu, đây là ngày thứ nhất của mọi ngày, ngày lễ quan trọng nhất trong các lễ, ngày của Chúa, ngày Chúa nhật.

Vì vậy, để ngày Chúa nhật là ngày thánh, ngày nghỉ ngơi đúng nghĩa, Hội Thánh dạy thứ nhất trong ngày này phải cử hành bí tích Thánh thể của Chúa, là trung tâm đời sống của Hội Thánh (GLHTCG, số 21770) và chóp đỉnh, nguồn mạch của đời sống Kitô hữu (LG 11). Thứ hai, phải biết nghỉ ngơi, có nghĩa rằng: “Khi hưởng những giờ nghỉ ngơi, các Kitô hữu nên nhớ đến những anh chị em của mình, những người cùng có một nhu cầu và quyền lợi như mình nhưng họ không thể nghỉ ngơi vì nghèo khổ và túng cực. Theo truyền thống đạo đức Kitô giáo, ngày Chúa Nhật được dành riêng để làm việc lành và khiêm tốn phục vụ cho các bệnh nhân, các người khuyết tật và các người già yếu. Các Kitô hữu cũng phải thánh hóa ngày Chúa nhật bằng cách dành thời giờ và sự chăm sóc cho gia đình mình và cho các người lân cận” (GLHTCG, số 2186).

Người Việt Nam thường có câu: “Lời chào cao hơn mân cỗ”. Vì cái tình quý hơn là cái ăn cái mặc. Người ta bị bỏ đói một bữa chẳng sao nhưng sẽ cay đắng cả đời khi bị người đời bỏ rơi, hay bị đối xử ngược đãi và xem thường. Thực vậy, cái qúy giá ở đời là được anh chị em yêu thương, tôn trọng và nhất là luôn được anh chị em chia sẻ, cảm thông, an ủi và giúp đỡ. Cho nên dù cuộc đời có đau khổ, bệnh hoạn hay khuyết tật nhưng được anh chị em đùm bọc, cảm thông, an ủi thì vẫn cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao, làm cho đời người thêm lạc quan, bình an và hạnh phúc.

Vì thế, Lời Chúa hôm nay mô tả hai cuộc viếng thăm của hai người và nhờ cuộc viếng thăm mà họ đã độ được tha nhân là mang niềm vui hạnh phúc và bình an đến cho những người họ được thăm viếng (xin giải thích chữ “Độ” là đưa qua, đưa tới). Cụ thể, bài đọc 1 Sách Sáng Thế kể một người khách đến thăm nhà ông bà Ápraham và Sara. Họ đến để chia sẻ với nhau những đau khổ, nhất là bà Sara đau khổ vì không có con. Cuối cùng người khách đó đã chúc cho bà có con nhờ ơn Chúa, Chúa đã độ đến ông bà là có con trai, ông bà vui mừng hạnh phúc. Rồi, Bài Tin Mừng cũng gợi lại một cuộc viếng thăm đầy tình người mà Chúa Giêsu đã dành cho một gia đình ở Betania. Ngài đã đến với gia đình Matta và Maria nghèo hèn và cuôi cút. Cả hai cô đều vui mừng vì có Chúa viếng thăm. Và Chúa đã độ tới gia đình côi cút này là mang lại được hạnh phúc ấm áp vui tươi vì có Chúa hiện diện, đồng hành sẻ chia nỗi khổ cuôi cút. Nên nhớ rằng Chúa Giêsu đến gia đình này không vì miếng ăn, không đến để được phục vụ nhưng Chúa đến để yêu thương, phục vụ, quan tâm, liên đới, cảm thông và sẻ chia. Cho nên, chỉ có Chúa Giêsu độ cả trần gian.

Cuộc sống hôm nay của chúng ta cũng thật tất bật. Người ta ít có thời giờ để tâm sự, sẻ chia niềm vui, nỗi buồn với nhau và càng ít có thời giờ để viếng thăm nhau và qua lại nhau hay còn gọi là độ tới nhau. Không có tâm sự sẽ không có sự hiểu biết, không độ tới nhau thì làm sao mà cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ yêu thương và cầu nguyện lẫn nhau. Không có những cuộc viếng thăm, an ủi và giúp đỡ, tình người sẽ phôi phai và nhạt nhẽo theo thời gian. Hơn nữa, ngày nay hầu như thiếu vắng các cuộc viếng thăm do con người bị cuốn vào ma lực của tiền bạc, hưởng thụ nhất là thế giới ảo nên thiếu sự đối thoại và như thế nó sẽ làm cho con ngừơi trở nên vô cảm dững dưng và mãi mãi không độ tới nhau. Cho nên, không lạ gì trên mạng xã hội đang nổi lên bài hát đang gây bão “Độ ta, không độ nàng” viết rằng: “Phật ở trên kia cao quá. Mãi mãi không độ tới nàng. Vạn dặm tương tư vì ai. Tiếng mõ vang lên phũ phàng. Chùa này không thấy bóng nàng. Bồ đề chẳng muốn nở hoa. Dòng kinh còn lưu vạn chữ. Bỉ ngạn phủ lên mấy thu”. Còn Chúa Giêsu của chúng ta thì khác, Ngài thì độ hết cả trần hoàn, không chừa một ai cho nên: “Vì lòng yêu thương nhân thế, Chúa đã sinh hạ xuống trần. Vạn dặm yêu thương tha nhân, kiếp sống không còn phủ phàng. Nhà thờ lễ cưới đón nàng. Lòng người bác ái nở hoa. Đồi cao còn in thập giá. Phục sinh bừng lên khắp nơi. Đk: Trời chiều can-vê đẹp quá. Tiếng Chúa rung chuyển núi đồi. Gọi người đi hoang về thôi. Có Chúa giang tay đón chờ. Tội trần nhờ ơn Cứu chuộc, trở lại nguồn suối bình an. Vì yêu độ hết cả trần hoàn.

Vâng, tình yêu đích thực không dừng lại ở đầu môi chóp lưỡi hay ở việc chạnh lòng thương xót mà phải dấn thân để xoa dịu những nỗi đau của đồng loại, để băng bó những thương tích của chị anh em xung quanh ta. Tình yêu đích thực luôn đòi hỏi sự gần gũi, sự cảm thông, thăm viếng và đỡ nâng. Chính nhờ sự gần gũi người ta mới hiểu nhau, thông cảm với nhau, và nâng đỡ cho nhau chân tình hơn. Vì vậy, trong buổi tiếp kiến chung, Đức thánh Cha Phanxicô: “Lòng thương xót không nói suông nhưng là sống. Lòng thương xót không phải là một khái niệm trừu tượng, và theo những lời của Thánh Giacôbê Tông Đồ có thể nói rằng lòng thương xót mà không có việc làm là lòng thương xót chết”. Đây chính là điều Chúa Giêsu muốn ngày của Chúa phải được hóa thánh nơi mỗi người chúng ta hôm nay, một ngày Chúa nhật vừa thánh thiện đối với Chúa vừa độ được cả tha nhân.

Ước gì, qua Lời Chúa hôm nay, xin Chúa cho mỗi người chúng ta hãy biết dành thời giờ cho Chúa qua việc sốt sắng tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật và đặc biệt biết dành thời gian nghỉ ngơi cho mình và cho nhau qua những việc viếng thăm, giúp đỡ, chăm sóc, an ủi và cảm thông đầy tình người trong gia đình và xã hội. Noi gương Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta hãy biết quên đi cái tôi của mình để lo cái lo cho cái của anh chị em, để biết sống hết mình vì mọi người, để cùng nhau xây dựng một thế giới đầy ắp tình yêu thương xót nhau. Amen.

 

18. Chọn phần tốt nhất--Thiên Phúc--‘Như Thầy Đã Yêu’

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi:

- Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ:

- Thưa thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin!

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn:

- Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?

Chàng sinh viên liền hỏi:

- Thưa thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy xúc cảm, ông trả lời:

- Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!

Chúa phán: “Marta, Marta! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”. Phần tốt nhất ấy chính là ở bên cạnh Chúa, lắng nghe Chúa nói, và cầu nguyện với Chúa.

***

Nhà bác học đại tài Ampère, với công việc nghiên cứu của ông về điện tử học, về nam châm điện đã đem lại biết bao lợi ích cho nền văn minh của nhân loại. Thế nhưng, ông không cho đó là vĩ đại, mà ông nói: “Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi”.

Mẹ Têrêxa Calcutta, một nữ thánh giữa đời thường, mỗi ngày trước khi bước xuống “địa ngục Calcutta” để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đi vào “nhà hấp hối” để an ủi các kẻ liệt lào, các nữ tu của mẹ đã quì cầu nguyện trước Thánh Thể một tiếng đồng hồ để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ. Hoạt động tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với anh em, tại sao chúng ta lại không kín múc nơi Chúa là suối nguồn yêu thương. Cho dù là hoạt động truyền giáo, hoạt động từ thiện bác ái, hay sinh hoạt hằng ngày theo bổn phận, chúng ta cũng đừng quên “chọn phần tốt nhất” này. Hãy nhớ lời Chúa: “Không có Ta, chúng con không làm gì được”.

Các triết gia Phương Tây có khuynh hướng hoạt động cho rằng Chúa không làm gì, con người làm hết. Các triết gia Phương Đông trái lại ưa thích thuyết tĩnh học, để Chúa làm hết và con người không làm gì. Nhưng khuôn vàng thước ngọc của chúng ta là: “Cầu nguyện và hoạt động”, Marta phải đi đôi với Maria. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động, và hoạt động là kết quả của cầu nguyện. P.Graef có một câu nói rất thâm thúy: “Hoạt động mà không có cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà không có hoạt động là thiếu đất gieo hạt”. Tuy nhiên, có một cám dỗ khiến chúng ta khó thoát khỏi. Đó là nhiều khi chúng ta tưởng mình phục vụ Chúa, nhưng hóa ra chúng ta phục vụ chính mình. Nhìn Marta lăng xăng dọn bữa ăn, chúng ta thấy dáng dấp của chính mình. Chúng ta hoạt động để được tiếng khen, để gây chú ý: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay”. Chúng ta mời gọi kẻ khác cộng tác, cũng là để phục vụ cho chương trình của chính mình. Đôi khi chúng ta cầu nguyện cũng là để kéo Chúa về phe mình, xin Chúa ủng hộ để cá nhân mình sớm được vẻ vang. Chúng ta muốn mình luôn được thành công. Chúng ta không chấp nhận thất bại. Chúng ta mãn nguyện với những hoạt động tông đồ của mình. Chúng ta hài lòng với công cuộc từ thiện của chúng ta. Chúng ta đi tìm chính mình!

 

19. Lắng nghe, đón nhận và thi hành Thánh Ý Chúa--Lm Giuse Lê Danh Tường

Các bài đọc hôm nay làm nổi bật thái độ của con người trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Lòng mến khách và sự ưu ái được bộc lộ trong khung cảnh gia đình ấm cúng. Nhưng đâu là thái độ mà Thiên Chúa muốn ở nơi mỗi chúng ta khi chúng ta tiếp rước Chúa vào nhà mình, vào tâm hồn mình?

Trong bài đọc 1 trích từ sách Sáng Thế (St 18, 1-10a), vợ chồng ông Abraham và bà Sara đã đón ba vị khách vào nhà mình. Trong truyền thống của Giáo hội, hình ảnh ba vị khách trong câu chuyện này được miêu tả là hình ảnh của một Thiên Chúa Ba Ngôi Vị. Ông bà Abraham và Sara đã đón Chúa vào nhà mình. Ông bà đã tiếp đãi khách thật chu đáo, thịnh soạn, và cũng rất lễ phép. Truyền thống văn hóa Á Đông được hiện lên rõ nét ở đây: đàn ông tiếp khách còn phụ nữ thì ở trong nhà lo nấu nướng. Nhưng tất cả đó chỉ là khung cảnh của câu chuyện.

Cốt lõi của cuộc gặp gỡ là câu nói tiết lộ thánh ý của Thiên Chúa cho ông bà nghe: bằng rầy sang năm ông bà sẽ có con. Bà Sara đã cười thầm. Mà làm sao không buồn cười được khi hai ông bà già đã ngoài 80 mà được bảo là sẽ có con. Nhưng đấy là thánh ý Thiên Chúa. Đôi khi người ta nhận thấy Ý Chúa thật ngọt ngào; đôi khi Ý Chúa là chén đắng phải uống; và đôi khi Ý Chúa thật buồn cười vì nó chẳng theo cái lý sự ở đời này.

Cái cười của bà Sara đã bị phát giác. Bà thì biện minh theo lý lẽ thường tình: đến ham muốn còn chẳng còn thì nói chi đến có con. Nhưng vị khách lại khẳng định với ông bà theo lý khác: Đối với Thiên Chúa thì có gì khó đâu.

Câu chuyện trong bài Tin Mừng đưa ta đến với ý muốn của Thiên Chúa nơi chính mỗi người chúng ta. Gia đình chị em Mattha và Maria đã đón Chúa Giêsu vào nhà mình. Mattha thì lo thu xếp nhà cửa, nấu nướng đồ ăn để thiết đãi khách quý cho phải phép theo lẽ thường tình. Maria thì ngồi dưới chân Chúa Giêsu để nghe Ngài nói. Xung đột đã xảy ra. Mattha đã gián tiếp trách em mình khi nói với Chúa Giêsu: “Xin Thầy bảo em con giúp con với” (Lc 10,40).

Hình ảnh Maria ngồi dưới chân Chúa để nghe Ngài giảng nói lên nhiều điều. Tư thế ngồi nghe như vậy nói lên tư cách người môn đệ. Mặc dù với Do Thái giáo thời đó, chỉ người nam mới có tư cách đón nhận giáo huấn như thế. Nhưng ở đây Chúa Giêsu đã đón nhận cả Maria. Điều đó nói lên sự bình đẳng và rộng khắp của sứ điệp Lời Chúa. Càng mạnh hơn khi nhìn vào Bài đọc 1 ta chỉ thấy người nam mới được tiếp đãi trực tiếp và trò chuyện với khách, còn ở đây chị em Mattha và Maria đã đứng ở vị thế của người nam. Vượt qua rào cản của văn hóa như vậy đủ để cho chúng ta thấy được sự tự do của Lời Chúa. Thánh ý Thiên Chúa không bị gò bó, lệ thuộc vào bất cứ một khuôn phép hay thể chế nào của con con người. Lời Chúa luôn là đèn soi dẫn cho tất cả mọi người nhận ra và tiến về miền Chân Lý.

Câu trả lời của Chúa Giêsu với Mattha: “Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất" (Lc 10,42). Ắt hẳn Chúa không có ý khinh chê công việc phục vụ mà Mattha đang làm. Bởi chính Ngài đã nói: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ" (Mt 22,28). Thế nhưng trong cuộc đời hiến thân phục vụ đến hy sinh cả mạng sống ấy, Giesu luôn tâm niệm một điều: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy" (Ga 4,34 ). Ngài luôn lắng nghe Chúa Cha và thực thi theo thánh ý Chúa Cha.

Điều Chúa muốn nói với Mattha hôm nay cũng chính là nói với mỗi người chúng ta: dù có làm việc gì thì đừng quên điều tối quan trọng là tìm biết thánh ý Thiên Chúa. Chúng ta không làm việc theo chỉ dẫn của loài người nhưng là theo chỉ dẫn của Thiên Chúa. Đón Chúa vào nhà không phải để có cơ hội để phục vụ Chúa, mà là để có cơ hội lắng nghe thánh ý Chúa.

Chúng ta dễ dàng sửa soạn lễ vật, trang hoàng bàn thờ để tiến dâng lễ tế. Nhưng để có một khoảng thời gian thinh lặng lắng nghe Lời Chúa lại là chuyện khó, và càng khó hơn khi quyết định thực thi theo thánh ý của Chúa.

Đôi khi ta thấy Lời Chúa thật nhẹ nhàng, êm ái, và dễ thực hiện; đôi khi ta thấy Lời Chúa khô khan và thật khó thực hiện; hay như bà Sara, thấy Lời Chúa thật buồn cười, vô lý. Nhưng chỉ những ai thi hành thánh ý Chúa mới thấy được sự kỳ diệu trong lối dẫn dắt của Ngài. Chỉ khi đi vào con đường theo thánh ý Chúa ta mới cảm nhận được lòng yêu thương và tận tình của Thiên Chúa dành cho ta.

Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho con, để con biết lắng nghe Lời Chúa, biết đón nhận Lời Chúa, và biết thực thi theo Lời Chúa chỉ dẫn trong chính cuộc đời con.

 

20. Chỉ có một việc cần--Ts. Trần Quang Huy Khanh

Chúa Giêsu qua trích đoạn Tin Mừng của thánh Luca đã dùng một hình ảnh và lối so sánh rất tâm lý để dẫn chúng ta đi tìm cho mình một ý nghĩa thật của cuộc đời. Ngài muốn chúng ta hãy chọn cho mình những việc làm có giá trị thật, xứng với ơn gọi, tư cách, nhân vị, và phẩm giá của con người.

Trong đời sống thường ngày, chúng ta có biết bao nhiêu là việc cần. Những việc cần ấy thường là đi liền với nhu cầu của cuộc sống như nhu cầu thể lý, nhu cầu tâm lý và nhu cầu tâm linh. Tùy vào tầm nhìn, hiểu biết và phán đoán về mình, về cuộc đời mà những nhu cầu ấy trở thành quan thiết đến đâu. Nhưng theo Chúa Giêsu, thì chỉ có một sự cần. Ngài đã nói điều này với chúng ta qua Máttha: “Chỉ có một sự cần mà thôi” (Luca 10:42). Vậy sự cần ấy là gì?

Cần gì?

Để biết xem sự cần mà Chúa Giêsu đề cập đến ở đây là gì, chúng ta hãy đọc kỹ bài tường thuật của thánh sử Luca về cuộc tiếp đón mà chị em Máttha và Maria đã dành cho ngài. Trong lúc Máttha lăng xăng, lo lắng tiếp đón Chúa và các tông đồ, thì ngược lại, Maria lại ngồi không và không làm gì. Thánh Luca ghi: “Bà có người em tên là Maria, ngồi dưới chân Chúa và nghe lời ngài” (Luca 10:39).

Nhưng xét kỹ chúng ta mới thấy rằng không phải chỉ có Máttha mà cả Maria đều nồng nàn, tha thiết, và vui mừng được đón tiếp Chúa. Một đàng chuẩn bị cho Chúa bữa ăn thể xác, và một đàng đem lại cho Chúa một bữa ăn tinh thần. Theo đó, thì điều mà Maria làm là đem lại cho Chúa niềm vui khi ngồi nghe Chúa nói, và nói với Chúa. Và đối với ngài, thì bữa ăn tinh thần này quý hơn bữa ăn thể xác, vì thế, khi nghe Máttha càm ràm, khó chịu, ngài đã nói với bà: “Maria đã chọn phần nhất mà không ai có thể lấy đi được" (Luca 10:42).

Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu rằng những lo toan thuộc nhu cầu vật chất tuy cần thiết nhưng không bằng những lo toan thuộc nhu cầu tâm linh. Nếu đem so sánh giữa ba nhu cầu, thể xác, tâm lý, và tâm linh, nhu cầu tâm linh có vị trí cao nhất và cần thiết nhất, tiếp đến là nhu cầu tâm lý và sau cùng mới là nhu cầu thể lý là những lo toan, vất vả, thuộc về cuộc sống tự nhiên, thuộc về thế giới vật chất này. Đó cũng là lý do tại sao Chúa đã bênh cho Maria khi ngài nói: “Maria đã chọn phần nhất”, và còn hơn thế “không ai có thể cướp mất được”.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ không hài lòng với Chúa về chọn lựa này, cũng như về lời khen mà ngài dành cho Maria. Và cũng có thể nhiều người trong chúng ta cho rằng khi khen Maria như thế, Chúa đã ngầm trách Máttha. Nhưng không phải thế, vì tuy khen Maria, nhưng ngài không phủ nhận sự khó nhọc và lo lắng của Máttha: “Máttha, con lo lắng nhiều chuyện quá” (Luca 10: 41). Lo lắng, băn khoăn tiếp khách để rồi trở thành bẳn gắt, khó chịu thì không những làm khách mất vui, mà còn làm cho khách thêm nghĩ ngợi nữa. Một hình thức nào đó, thái độ trách móc ấy cũng là một lời từ chối khéo, đuổi khéo khách. Riêng trong trường hợp của Máttha, không ai lại có thể nghĩ rằng bà đối xử với Chúa thiếu tế nhị và lạt lẽo như thế. Và khi Chúa Giêsu nói với Máttha về sự lo lắng, băn khoăn ấy, ngài hiểu được tâm hồn của bà, ngài không mất vui vì những lời càm ràm của bà, mà vì ngài thấy bà không được vui. Và đó là lý do mà Chúa đã khen Maria.

Cần nhất

Chỉ có một việc cần. Việc cần ấy nằm trong lãnh vực tâm linh và thuộc về đời sống tâm linh. Nhưng việc cần nhất trong đời sống tâm linh, vẫn theo Chúa Giêsu là việc con người có thể hiểu được ngài, và để ngài đi vào cuộc sống của mỗi người. Maria đã làm việc này khi bà ngồi dưới chân Chúa nghe và chia sẻ tâm sự với ngài.

Trong tâm lý thường tình, khi hai người yêu nhau và mến nhau, ít khi họ đặt nặng những đòi hỏi và nhu cầu vật chất. Nhưng ngược lại, thiếu sự hiểu biết, thông cảm và chia sẻ với nhau về đời sống tâm lý, tình cảm, và tâm linh mới là một thiếu sót không thể tha thứ và chấp nhận được. Những cuộc tình đổ bể, những cuộc hôn nhân đưa đến chia rẽ, ly dị thường không do những khía cạnh thể lý nhiều, mà là do vấn đề tâm lý. Điều mà chúng ta ngày nay gọi là thiếu thông cảm, và từ thiếu thông cảm dẫn đến sự tê liệt và cạn kiệt tình yêu.

Sự mật thiết dẫn đến hiểu biết và hoàn toàn chia sẻ được với nhau như Maria và Chúa Giêsu hôm nay là điều không những Chúa vui thích, mà còn đem lại lợi ích cho chính cuộc sống tâm linh của con người nữa.

Làm sao chúng ta có thể làm cho Chúa vui khi không biết ngài muốn gì nơi chúng ta? Nhưng làm sao biết được Chúa muốn gì, nếu không nghe ngài nói? Và làm sao nghe được ngài nói gì, khi không có thời giờ, gần gũi, và tâm sự với ngài. Tóm lại, gần gũi đem đến thân mật, thân mật đem lại cảm tình tốt đẹp, và cảm tình tốt đẹp nẩy nở tình yêu. Và chỉ tình yêu mới đem lại hạnh phúc cho cả hai.

"Chỉ có một việc cần”. Đó là hiểu và yêu được Chúa. Nhưng để hiểu và yêu Chúa, con người phải biết đón mời ngài vào nhà tâm hồn mình như chị em Máttha và Maria đã làm. Phải ngồi dưới chân ngài, nghe lời ngài, và tâm sự với ngài. Nói theo tiếng nói của tu đức là kết hợp và cầu nguyện. Đây là điều mà không ai có thể lấy đi được. Chúng ta cầu nguyện được mọi nơi, mọi chỗ, và trong mọi cảnh ngộ. Dù độc tài, dù dã man như Cộng Sản cũng không cấm được ta cầu nguyện.

Maria đã chọn phần nhất

Nhưng không phải cầu nguyện suông. Mà cầu nguyện là để kín mục sức mạnh, tình yêu và nghị lực để đi vào đời. Để sẵn sàng phục vụ. Cầu nguyện như thế và phục vụ như vậy mới là điều mà Chúa Giêsu cho là nhất, là cần, và không ai có thể lấy đi được.

Tóm lại, ngồi và nghe Chúa nói dù được coi là việc làm cần, nhưng nó phải được hiểu theo một ý nghĩa tích cực. Một hành động mà theo các nhà tu đức cho rằng đó là một sự kết hợp mật thiết giữa Thiên Chúa và linh hồn. Ngồi và nghe Chúa chính là hành động tâm nguyện mà mỗi Kitô hữu sử dụng khi cầu nguyện. Một hình thức kết hợp với Chúa Giêsu, mang tính cách nội tâm, để rồi sau khi đầy Chúa Giêsu, chúng ta tràn phần dư cho các linh hồn. Hiểu Chúa, yêu Chúa và làm cho Chúa được yêu mến đó là việc làm cần thiết và cao cả nhất.

 

21. Phần tốt nhất--Lm Trầm Phúc

Cô Macta không chỉ mời Chúa Giêsu đến nhà một lần đâu. Chắc là nhiều lần. Thánh Gioan ghi: “Đức Giêsu thương chị em cô Macta, Maria và Ladarô”. Chính Gioan cũng đã cư ngụ trong nhà ấy nhiều lần cùng với Chúa Giêsu.

Cách ăn nói của cô Macta cho chúng ta thấy, cô rất tự nhiên với Chúa Giêsu như người nhà: “Thầy coi, em con để con làm việc một mình, còn nó ngồi chơi không. Xin Thầy bảo nó giúp con một tay”. Nếu là người xa lạ hay người khách, ai dám nói với giọng điệu đó?

Chắc chắn gia đình cô Macta là một gia đình khá giả, vì có thể chứa mười ba người khách: Chúa Giêsu và mười hai môn đệ. Với một lượng khách như thế, cô Macta phải cực khổ như thế nào để tiếp đãi khách.

Maria thì cứ vui vẻ ngồi dưới chân Thầy nghe Thầy dạy. Cử chỉ của Maria cũng cho chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu không là một người lạ mà là một người thân.

Bận bịu vì quá nhiều việc, thấy Maria ngồi không, Macta cũng hơi bực bội và xin Chúa bảo Maria phụ mình một tay. Chúa Giêsu cho Macta thấy rằng, Ngài không cần những bữa ăn thịnh soạn, có một điều cần hơn mà cô không biết đó là lắng nghe lời Ngài.

Bận bịu để lo cho Ngài là một điều tốt, nhưng có một điều khác tốt hơn. Macta cho chúng ta một gương mẫu mà chúng ta cũng nên noi theo, đó là tiếp đón Chúa vào nhà một cách chân tình chứ không lấy có lấy rồi.

Macta mời Chúa về nhà và tận tình phục vụ Ngài. Chúng ta có mời Chúa đến với chúng ta không? Mời nhiệt tình hay chiếu lệ? Hãy nhìn lại những lần chúng ta dự lễ. Chúng ta có vui mừng đón tiếp Chúa như cô Macta không? Chúng ta có làm hết cách để Chúa vui không? Thái độ đón tiếp của chúng ta có thực sự thân mật vui vẻ không, hay chúng ta có mặt mà lòng trí chúng ta bận rộn những chuyện không cần thiết?

Nơi nhiều giáo xứ, vào những dịp lễ lớn, có người chỉ chú trọng đến việc trưng bày nhà thờ, hoa đèn mọi thứ, đem hết khả năng lo trang hoàng cho lộng lẫy hoành tráng mà xao lãng việc cầu nguyện.

Chúa vẫn không cấm chúng ta chưng dọn bên ngoài để có những thánh lễ thật hoành tráng, nhưng điều cần thiết là lắng nghe lời Chúa.

Trong xã hội hôm nay, Chúa Giêsu vẫn bị bỏ rơi. Con người hôm nay xem Ngài như một cái gì không cần thiết, cái gì thừa thãi, vì họ chỉ biết “thờ cái bụng”, như thánh Phaolô đã nói. Chúng ta cũng bị ảnh hưởng phần nào của bầu không khí vô đạo hôm nay. Xem vật chất như điều chính yếu, còn Chúa thì khi nào cần mới đến với Ngài. Chúa Giêsu phải được yêu thương hơn và chính chúng ta phải làm đủ mọi cách theo khả năng để con người hôm nay biết Ngài là hạnh phúc duy nhất của họ. Hãy mời Chúa vào trong chúng ta và đem Chúa vào các tâm hồn.

Chúa Giêsu không trách Macta, nhưng Ngài cho thấy, những việc làm bên ngoài là điều phụ thuộc.

Maria quên hết mọi sự. Có Thầy đến, Thầy quan trọng hơn tất cả. Ngồi dưới chân Thầy, lắng nghe Thầy dạy dỗ là một niềm vui cho Maria. Đó cũng là điều quan trọng hơn tất cả. Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận như thế: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy đi”.

Chúa Giêsu không đến để “được phục vụ”. Ngài không cần chúng ta làm một điều gì cho Ngài cả. Ngài đến để cứu vớt và đem hạnh phúc cho chúng ta. Ngài chỉ mong chúng ta gắn bó với Ngài để được sống và được sống dồi dào, thì việc quan trọng không là việc bên ngoài. Chỉ cần ngồi dưới chân Ngài và vui mừng lắng nghe lời Ngài. Điều lý tưởng là nếu chúng ta vừa là Macta vừa là Maria thì tuyệt vời. Chúng ta “làm điều này mà không bỏ điều kia”. Chúng ta có thể dung hòa được cả hai việc thì đó mới là lý tưởng.

Cuộc sống của chúng ta không thể phân chia làm hai, một bên là hoạt động trần thế, một bên là hoạt động tâm linh. Cần thống nhất cuộc sống một cách nhịp nhàng. Sống là sống với Chúa trong mọi hoạt động trần thế của chúng ta và vẫn phải dành cho việc lắng nghe lời Chúa một phần không nhỏ và cần thiết.

Cha Peyriguère đang nằm điều trị ở bệnh viện, viết thư cho một người thăm hỏi sức khỏe của ngài, ngài viết mấy lời hết sức ngộ nghĩnh: “Cha đang uống thuốc cho Chúa Giêsu mau mạnh, và lúc mát trời cha đi dạo trong khuôn viên bệnh viện cho Chúa Giêsu khỏe hơn”. Ngài đã thực hiện những gì thánh Phaolô đã sống: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi mà là Chúa Giêsu sống trong tôi”.

Đây không phải là một điều gì khó mà chúng ta không thực hiện được. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có các thánh mới sống được như thế. Thực ra, chỉ cần ý thức và để ý đến Ngài, chúng ta sẽ làm được.

Chính thánh Phaolô đã nối kết hai thái cực trong ngài. Ngài hoạt động không ngơi nghỉ. Giảng dạy suốt ngày, có lúc gần suốt đêm. Những hành trình của ngài dài hàng ngàn cây số, ngài vẫn là Macta và Maria hiệp nhất nơi ngài. Sống như thế gọi là yêu.

Những người yêu nhau, dù mỗi người một nơi, vẫn yêu nhau, vẫn làm việc cho nhau. Họ nhớ nhau liên lỉ, ngay trong những lúc bận bịu nhất.

Nếu chúng ta thực tình yêu mến Chúa, thì dù ở đâu, làm gì, chúng ta vẫn nhớ và yêu mến Chúa. Thánh Phaolô cũng nói: “Không, tôi thâm tín rằng… không có gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô…”

Chúng ta được liên kết chặt chẽ với Chúa Giêsu khi chúng ta ăn lấy Ngài. Chúng ta với Ngài không còn là hai mà là một xương một thịt, hơn cả những đôi tình nhân. Ngài mãi mãi là điểm hẹn lý tưởng để tình yêu chúng ta không phai nhạt, và tâm hồn chúng ta luôn cảm thấy yên hàn, hạnh phúc.

 

22. Chọn điều Chúa muốn--Dã Quỳ

Trong cuộc sống, để hiểu một người, nhất là người mình yêu thương, và làm theo ý muốn, ý thích của người đó quả là không dễ chút nào! Với con người đã khó, đối với Thiên Chúa lại càng khó hơn nhiều. Làm thế nào chúng ta có thể hiểu và biết ý muốn của Thiên Chúa được nếu như ta không lắng nghe. Có ở bên Chúa, lắng nghe Lời Chúa và hiểu được thánh ý Chúa, chúng ta mới biết chọn điều Chúa muốn và hành động thế nào cho đúng, cho đẹp lòng Chúa. Vậy ta cùng ngồi xuống với chị Maria để học lắng nghe và rồi ta cũng biết chọn lựa điều Chúa muốn và là phần tốt nhất cho mỗi người Kitô hữu chúng ta.

Trên đường lên Giêrusalem, Chúa bất ngờ dừng lại, ghé vào nhà chị em Matta. Đến mái nhà Bêtania, Chúa như cảm thấy thân thiện, hài lòng vì có những người bạn chân thành. Thế nên, ngay lập tức cô Matta nồng nhiệt chuẩn bị một bữa ăn xứng đáng để tiếp đãi người bạn của gia đình: "Cô Matta thì tất bật lo việc phục vụ." Như một thói quen, cô hối hả làm việc... Trái lại, Maria em cô lại an nhiên tự tại ngồi bên chân Chúa để lắng nghe, sẻ chia tâm sự..."Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy." Bữa ăn chưa có sẵn nên cô Matta cần làm xong và hẳn là cô chẳng hài lòng khi em cô không phụ giúp! Thế nhưng, Chúa Giêsu đã nói với Matta "Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!" Và Người đánh giá cao thái độ của em cô.

Khi đón tiếp khách vào nhà, chúng ta thường bận rộn chú trọng đến những món ăn, những khung cảnh, nơi chốn để tiếp mà dường như ta hay quên đi chính vị khách và những tâm tình của khách. Cô Matta có biết Thầy Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem để đi chịu chết hay chăng? Đã hai lần Thầy tiên báo về cuộc Thương Khó rồi! Cô có hiểu tâm trạng của Thầy bây giờ như thế nào không? Biết bao nhiêu lời vu khống và chống đối bủa vây, tâm hồn Thầy đang buồn sầu vì biết những gì sắp xảy ra! Bước vào mái nhà của cô, Chúa muốn tìm sự cảm thông, an ủi, lắng nghe và như được trở về chính mái ấm yêu thương của Người. Thế mà Matta cứ tất bật lo chuyện ăn uống! Cô lo lắng cho Chúa và cũng yêu Chúa nhưng theo ý riêng của cô. Cô chưa hiểu Chúa và làm theo điều Chúa muốn!

Điều Chúa muốn nơi Matta, Maria và tất cả chúng ta là trở thành môn đệ của Chúa. Và thái độ đầu tiên của người môn đệ là lắng nghe lời Chúa dạy, là biết dùng thời giờ để ở bên Chúa, nghe Chúa và nói với Chúa. Chúng ta có thể trở nên môn đệ của Chúa với khả năng lắng nghe và rao giảng Lời Chúa.Từ nay, cả những phụ nữ cũng có thể đạt được "Phần tốt nhất" chứ không chỉ lo việc bếp núc nấu ăn trong nhà theo truyền thống. Dẫu rằng chúng ta vẫn cần ăn và hôm ấy chắc chắn Chúa cũng dùng những món ngon mà cô Matta nấu. Nhưng Chúa muốn chúng ta xác định việc nào quan trọng hơn. Chúng ta chọn Chúa hay chọn công việc của Chúa? Yêu Chúa hay yêu công việc của Chúa?

Chiêm niệm và hoạt động như hai mặt của đồng xu, được đan quyện vào nhau làm nên sứ mạng của người môn đệ Chúa Kitô "Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng."(Mc 3,14) Thế nhưng chúng ta hay bị cám dỗ lao theo sứ mạng rao giảng và hoạt động mà lãng quên đời sống cầu nguyện. Có những hoàn cảnh cần ta hành động, phục vụ nhưng dù thế, chúng ta cũng đừng bao giờ quên phần tốt nhất và quan trọng hơn là trở về bên Chúa, là cầu nguyện, lắng nghe để ta biết được thánh ý Chúa.

Nhiều khi chúng ta cho rằng lao động là cầu nguyện và rồi ta bỏ những giờ kinh nguyện tĩnh lặng bên Chúa mà chỉ lo hoạt động bên ngoài. Thật nguy hiểm với quan niệm này! Dẫu rằng trong khi lao động, ta vẫn có thể hướng lòng lên Chúa, kết hợp với Chúa, nhưng như thế chưa đủ để ta kín múc được nguồn năng lực và ân sủng từ Chúa. Những công việc, những tổ chức và hoạt động ta làm với ý hướng ban đầu rất tốt là theo ý Chúa, vinh danh Chúa, nhưng nhiều khi trong thực hiện, ta lại quên mất Chúa mà chỉ lo làm theo ý mình và làm vinh danh cá nhân mình. Nếu như đời sống của chúng ta luôn được cân bằng với hai chiều kích chiêm niệm và hoạt động, khi ấy chắc chắn ta sẽ yêu Chúa, tìm thực thi ý Chúa và ý thức việc ta làm là công việc phục vụ Chúa và Giáo Hội. Để rồi kết quả có thành công hay thất bại, ta vẫn bình an vì đã hết lòng chọn điều Chúa muốn và làm theo ý Chúa, ta sẽ không sợ nguy hiểm , không ngại rủi ro nhưng một lòng tín thác vào Chúa.

Chỉ một lần ngồi bên chân Chúa, lắng nghe Lời Người dạy, đã làm cho cô Maria trở thành người biết chọn phần tốt nhất và trở nên tông đồ của Tin Mừng Chúa Phục Sinh. Chắc chắn cô không chỉ nghe mà còn vâng giữ Lời Chúa, vì "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy."(Ga 14,23a) Khi chúng ta lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, ta sẽ được Chúa Cha thánh hiến (Ga 17,17) Chính ở bên chân Chúa mà ta biết được ý muốn của Chúa để vâng giữ. Và khi đó, ta đã làm cho lời hứa của Chúa được hiện thực "Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy."(Ga 14,23b) Nơi tâm hồn những ai lắng nghe Lời Chúa, chọn điều Chúa muốn và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống, Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ luôn hiện diện, yêu mến và chúc lành. Ước mong sao mỗi người Kitô hữu chúng ta luôn biết thao thức lắng nghe lời Chúa dạy và tìm hiểu điều Chúa muốn ta làm là gì, để rồi ta biết làm theo ý Chúa, biết phục vụ trong tình yêu với những khả năng Chúa ban để làm vinh danh Chúa hơn.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết yêu thích những giờ nguyện cầu bên Chúa và xin hãy dạy chúng con biết chọn điều Chúa muốn, yêu điều Chúa yêu và hết lòng làm những việc tốt theo thánh ý Chúa. Amen.

 

23. Chúa Nhật 16 Thường Niên--Lm Inhaxio Hồ Thông

Phụng vụ Lời Chúa, Chúa Nhật 16 Thường Niên Năm C, đặc biệt Bài Đọc I và Tin Mừng, nêu bật quyền ưu tiên trong việc tiếp đón Chúa và lắng nghe Lời Ngài.

St 18: 1-10

Sách Sáng Thế tường thuật ba vị khách bí nhiệm viếng thăm ông Áp-ra-ham. Vị tổ phụ tiếp đãi Các Ngài một cách hậu hĩnh. Để đáp lại, Các Ngài đoan hứa với ông Áp-ra-ham rằng sang năm vào độ này bà Xa-ra, vợ ông, sẽ sinh hạ một quý tử.

Cl 1: 24-28

Thánh Phao-lô nêu lên cho các tín hữu Cô-lô-xê những đau khổ tù đày của ngài mà ngài dâng hiến cho họ để họ giữ trọn niềm tin vẹn toàn của mình. Bởi vì ơn cứu độ được thực hiện qua gian nan thử thách và được thành toàn chỉ trong và qua Chúa Ki-tô.

Lc 10: 38-42

Tin Mừng tường thuật tấm lòng hiếu khách mà hai chị em, cô Mác-ta và cô Ma-ri-a, tiếp đón Chúa Giê-su. Việc đón tiếp phải ưu tiên dành cho việc lắng nghe Lời Chúa. Đó là chuyện cần thiết bậc nhất.

BÀI ĐỌC I (St 18: 1-10)

Chuyện tích nổi tiếng này thuộc chứng liệu Gia-vít (thế kỷ thứ mười trước Công Nguyên, thời vua Sa-lô-mon). Theo chứng liệu này, Thiên Chúa, luôn luôn được gọi dưới danh xưng “Đức Chúa” (Gia-vê), rất thân cận với con người, nói chuyện với con người, hành xử như một con người. Các chuyện tích về vườn địa đàng, sự thử thách và sa ngã có cùng một tác giả.

Ngay từ dòng đầu tiên giới thiệu các chương 18 và 19 sách Sáng Thế, tác giả báo trước cho chúng ta rằng chính Đức Chúa hiện ra với ông Áp-ra-ham: “Một hôm, Đức Chúa hiện ra với ông Áp-ra-ham tại cụm sồi Mam-rê”; ấy vậy, trong câu chuyện, ông Áp-ra-ham đón tiếp không chỉ một mà đến ba vị khách. Xa hơn, tác giả xác định rằng hai trong ba vị khách này là hai sứ thần (19: 1). Quả thật, sự ngần ngại của bản văn giữa số ít và số nhiều gây bối rối cho độc giả. Vài Giáo Phụ đã giải thích ba vị khách này tượng trưng Ba Ngôi Thiên Chúa. Truyền thống Ki-tô giáo sau này sẽ theo cùng một giải thích này, bằng chứng rõ ràng nhất là tượng thánh về Ba Ngôi Thiên Chúa của tu sĩ Nga là André Roublev, được thực hiện ở Moscou vào năm 1425, bức tượng thánh này rất phong phú về biểu tượng.

1. Cụm sồi Mam-rê

Ông Áp-ra-ham đã dựng lều của mình tại cụm sồi Mam-rê, cách thành Khép-rôn khoảng ba cây số về hướng bắc đất Pa-lét-tin. Cụm sồi Mam-rê là nơi dân bản địa Ca-na-an cúng tế thần linh của mình, đến lượt mình, ông Áp-ra-ham xem cụm sồi này là thánh địa của mình khi dựng một bàn thờ để kính Đức Chúa tại đó (St 13: 18). Vì thế, đây là nơi thuận tiện cho cuộc Thần Hiển. Ngài hiện ra với ông trong khi ông Áp-ra-ham đang ngồi ở cửa lều, vào lúc trời nóng nực nhất trong ngày.

2. Những nghi thức bày tỏ lòng hiếu khách

Khi ba vị khách vừa xuất hiện, tổ phụ Áp-ra-ham, mặc dầu cao tuổi, chạy ra đón họ. Ông ngỏ lời với họ lúc thì số ít lúc thì số nhiều; nhưng dường như ông phân biệt trong ba vị đó một nhân vật chính và phủ phục trước vị khách này. Đây không là cử chỉ thờ lạy, nhưng bày tỏ lòng tôn kính theo tập tục Đông Phương.

Sau đó, ông thể hiện lòng hiếu khách theo các nghi thức cổ truyền: nước để làm mát chân và tẩy bụi đường; một bữa ăn được chuẩn bị… Truyền thống Á-rập đã duy trì tập tục này, theo đó người ta đàm luận với nhau trong bữa ăn và tặng quà cho nhau.

“Ông Áp-ra-ham lật đật vào lều tìm bà Xa-ra”. Lúc đó bà Xa-ra hoặc ở trong một lều riêng hay ở trong cùng một lều có bức màn ngăn cách, nơi ở của người phụ nữ. Bữa ăn đã được chuẩn bị xong; các món ăn được dọn ra trước các vị khách. Theo phong tục tỏ lòng kính trọng khách thời đó, ông Áp-ra-ham không ngồi đồng bàn với khách, nhưng đứng hầu bên cạnh để đáp ứng nhu cầu của khách.

3. Quà tặng của ba vị khách

Đây là đoạn văn Cựu Ước duy nhất ở đó Đức Chúa chấp nhận dùng bữa ăn mà con người dọn ra. Chuyện kể thật sống động và ý nhị, có thể được sánh ví với nhiều chuyện tích khuyến thiện nêu bật tấm lòng hiếu khách. Nhưng câu chuyện này có một dáng vẻ đặc biệt. Ở Đông Phương, xưa và nay, người khách không bao giờ hỏi thăm vợ của gia chủ. Đó là điều cấm kỵ, bất lịch sự và không phải phép. Nhưng những nhân vật mà ông Áp-ra-ham đón tiếp không là những vị khách bình thường: họ chẳng những biết tên vợ của vị tổ phụ mà còn biết cả cảnh ngộ son sẻ của vợ ông. Chân tính mầu nhiệm của ba vị khách bắt đầu được vén mở. Để tri ân tấm lòng chân thành và hậu hĩnh đón tiếp của gia chủ, họ tặng cho gia chủ một món quà đẹp nhất, quá mức mong đợi: “Sang năm vào độ này, tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Xa-ra vợ ông sẽ có một con trai”.

Ở đây cũng vậy, chúng ta có ấn tượng là mình đang sống trong một câu chuyện thần tiên, ở đó một vị thần linh loan báo cho vua hay hoàng hậu việc chào đời của một hoàng tử hay cô công chúa. Tuy nhiên, phải vượt qua những điểm tương đồng của thể loại văn chương này. Trong những bản văn được biên soạn chín thế kỷ sau khi những biến cố đã xảy ra, chúng ta phải tính đến truyền thống chính truyền, tùy theo mức độ chúng lưu truyền đến chúng ta, đến nghệ thuật kể chuyện và ý định thần học của tác giả linh hứng. Ý định thần học này mới là điểm cốt lõi của chuyện tích này. Vì thế, không được tách riêng chương 18 và chương 19 ra khỏi mạch văn của sách Sáng Thế; hai chương này hình thành nên toàn bộ câu chuyện. Đức Chúa đã thân hành ngự xuống trần gian không chỉ để nói chuyện với ông Áp-ra-ham và lập lại lời hứa ban con trai trước đó với ông một cách chính xác hơn, nhưng còn để trừng phạt những thành phố tội lỗi: thành Xơ-đôm và thành Gô-mô-ra. Trước khi tấn thảm kịch này xảy ra, kinh nghiệm tôn giáo của ông Áp-ra-ham đã trở nên sâu xa – đây là điểm nhắm của bản văn này; kinh nghiệm này sắp giúp cho vị tổ phụ có đủ bạo dạn để can thiệp vào công việc của Thiên Chúa, mà chúng ta sẽ đọc vào Chúa Nhật tới.

BÀI ĐỌC II (Cl 1: 24-28)

Chúng ta tiếp tục đọc Thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-xê, đây là một trong những bức thư được viết khi thánh nhân bị giam cầm ở Rô-ma giữa năm 60-62. Cung giọng thật thống thiết.

Với nhiều cảm xúc, thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Cô-lô-xê về niềm tin của họ có nguy cơ bị biến chất trước mối đe dọa của những giáo thuyết sai lạc. Những đau khổ tù đày cùng với tất cả mọi hoạt động truyền giáo đầy gian nan thử thách của thánh nhân được định vị vào trong cùng cung bậc với cuộc Khổ Nạn của Đức Ki-tô.

1. Những đau khổ sinh nhiều ơn ích

“Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân, cho đủ mức. Như thế là vì lợi ích cho thân thể Người, là Hội Thánh”. Thánh Phao-lô không muốn nói rằng những đau khổ sinh ơn cứu độ của Đức Ki-tô còn thiếu sót. Hy tế của Đức Ki-tô đã là hoàn hảo và hoàn toàn hữu hiệu. Đức Giê-su đã chịu đau khổ để khai sinh Nước Trời; nhưng vương quốc này phải được xây dựng và tăng trưởng không ngừng. Được kêu gọi loan báo Tin Mừng cho muôn dân, thánh nhân mang một nỗi ưu tư đặc biệt đến công việc này. Sứ vụ tông đồ đòi hỏi những nỗi nặng nhọc vất vả. Thánh nhân biết rõ điều này hơn ai hết.

2. “Đức Ki-tô đang ở giữa anh em”

Đây là câu chủ đạo tóm gọn lời loan báo Tin Mừng: mặc khải về sự hiện diện của Đức Ki-tô Phục Sinh, ở nơi Ngài Thiên Chúa đã tỏ mình ra một cách hữu hình. Thánh Phao-lô nhắc lại những khía cạnh cốt yếu giáo huấn của thánh nhân bằng ba động từ: “Chính Người là Đấng chúng tôi ‘loan báo’, khi ‘khuyên bảo’ mọi người và dạy dỗ mọi người, với tất cả sự khôn ngoan Thiên Chúa ban, để giúp mỗi người ‘nên hoàn thiện’ trong Đức Ki-tô, trước mặt Thiên Chúa”. Những lời này nhắm đến những giáo lý sai lạc mà những nhà giảng thuyết mạo danh ở Cô-lô-xê đề xướng: vài người đòi hỏi phải nên hoàn thiện bằng việc tuân giữ luật Mô-sê, còn những người khác thì nhấn mạnh hành động cứu độ đến từ các thiên thần. Thánh Phao-lô cải chính: sự hoàn thiện và ơn cứu độ chỉ được gặp thấy ở nơi Đức Ki-tô. Chỉ mình Ngài mới có thể “ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang”.

3. Hiệp thông các thánh

Trong đoạn trích thư này, chúng ta có một bức phác họa về thần học “Nhiệm Thể của Đức Ki-tô”, mà thánh Phao-lô sẽ khai triển trong Thư gửi tín hữu Ê-phê-xô (cả hai bức thư được viết cùng một thời kỳ). Có một mối liên đới mật thiết giữa các chi thể và Đầu là Đức Ki-tô. Thần học về sự đau khổ được ghi khắc ở nơi sự liên đới này, sẽ được gọi “sự hiệp thông của các thánh”. Từ đó, niềm vui nội tại có thể được liên kết với sự đau khổ.

TIN MỪNG (Lc 10: 38-42)

Câu chuyện ngắn về hai chị em cô Mác-ta và cô Ma-ri-a, cả hai đều bày tỏ tấm lòng quý mến Chúa Giê-su bằng hai cách thế khác nhau. Câu chuyện này là một trong những hạt ngọc của Tin Mừng Lu-ca.

1. Bối cảnh

Thánh Gioan cho chúng ta biết cô Mác-ta và cô Ma-ri-a là hai người chị của anh La-da-rô. Thánh Gioan còn mô tả hai cách tiếp đón Chúa Giê-su của hai chị em tương tự như thánh Lu-ca: trong bữa ăn thiết đãi Đức Giê-su ở làng Bê-ta-ni-a, cô Mác-ta lo hầu bàn, còn cô Ma-ri-a ngồi bên chân Chúa Giê-su, lấy dầu thơm quý giá mà xức chân Ngài (Ga 12: 2-3). Thánh Gioan còn cho chúng ta thêm thông tin về gia đình ba chị em này: sau những lần thi hành sứ vụ tại Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su hay ghé thăm gia đình này, họ là những người bạn thân của Ngài ở làng Bê-ta-ni-a cách thành đô Giê-ru-sa-lem không xa: “Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô” (Ga 11: 5, 33; 12: 1-3).

Thánh Lu-ca không ghi rõ địa danh nơi câu chuyện này xảy ra. Về phương diện địa lý, câu chuyện này không thể xảy ra vào lúc khởi đầu cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-su được vì làng Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem khoảng chừng 3 cây số. Nhưng ý định của tác giả thì rõ ràng, nhằm đưa ra một giáo huấn bổ túc cho dụ ngôn “Người Sa-ma-ri nhân lành”. Ở dụ ngôn này, Chúa Giê-su mở rộng huấn lệnh “yêu người” khi đảo ngược câu hỏi của kinh sư, không phải “ai là người thân cận của tôi”, mà “tôi phải là người thân cận của bất kỳ ai cần đến sự cứu giúp của tôi”. Tại nhà cô Mác-ta và cô Ma-ri-a, Chúa Giê-su muốn cho hiểu rằng “mến Chúa” phải đặt ưu tiên hàng đầu trong tất cả mối bận lòng của con người.

2. Hai cách đón tiếp với trọn một tấm lòng

Trong câu chuyện này, chúng ta không thấy nói tới cha mẹ của họ, nếu có họ phải là gia chủ ra chào hỏi khách. Vì thế, chúng ta có thể hiểu hoàn cảnh của gia đình này, cha mẹ đã qua đời sớm, ba chị em đùm bọc nhau. Với tư cách là chị cả, cô Mác-ta quán xuyến mọi việc trong gia đình; vì thế trong việc đón tiếp Chúa Giê-su, cô bận rộn lo toan đủ mọi thứ hầu bày tỏ tấm lòng quý mến của cô đối với Chúa Giê-su, Ngài không chỉ là khách mời mà còn là một người bạn quý của gia đình.

Từ lúc Chúa Giê-su bước vào nhà, cô em là Ma-ri-a “cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy”. Thái độ như vậy xem ra không phù hợp với phong tục tập quán vào thời đó cho lắm, vì phụ nữ không được phép dự phần vào giáo huấn của các kinh sư. Chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên khi gặp thấy nét bút này của thánh Lu-ca, thánh ký rất quan tâm đến sự hiện diện của các người phụ nữ trong vòng thân cận với Chúa Giê-su trong công cuộc truyền giáo của Ngài bằng cách góp công góp của vào sứ vụ của Ngài (Lc 8: 1-3).

Cô Mác-ta tất bật lo việc phục vụ Chúa với một bữa ăn, còn cô Ma-ri-a thì ngồi bên chân Chúa mà lắng nghe lời Ngài. Vì thế, cô Mác-ta nóng ruột thưa với Chúa bằng giọng hờn trách: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo em con giúp một tay”. Cô tin rằng Chúa cũng đồng ý với cô; ấy vậy, Chúa Giê-su chẳng những trách khéo cô mà còn bênh vực cô Ma-ri-a nữa: “Mác-ta! Mác-ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Cô Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”.

3. Phục vụ và lắng nghe

Với lối chú giải ẩn dụ đặc thù của mình, các Giáo Phụ đã đọc thấy nơi công việc phục vụ của cô Mác-ta và nơi việc lắng nghe lời Ngài của cô Ma-ri-a hai cách thế hiện diện không thể thiếu của Giáo Hội trong cuộc sống tại thế: đời sống chiêm niệm và đời sống hoạt động. Trong hai công việc đó, việc”Ngồi bên chân Chúa và lắng nghe lời Ngài” phải là ưu tiên, bởi vì việc lắng nghe Lời Chúa khơi nguồn và định hướng cho mọi công việc phục vụ của Giáo Hội. Trong Tin Mừng của mình, thánh Lu-ca thường ghi nhận rằng ngay từ sáng sớm Chúa Giê-su một mình đi vào nơi thanh vắng để trò chuyện với Chúa Cha trước khi bắt đầu một ngày mới bận rộn với sứ vụ của mình.

Tuy nhiên, Đức Giê-su cũng đã không bao giờ coi thường công việc phục vụ. Khi các môn đệ tranh cãi với nhau xem ai trong nhóm họ là người lớn nhất, Chúa Giê-su căn dặn các ông: “Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22: 24-27).

Điều Đức Giê-su quở trách cô Mác-ta không phải vì cô lo lắng phục vụ Ngài cho thật chu đáo và nồng hậu, nhưng vì cô để hết cả tâm trí vào việc phục vụ đến mức xao lãng một hình thức tiếp đón khác: ngồi hầu chuyện với khách mời của mình, đó mới là điều quan trọng bậc nhất trong trường hợp này, bởi vì lời mà cô Ma-ri-a lắng nghe chính là Lời Thiên Chúa. Việc lắng nghe Lời Chúa quan trọng đến mức mà chỉ một lúc sau đó chỉ một mình thánh Lu-ca ghi lại câu chuyện về một người phụ nữ trong đám đông ca ngợi công sinh thành của mẹ Ngài: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!”, Chúa Giê-su trả lời cho người phụ nữ này và cho cả đám đông nữa: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11: 27-28). Phải đặt ưu tiên cho một chuyện cần thiết bậc nhất: lắng nghe Lời Chúa. Có lắng nghe Lời Chúa mới biết Chúa muốn chúng ta làm gì trong giây phút hiện tại và dấn thân phục vụ Ngài ở nơi anh chị em mà chúng ta găp gỡ trong cuộc sống hằng ngày.

 

24. Hiếu khách--Lm Giuse Trần Việt Hùng

Hiếu khách là một đức tính tốt. Một người hiếu khách là người có tính xã hội. Họ dám mở cửa lòng đối diện với đời và với tha nhân. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy trong bất cứ lĩnh vực nào như mở tiệm buôn bán, công ty, xí nghiệp, trường học, hội đường, chùa chiền, nhà thờ, tư gia… càng có nhiều người tham gia, sinh hoạt và thăm viếng thì càng sầm uất và thành công sinh hoa lợi. Người ta thường nói "đa khách đáo, đa ngân vào". Đúng thế, mở một cửa tiệm hay một dịch vụ mà khách ra vào tấp nập thì việc làm ăn sẽ mau khấm khá. Một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề nhân sự. Chủ nhân hay tiếp thị phải là những người hiếu khách luôn tươi cười và niềm nở. Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi.

Nhân cách con người đi theo với sinh hoạt cuộc sống. Tính tình thể hiện qua cách xử thế, gọi là giao tế nhân sự. Câu truyện trong sách Sáng Thế kể rằng có ba vị khách đi ngang qua nhà ông Abraham. Ông đã vui vẻ chào đón khách một cách niềm nở, ông thưa: "Thưa Ngài, nếu tôi được đẹp lòng Ngài, thì xin Ngài đừng đi qua mà không ghé thăm tôi tớ Ngài." (St 18,3). Thái độ của Abraham bày tỏ lòng thành kính và hiếu khách. Ông biết thương người và đáp ứng đúng nhu cầu cần thiết. Ông tiếp rước khách một cách rất tận tình: Tôi xin đi lấy ít bánh, để các ngài dùng cho chắc dạ, trước khi tiếp tục đi, vì các ngài đã ghé thăm tôi tớ các ngài đây! Khách trả lời: “Xin cứ làm như ông vừa nói.” (St 18,5).

Một phần thưởng ngoài sức tưởng tượng của cả hai ông bà. Ông bà đã nhận được một hồng ân quý báu trong lúc tuổi già. Ông bà sẽ sinh một cậu con trai nối dòng. Đây là lời cầu chúc tốt đẹp nhất của ba vị khách: "Người nói: "Sang năm, tôi sẽ trở lại thăm ông và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai." Bà Sara bấy giờ đang nghe ở cửa lều, phía sau." (St 18,10). Thiên Chúa đã gọi Abraham rời bỏ quê hương xứ sở để đến miền đất hứa. Lòng thành tín của Abraham đưa dẫn ông trở thành cha của một dân tộc. Cha của những kẻ tin. Ông đã biết đón nhận và cho đi. Ông đã tuân theo đường lối của Chúa nhưng ông cũng đã trải qua muôn vàn khó khăn, đắng cay và thử thách. Ông đã đi đến cùng đường và giữ vững lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa.

Mở cửa đón khách cũng giống như mở lòng với tha nhân. Nếu tư gia của chúng ta có mở cửa đón mời anh chị em và bạn bè, nhà sẽ vui nhộn tiếng cười. Phòng khách sẽ ấm cúng với mối tình thân. Nhà bếp cũng được ấm lên nhờ nấu nướng những món ăn mỹ vị đãi khách. Niềm vui sẽ trào dâng trong lòng mọi người. Càng có đông khách và bạn bè, cuộc sống càng nới rộng tình thương mến. Mở cửa như mở lòng. Chúng ta biết rằng ai có lòng quảng đại giúp đỡ tha nhân, họ sẽ được đáp trả mối ân tình. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Đón tiếp anh chị em bạn bè đến với gia đình, niềm vui của chúng ta sẽ được nhân lên. Nếu chúng ta chỉ biết đón nhận mà không biết cho đi, cuộc sống sẽ bị đóng khung hạn hẹp. Cảm nghiệm đời sống, chúng ta đóng cửa nhà và cửa lòng vì sợ bà con làm phiền, cuộc sống sẽ buồn tênh.

Cũng không ngoại lệ, khi Chúa Giêsu đến thăm nhà chị em Mát-ta và Maria. Hai chị em đón tiếp Chúa, mỗi người một cách, làm cho Chúa rất hài lòng. Câu truyện được lưu truyền kể lại trong Phúc Âm. Mát-ta lo nấu nướng phục vụ và Maria ngồi bên chân Chúa để nghe lời Người giảng dạy. Cả hai việc đều tốt nhưng việc ngồi bên và lắng nghe lời Chúa thì tốt hơn: "Cô có người em gái tên là Maria. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy." (Lc 10,39). Chúa Giêsu đã biến đổi cả hai tâm hồn nên thánh thiện. Chúa nhìn thấu tỏ tâm hồn của Mát-ta và Maria, hai chị em trở thành những chứng nhân đích thực cho Chúa Kitô Phục Sinh. Trong Giáo Hội đã có những vị dõi theo bước của Mát-ta, chuyên lo phục vụ. Có những người đi theo đường lối của Maria, lắng nghe, suy niệm và chiêm niệm trong các dòng tu. Chúa Giêsu đã xác nhận Maria đã chọn phần tốt nhất: "Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." (Lc 10,42). Giáo Hội đã tuyên phong cả hai chị em lên bậc hiển thánh: Thánh Mát-ta và Thánh Maria.

Như Abraham đã đón tiếp các vị khách và được phước lộc có con cháu nối dõi hoàn thành sứ mệnh. Mát-ta và Maria đón rước Chúa vào nhà, các bà đã trở nên môn đệ và sinh hoa kết qủa trong vườn nho của Chúa. Thiên Chúa rộng lượng ban phát mọi ơn lành cho những ai đón rước Chúa. Chúng ta đọc câu truyện về hai biển hồ ở Palestine, biển Galilê và biển chết. Biển hồ Galilê có nguồn nước trong xanh mát. Trong hồ có đủ các loại tôm cá sinh sống. Có những vườn cây xanh tốt nhờ nguồn nước. Nhà cửa dân cư sống rất sầm uất. Biển thứ hai là biển chết. Biển chết vì nước mặn và không có loại cua cá nào sống nổi. Trơ trọi không có cây xanh tươi. Chúng ta biết cả hai biển hồ đều nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước chảy vào biển hồ Galilê và tiếp tục chảy tràn lan qua các hồ nhỏ, nhờ vậy mà nguồn nước luôn lưu chuyển trong lành. Còn biển chết cũng đón nhận nguồn nước nhưng bị tù đọng vì không chia sẻ, nước trở nên mặn chát. Sinh vật không thể sống được. Cuộc sống con người cũng thế, nếu chỉ biết khư khư giữ lại tất cả kho tàng cho riêng mình, thì sự sống cũng dần lụi tàn.

Thánh Phaolô đã nhận lãnh sứ điệp Tin Mừng từ chính Chúa Kitô Phục Sinh. Ngài đã hăng say nhiệt tình truyền rao lời chân lý. Phaolô đã thiết lập nhiều cộng đoàn tín hữu và đặt căn bản giáo lý trong các sinh hoạt sống đạo: "Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em: Đó là tôi phải rao giảng lời của Người cho trọn vẹn." (Cl 1,25). Phaolô trở thành chứng nhân đích thực xông pha trong mọi lĩnh vực, cốt là để vinh danh Chúa Kitô. Tin Mừng đã lãnh nhận như một kho tàng, Ngài đã đem ra rao truyền và phân phát một cách nhưng không để lôi kéo mọi người về với Chúa.

Thánh Phaolô đã đến với dân ngoại, nơi có một cánh đồng truyền giáo bao la. Ngài rao giảng, thuyết phục và làm nhân chứng sống động. Ngài chấp nhận bị xua trừ, tẩy chay, đánh đập, tù đày và bị thiệt thòi danh phận để danh Chúa được cả sáng. Phaolô rao truyền Tin Mừng một cách nhiệt thành sứ vụ được Chúa Kitô trao: "Người đã muốn cho họ được biết mầu nhiệm này phong phú và hiển hách biết bao giữa các dân ngoại: Đó là chính Đức Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang." (Cl 1,27). Tất cả đều chung quy về Chúa Kitô Phục Sinh. Bất cứ sự gì ngài đã lãnh nhận nhưng không, thì ngài đã cho nhưng không. Không giữ lại điều gì làm của riêng để được vui hưởng một mình.

Cuộc sống của chúng ta phát triển không ngừng. Mỗi ngày, chúng ta hãy cố gắng làm một việc tốt, dù nhỏ, nó sẽ sinh hoa kết quả tốt. Một lời nói nhẹ nhàng êm dịu, có thể cải hoá được lòng người. Một cử chỉ đón tiếp ân cần, có thể làm vui mảnh hồn cô đơn, giá lạnh. Một hành động bác ái nhỏ như cho đi một ly nước vì danh Chúa sẽ không mất phần thưởng. Một ngọn lửa, dù bé nhỏ, có thể toả lan ánh sáng và sưởi ấm lòng người. Một bàn tay rộng mở, ân phước ngập tràn niềm vui. Chúng ta hãy cùng mở rộng tấm lòng đón nhận và mở cửa nhà chào đón anh chị em, cuộc sống gia đình của chúng ta sẽ thêm phúc lộc đầy tràn.

Lạy Chúa, Chúa rộng lượng từ bi và nhân hậu với hết mọi loài. Xin cho chúng con biết mở lòng quảng đại với tha nhân. Chúng con nhận lãnh quá nhiều hồng ân, nhưng cho đi chẳng bao nhiêu. Xin cho chúng con biết nhận lãnh và biết tiếp tục trao ban.

 

25. Điều Cần--Lm Vũ Đình Tường

Có những điều chúng ta muốn và có những điều chúng ta cần. Những gì cần thì quan trọng hơn là muốn bởi vì muốn có nghĩa là có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Quá quắt lắm muốn mà không được thì cãi nhau một trận, giận nhau một thời gian, rồi thôi. Nếu giận mãi, giận hoài sẽ trở thành quá khích mà quá khích thì khó chiều.

Điều cần là điều không thể thiếu. Nếu thiếu mà chấp nhận được, điều đó có thể nằm giữa cần và muốn. Điều cần là điều không thể thiếu vì nó cần thiết cho cuộc sống. Điều chúng ta muốn nếu có sẽ làm cho cuộc sống bảnh hơn trong khi điều cần mang lại sự sống cho con người vì thế điều cần là điều không thể thiếu vì nó liên quan đến sống còn.

Những điều chúng ta cần cũng thay đổi tùy hoàn cảnh cuộc sống. Hôm nay tôi cần có thời gian thinh lặng một mình, ngày mai tôi lại cần có bạn. Hôm nay tôi cần lắng nghe bạn và rất có thể ngày mai lại cần bạn lắng nghe tôi tâm sự. Hôm nay tôi cần bạn chia sẻ niềm vui ngày mai tôi cần bạn cùng tôi suy gẫm sự đời. Tình cảm con người lạ lắm. Cũng là tình cảm nhưng mỗi loại khác nhau. Niềm vui chia sẻ làm tăng niềm vui, tâm sự buồn chia sẻ làm vơi nỗi sầu. Cơn nóng giận tăng lên nếu có người châm dầu trong khi lời an ủi làm tươi làn môi.

Có điều cần liên quan đến bản thân, có điều cần liên quan đến tâm lí, có điều cần liên quan đến tâm linh con người. Những điều liên quan đến bản thân dễ nhận ra; điều cần liên quan đến tâm lí hơi khó nhận biết, đôi khi cần có người trợ giúp để nhận biết. Điều cần liên quan đến tâm linh rất khó nhận ra vì nó không gây áp lực mãnh liệt trong cuộc sống nhưng bàn bạc khi ẩn, khi hiện, khi mãnh liệt, lúc lại nhẹ nhàng. Dấu chỉ nhận biết nhu cầu tâm linh lệ thuộc vào đời sống nội tâm. Đời sống nội tâm không nhìn được chỉ cảm nhận được. Người cảm nhận mãnh liệt nhất chính là đương sự. Nếu đương sự không quan tâm để í vấn đề còn khó hơn nữa. Cảm thấy chán nản trong cuộc sống, bình an nội tâm thiếu vắng, mất í nghĩa cuộc đời, tương lai mù mờ, đời vô vị, mất nghị lực làm việc. Những dấu chỉ đó cho thấy tâm hồn đói khát tâm linh. Thân xác có thể no đủ nhưng tâm linh đói khát. Tâm linh mạnh khoẻ mang lại bình an nội tâm, hướng tâm hồn về tương lai trong tình yêu hy vọng. Không giống nhu cầu thân xác khi đói khát nó đòi hỏi rất mãnh liệt trong khi nhu cầu tâm linh đòi hỏi nhẹ nhàng, thoang quảng trong cuộc sống. Mất bình an nội tâm, cô đơn và mất hy vọng là những dấu chỉ rõ nhất. Một số tìm niềm vui nơi chốn đông hy vọng lấp khoả trống vắng tâm hồn, số khác trốn cô đơn qua rượu và thuốc. Tất cả những thứ đó làm dịu nhu cầu đang thiếu, thoả mãn nhu cầu tâm linh cách giả tạo. Tâm linh muốn những gì lâu dài, trường cửu. Vật chất trần thế có giới hạn riêng của nó, nên không thể tìm niềm vui vĩnh cửu nơi trần thế mà phải tìm niềm vui đó nơi Đức Kitô vì Người là nguồn tình yêu vô tận.

Trốn tránh cô đơn trong vật chất biến ta thành con người ích kỉ, chỉ biết đến mình, mong thoả mãn nhu cầu riêng mình, quên nhu cầu tha nhân. Kinh thánh hôm nay nhắc chúng ta một điều quan trọng. Đó là không cần phải đi tận chân trời, góc biển tìm kiếm bình an nội tâm. Tìm ngay trong gia đình, nơi người mình đang chung sống, nơi cộng đoàn mình đang sinh hoạt vì những nơi đó Lời Chúa được thể hiện, được mang ra thực hành. Điều rõ ràng là cô Mát-ta bận rộn liên tục nhưng tâm bất an; trong khi cô Maria ngồi dưới chân Đức Kitô và cô tìm được bình an nội tâm. Những ai lắng nghe Lời Chúa sẽ tìm được bình an nội tâm. Dùng Lời Chúa biện hộ khi tranh luận là tỏ ra có kiến thức nhưng trong họ không có ơn khôn ngoan. Lời Chúa phải được thực hiện qua hành động bác ái, yêu thương, mà không dùng để nói lí lẽ.

 

26. Lắng nghe Lời Chúa--An Phong, OP

Tin mừng chúa nhật 16 thường niên C là trình thuật Đức Giêsu đến một làng kia và vào thăm nhà của chị em Mát-ta, Maria và Lazarô. Vào lúc này, Đức Giêsu đang lên đường đi Giêrusalem. Thánh Luca đã tập hợp các lời giảng của Đức Giêsu cho các môn đệ về sứ vụ, quyền lợi và trách nhiệm của họ. Trong đoạn Tin mừng hôm nay, thánh Luca muốn nói đến điều quan trọng nhất của người môn đệ đích thực là biết lắng nghe lời của Đức Giêsu. Maria đã tiếp đón Đức Giêsu bằng cách ngồi dưới chân Người, lắng nghe lời Người như một môn đệ trước Thầy của mình. Maria đã đặt toàn tâm toàn ý của mình trước Thầy để học biết cách sống. Như thế, tiếp đón một người tức là để cho người đó nói lên và mở lòng đón nhận những gì được ban phát.

Tương phản với hình ảnh của Maria là Mát-ta. Mát-ta lo lắng, bận rộn với việc tiếp đón Đức Giêsu. Bà muốn lòng hiếu khách của mình phải được đánh giá tốt. Bà muốn được sự giúp đỡ: "Lạy Thầy, em tôi để tôi hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em tôi giúp tôi với" (c.40). Mát-ta tìm cách để Đức Giêsu và cô em Maria nhìn nhận sự hy sinh của mình. Dường như Mát-ta muốn nói "Thưa Thầy, Thầy không thấy sao, Thầy không nhận ra những gì tôi đã làm cho Thầy sao, Thầy chẳng cảm thông với những lo lắng của tôi sao?"

Maria là hình ảnh của người lắng nghe lời Chúa. Mát-ta là hình ảnh của người phục vụ Thiên Chúa, nhưng theo cung cách riêng của mình. Và câu kết luận của Đức Giêsu đã làm cho mọi việc được rõ ràng "Maria đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị ai lấy mất" (c.43).

Người môn đệ đích thực là người lắng nghe lời Chúa để học biết cách sống ở đời. Tin mừng không thuật lại Đức Giêsu nói gì với Maria. Trong bối cảnh đơn giản và thân tình như thế, có lẽ Đức Giêsu đã dạy Maria làm thế nào để sống ở đời? Khi viết lại câu chuyện này, thánh sử Luca đã không lưu tâm đến nội dung cuộc trò chuyện, nhưng sự hiện diện của Đức Giêsu và sự đón tiếp theo cung cách của Maria mới là điều quan trọng. Đức Giêsu hiện diện như một quà tặng của Thiên Chúa, như một ân sủng và lời của Người là một Tin mừng. Người môn đệ đích thực phải nhận ra điều này. Trong khi Maria đón tiếp Đức Giêsu bằng cách ngồi dưới chân và lắng nghe lời Người thì Mát-ta đã đón tiếp Người bằng cách "bận rộn với việc thiết đãi" (c.39). Mát-ta cũng đã làm một điều tốt, nhưng một điều tốt muốn được đánh giá, muốn được nhìn nhận, muốn được gọi tên, thì điều tốt đó sẽ chẳng còn tốt nữa. Những người Pharisêu vào thời Đức Giêsu đã chẳng muốn người khác nhìn nhận sự công chính, cống hiến của mình đó sao? Phản ứng của Mát-ta cũng là một phản ứng tự nhiên và "hết sức con người". Có lẽ chúng ta cũng thế thôi: Muốn được người khác nhìn nhận, đánh giá những cống hiến của mình. Chúng ta muốn "phần thưởng ngay" và như thế đánh mất phần thưởng mà Cha trên trời hứa ban cho (Mt 6,-13). Dường như trong thái độ của Mát-ta có một chút ghen tương. Bà sợ Maria được Đức Giêsu quan tâm hơn, và Bà muốn Maria phục vụ Đức Giêsu theo cung cách của mình, dưới sự chỉ đạo của mình. Có lẽ chúng ta cũng thế thôi! Chúng ta khó chấp nhận người khác khi họ không theo cung cách phục vụ của chúng ta. Đây quả là một cám dỗ lớn cho những người muốn phục vụ Thiên Chúa và anh chị em mình.

Như thế, nhận ra sự hiện diện của Đức Giêsu, lắng nghe lời Người, đón tiếp và phục vụ Người là điều người môn đệ đích thực phải làm.

Lạy Chúa,

Lúc nào Chúa cũng hiện diện ở đó, trong cuộc sống con.

Nhưng tiếng ồn ào của những đam mê

khiến con không còn nhận ra lời mời gọi của Chúa.

Xin tha thứ cho con, và xin ban cho con

có đôi tai luôn biết mở rộng

để nghe được tiếng Chúa đang mời gọi.

Xin ban cho con có đôi mắt luôn trong sáng

để nhận ra sự hiện diện của Chúa

trong từng phút giây của cuộc sống. Amen.

 

27. Để cho Lời Chúa soi dẫn cuộc đời--‘Cùng Đọc Tin Mừng’--Lm Ignatiô Trần Ngà

Hôm ấy, các đệ tử của Thầy hăng say thảo luận về nguyên nhân đau khổ của nhân loại.

Người thì nói là do lòng tham vô đáy của con người thúc đẩy, kẻ thì cho là do tính ích kỷ thâm căn cố đế hoặc tính kiêu căng và óc thống trị xui khiến, một số khác cho là do sự chia rẽ chủng tộc hay tôn giáo phát sinh...

Sau cùng, các đệ tử quay sang hỏi ý kiến Thầy, Thầy nói: "Mọi đau khổ đến từ việc con người thiếu khả năng ngồi yên lặng một mình để lắng nghe..." (Phỏng theo Cha Anthony de Mello)

* * *

Yên lặng để lắng nghe! Để nghe Chúa nói, để nghe lời khôn ngoan... Đó cũng là điều mà Cô Maria thể hiện qua đoạn Tin Mừng hôm nay.

Hôm ấy, Chúa Giêsu đến thăm gia đình Mácta. Mácta tất bật lo việc nấu dọn để hầu hạ Chúa, hy vọng Chúa sẽ rất hài lòng về sự tiếp đãi ân cần, chu đáo và tận tình như thế.

Vậy mà Chúa Giêsu lại đề cao thái độ chăm chú lắng nghe của Maria hơn và trách Mácta:

"Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." (Lc 10, 41-42)

Nhiều lần trong Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định với mọi người rằng lắng nghe và thi hành Lời Chúa là điều tối cần thiết và quan trọng nhất.

Lắng nghe Lời Chúa là chuyện cần thiết nhất vì Lời Chúa là đèn soi cho loài người tiến bước trong đêm tối và vượt qua bao giông tố của cuộc đời. "Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi." (Thánh vịnh 119,105). Nhờ ngọn đèn nầy, người lầm lạc thấy được chân lý, người tội lỗi được hoán cải để sống đời thánh thiện, người thất vọng được tìm thấy niềm tin và hy vọng tràn trề... Thiếu Lời Chúa, nhân loại như đang chìm trong tối tăm.

Một chiếc xe vượt qua nhiều đoạn đường đèo quanh co, cheo leo hiểm trở trong đêm tối mà xe lại chạy không đèn thì chắc chắn sẽ lao xuống vực. Đời người với bao nhiêu thăng trầm thách thức của cuộc sống khác gì chiếc xe vượt đèo kia, nếu không được ánh sáng của Lời Chúa soi dẫn, thì sẽ không thoát khỏi tai ương.

Đối với những ai biết đón nhận Lời Chúa và nhận lấy ánh sáng Lời Chúa soi dẫn cho hành động, người ấy sẽ đạt được những thành quả tốt đẹp trong đời mình.

Lời Chúa thật sự đã mang lại giải pháp tối ưu cho mọi vấn đề của cuộc sống.

Trong thời kỳ đất nước Việt Nam của chúng ta bị đặt dưới ách đô hộ của người Pháp thì tại nam Á, một quốc gia khác to lớn hơn nhiều cũng bị đặt dưới ách thống trị của người Anh. Đó là quốc gia Ấn-độ. Đế quốc Anh cũng hùng cường không thua kém gì đế quốc Pháp. Cả nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Ấn đều đứng lên để lật đổ chế độ thực dân và giành độc lập cho xứ sở mình.

Trong cuộc đấu tranh nầy, nhân dân Việt Nam phải dùng đến bạo lực, đến khí giới và đã trả giá cho nền độc lập bằng vô vàn sinh mạng và máu xương!

Trong khi đó, tại Ấn-độ, dưới tài lãnh đạo của thánh Gandhi, vị anh hùng của nhân dân Ấn và là người được dân Ấn gọi là thánh, người dân Ấn đấu tranh bằng đường lối ôn hoà bất bạo động mà thánh Gandhi học được từ Tin Mừng của Chúa Giêsu: "Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét các ngươi... Ai vả má bên nầy thì hãy chìa má bên kia ra..."

Bằng đường lối bất bạo động học từ Tin Mừng của Chúa Giêsu, Gandhi và nhân dân Ấn-độ đã lật đổ được đế quốc Anh, bẻ gảy ách thống trị của người Anh, giành lại độc lập cho quê hương xứ sở mà không cần đến khí giới.

Vài chục năm, tại đất nước Hoa-kỳ, Mục sư Martin Luther King cũng đã dùng Lời Chúa soi sáng cho cuộc đấu tranh bất bạo động của mình, và ông đã đạt được thắng lợi vẻ vang, buộc người da trắng nhìn nhận, tôn trọng quyền lợi và phẩm giá của người da đen mà không cần đến khí giới.

Như thế, Lời Chúa quả đã đem lại những giải pháp tối ưu cho mọi vấn đề và thách thức trong cuộc sống.

Hôm nay, Chúa Giêsu lại đem Tin Mừng của Ngài trao tặng miễn phí cho chúng ta để làm đèn soi cho chúng ta trong cuộc sống nhiều mây mù u tối nầy.

Cuộc đời chúng ta như những chuyến xe phải vượt những chặng đường đèo cheo leo hiểm trở giữa màn đêm. Lời Chúa vẫn mãi mãi là đèn soi dẫn. Ước gì chúng ta đón nhận Lời Chúa để soi sáng cho hành trình còn lại trong cuộc đời chúng ta.

 

28. Quà tặng vô giá--Lm Ignatiô Trần Ngà

Khi Chúa Giê-su đến thăm nhà, cô Mác-ta đã dành cho Người một cuộc tiếp đón rất nồng nhiệt. Cô "tất bật lo việc phục vụ" Chúa thật chu đáo, Cô "băn khoăn lo lắng nhiều chuyện"... để cho Chúa được vui lòng. Thế mà chẳng được Chúa khen, lại còn bị trách là: "Sao con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!" Thế có oan không chứ?

Thật ra, Chúa Giê-su không có ý trách Mác-ta về việc phục vụ hầu hạ tận tình của cô. Chúa chỉ muốn lưu ý Mác-ta rằng: Điều cần thiết hơn cả là lắng nghe, là đón nhận lời Người. Cô Maria đã khôn ngoan chọn làm việc nầy (tức lắng nghe Lời Chúa) và Chúa Giê-su cho đó là chọn phần tốt nhất.

Maria đã chọn phần tốt nhất vì lắng nghe lời Chúa là việc làm hệ trọng nhất trên đời, là khai thác một kho tàng vô giá không có gì trên cõi đời nầy có thể sánh được, là nắm lấy bí quyết để được sống hạnh phúc muôn đời...

***

Hôm nay, Chúa Giê-su cũng lại đến nhà chúng ta và trao gởi cho chúng ta những tâm tình, những lời châu ngọc, những giáo huấn khôn ngoan... như Người đã trao ban cho cô Maria hôm xưa. Đó là cuốn Tin Mừng.

Để có thể trao tặng cho chúng ta cuốn Tin Mừng như chúng ta hiện có hôm nay, Chúa Giê-su đã phải 'biên soạn' rất công phu. Người đã phải mất đến ba mươi ba năm mới hoàn thành tác phẩm rất vĩ đại nầy.

Thật ra, Chúa Giê-su không viết Tin Mừng nhưng Người đã dệt nên Tin Mừng bằng ba mươi ba năm cuộc sống.

Tin Mừng của Chúa Giê-su được dệt bằng chính cuộc sống dương gian của Người, kể từ lúc đầu thai trong lòng Đức Maria, sinh ra trong chuồng bò, trốn lánh sang Ai Cập, trở về sống đời niên thiếu ở Na-da-rét, rồi lớn lên trong phấn đấu nhọc nhằn, đổ mồ hôi lao động đổi lấy áo cơm...

Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô được tiếp tục dệt bằng ba năm thao thức rao giảng trên các nẻo đường Do-Thái, dệt bằng lòng yêu thương người tội lỗi, dệt bằng lòng thương xót các bệnh nhân và người đau khổ, dệt bằng lòng thứ tha vô hạn, bằng tình yêu không biên giới...

Tin Mừng Đức Giê-su được đan dệt bằng nước mắt và mồ hôi máu cùng nỗi buồn sầu quá đỗi trong vườn Cây Dầu, bằng roi đòn tươm máu, bằng vác thập giá đau thương, bằng những giọt máu cuối cùng vọt ra từ cạnh sườn bị đâm thâu trên thập giá...

Tin Mừng Đức Giê-su được thành hình như thế đó, không phải bằng chữ viết mà bằng cả cuộc đời, một cuộc đời sống cho tình yêu, chết cho tình yêu, yêu cho đến cùng...

Để trao tặng cho chúng ta một cuốn Tin Mừng, Đức Giê-su đã phải trả giá như vậy đó! Vậy thì Tác Phẩm nầy đắt giá biết bao!

Tin Mừng Đức Giê-su cũng là kho tàng khôn ngoan siêu đẳng của Thiên Chúa, được Đức Giê-su đem từ trời xuống ban tặng cho thế gian để nhờ Tin Mừng của Người, loài người học được sự khôn ngoan của Thiên Chúa, được sống trong an bình và được vui hưởng hạnh phúc muôn đời trên thiên quốc.

So với sự khôn ngoan được Chúa Giê-su bày tỏ trong Tin Mừng, thì sự khôn ngoan của thế gian nầy chỉ là rơm rạ, cỏ rác!

Tóm lại, Tin Mừng là kho tàng trên hết mọi kho tàng, là nguồn mạch khôn ngoan trổi vượt khôn ngoan thế gian, là nguồn phát sinh hạnh phúc và sự sống, là con đường đưa tới sự sống đời đời. Đây là một công trình vĩ đại được hình thành suốt ba mươi ba năm dương thế của Thiên Chúa Ngôi Hai với sự chỉ đạo của Chúa Cha và sự cộng tác của Chúa Thánh Thần.

Công trình vĩ đại nầy, quà tặng vô giá nầy, kho tàng quý báu nầy được Thiên Chúa trân trọng trao vào tay chúng ta. Vậy mà chúng ta không muốn nhận. Chúng ta quá thờ ơ hờ hững với tặng phẩm cao quý nầy; như thế là xúc phạm đến Đấng đã trao ban.

Có lẽ cũng như Mác-ta ngày xưa, chúng ta "lo lắng băn khoăn về nhiều chuyện quá" nên chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới Tin Mừng; cõi lòng chúng ta đầy ắp những tham vọng trần thế, những ham muốn phàm trần nên không còn chỗ cho Tin Mừng của Chúa bén rễ. Đáng tiếc thay!

***

Hôm xưa, khi Chúa Giê-su đang giảng giữa đám đông, một phụ nữ thán phục Người quá đỗi nên đã cất tiếng ca tụng: "Phúc thay người Mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!" Nhưng Chúa Giê-su trả lời người ấy rằng: "Đúng hơn phải nói rằng: "Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa". (Lc 11, 27-28)

Ước gì hôm nay chúng ta trân trọng đón nhận quà tặng vô giá Chúa ban là Tin Mừng sự sống và sốt sắng lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa, để mai ngày đáng được Thiên Chúa liệt vào hàng ngũ những người được hưởng phúc đời đời.

 

29. Maria đã chọn phần tốt nhất--Lm Giuse Nguyễn An Khang

Chỉ còn ba cây số, Đức Giêsu và các môn đệ sẽ đến trung tâm Giêrusalem, Người đã dừng lại tại làng Bêtania, vào nhà Mácta, Maria và Ladarô, ngôi nhà Người quen biết. Các sách Tin Mừng nói về họ ba lần. Gioan trong một câu ngắn ngủi, đã kể lại: "Đức Giêsu quý mến cô Macta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô" (Ga 11,5). Macta, một người hoạt động; Maria, một người trầm lặng. Như thế, Đức Giêsu đã có những người bạn hữu.

Hôm nay, khi Đức Giêsu vào nhà, Macta phục vụ bữa ăn, Maria ngồi dưới chân Chúa. Đức Giêsu nói chuyện với Maria... cô lắng nghe. Hai người cùng nhau nói điều gì? Chắc Đức Giêsu sẽ tâm sự với Maria về cái chết và sự Phục sinh của Người, Người lên Giêrusalem là vì việc đó. Nó chiếm trọn tâm hồn Người. Đã nhiều lần Người chia sẻ với các môn đệ, nhưng xem ra họ không hiểu. Với Maria, cô có hiểu không? Về câu chuyện tâm sự đó, há chẳng có một sự đồng cảm mầu nhiệm và tuyệt vời của tình bạn cởi mở đó sao?

Dẫu sao, nhờ Maccô và Gioan, ta biết người phụ nữ trực cảm này đã hiểu rõ hơn những người khác mầu nhiệm cái chết, sự mai táng và sự sống lại của Đức Giêsu. Đức Giêsu sẽ trở lại Bêtania trong nhà cô, những ngày trước Lễ Vượt Qua. Một cách dịu dàng, Maria sẽ thực hiện trước việc ướp xác bằng dầu thơm cho Người, một việc mà các phụ nữ khác không thể thực hiện được, khi họ đến mộ "ngày đầu tiên trong tuần", bởi mộ trống. Maria đã làm việc đó với sự tinh tế tuyệt diệu. Đức Giêsu hiểu điều đó: "Điều gì làm được, cô ấy đã làm. Cô đã lấy dầu thơm ướp xác Tôi, để chuẩn bị ngày mai táng" (Mc 14,8 & Ga 12,2-8).

Đang khi Maria tâm sự với Đức Giêsu, Macta tất bật lo việc phục vụ, đã nói: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Thầy bảo nó giúp con một tay". Hẳn ta có thể mong đợi Đức Giêsu kêu gọi Maria phải ngoan ngoãn giúp chị. Trong nhiều tình huống, Đức Giêsu yêu cầu ta phải phục vụ, phải yêu thương. Tuy nhiên, câu trả lời của Đức Giêsu lại ngược hẳn: "Macta! Macta, con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một điều cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất".

Vâng, Macta lo lắng, dao động quá nhiều. Đây là một đề tài được Đức Giêsu ưa thích. Người đã nói, "những lo lắng về đời sống có thể bóp nghẹt Lời Chúa đã được gieo vào lòng người" (Lc 8,14). Người yêu cầu các Tông đồ không nên bận tâm về của ăn và áo mặc (Lc 12, 22-26). Người cũng bảo chớ để lòng mình ra nặng nề vì lo lắng sự đời, trong lúc chờ đợi Con Người lại đến (Lc 21,34). Đức Giêsu không trách Mácta về công việc cũng như sự nhiệt tình tiếp đón tích cực của cô, nhưng trách sự căng thẳng, sự dao động thái quá mà dường như cô đặt vào công việc. Rõ ràng là một sự bực bội nào đó, làm cho cô co quắp lại với chính mình.

Phần chúng ta, có lẽ nhiều khi cũng giống như Mácta, lúc nào cũng chạy phi nước đại, bận trăm công nghìn việc. Cuộc sống thường ngày của chúng ta được cấu thành bởi hàng loạt những việc mọn và bổn phận, chia làm hai hạng: Cấp bách và chính yếu. Rất nhiều việc chúng ta làm được gọi là cấp bách, nhưng chỉ có ít việc là thực sự chính yếu. Chúng ta cần phân biệt giữa hai hạng đó. Như Mácta, chúng ta có xu hướng coi trọng việc cấp bách. Việc chính yếu, việc cần thiết lại bị coi là thứ yếu và để lại làm sau. Nhưng khi được làm, nó được làm cách vội vàng, chiếu lệ.

Làm sao chúng ta có thể biết đâu là việc chính yếu, việc hàng đầu của mình? Cách tốt nhất để nhận ra nó, là phải suy nghĩ theo cách cư xử thông thường của mình. Điều gì làm cho chúng ta tốn thời gian nhất? Điều gì làm ta phải bỏ nhiều năng lực nhất? Đích thực đó là việc chính yếu của ta.

Maria đã làm điều chính yếu: "Ngồi bên chân Chúa, nghe lời Người dạy". Khi khẳng định đó là điều cần thiết duy nhất của con người, bằng một phương thế triệt để và mạnh mẽ, Đức Giêsu đã thực hiện một mạc khải: Lời Chúa phải được ưu tiên hơn mọi lo lắng trần gian. Đức Giêsu cũng đã đưa ra cùng một yêu sách như thế trong những dịp khác: "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn bằng Lời từ miệng Chúa phán ra" (Lc 4,4), "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn Đấng đã sai Thầy" (Ga 3,34). Đức Giêsu không đánh giá thấp sự phục vụ mà Macta đem lại, khi bận rộn với việc nội trợ và bếp núc. Nhưng để đi theo Đức Giêsu, ngay cả những gì có giá trị nhân bản nhất cũng phải buông bỏ (Lc 5,11-18; 22,9). Hãy lắng nghe lời Chúa, đó là bổn phận đầu tiên của con người. Giảng dạy lời Chúa là bổn phận trước hết của nhà truyền giáo. Đức Giêsu nói đó là sự cần thiết duy nhất, tuyệt đối, triệt để. Đây không phải là lần đầu tiên cũng không phải lần cuối cùng, Đức Giêsu khẳng định điều đó. Không lắng nghe lời Chúa, chính là xây nhà trên cát (Lc 6,47-49), lắng nghe lời Chúa chính là trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc chân thật và duy nhất của Đức Maria không phải vì là Mẹ của Chúa, song vì Mẹ đã "lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành" (Lc 11,27-28).

Lòng chúng ta yêu thích lắng nghe Lời Chúa như thế nào? Có phải đó là phần tốt nhất của chúng ta? Chúng ta có ưu tiên không? Điều nào là điều chính yếu?

 

30. Chọn phần tốt nhất--Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Đức Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận bị chính quyền cộng sản bắt khi ngài đang tiến hành những công việc của Giáo phận như mở Đại Chủng viện, các Dòng tu, các khoá huấn luyện… Ai sẽ là người kế nhiệm để lo những công việc mục vụ quan trọng này?. Ở trong tù, ngài lo lắng và ưu tư từ ngày này qua ngày khác. Rồi đến một ngày, ngài nhận ra rằng: “Tất cả những gì tôi đang lo lắng là việc của Chúa. Còn lúc này đây, Chúa muốn cho tôi tìm chính ý Chúa. Tôi đang làm việc cho Chúa thì tại sao lại lo lắng những công việc của Chúa. Nếu đã đạt được ý Chúa thì công việc của Chúa khắc có người lo”. Và từ lúc ấy, ngài tìm được bình an. Ngài chỉ tìm ý Chúa, còn công việc của Chúa thì người này lo, người khác lo và Chúa quan phòng luôn tiếp tục. Ngài nhận định: “Không phải Maria ngồi yên dưới chân Chúa vì làm biếng. Phúc Âm không phong thánh cho người làm biếng. Maria chọn phần tốt nhất: nghe Chúa nói, để Lời Chúa thấm tận tâm can, lay chuyển mình, làm việc trong mình. Có gì hoạt động bằng sự lột xác, sự biến đổi ấy?” (ĐHV 147).

Tin mừng hôm nay kể chuyện hai chị em Matta và Maria đón tiếp Chúa Giêsu, mỗi người mỗi cách.

Maria ngồi bên chân Chúa với tâm thế lắng nghe. Cô không làm gì, không nói gì, chỉ ngồi nghe. Cô đón tiếp Chúa Giêsu với một phong cách tốt nhất.

Matta lo việc bếp núc, phục vụ ăn uống. Có lẽ Matta ganh tị với em nên khiếu nại với Chúa: "Thưa Thầy, em con để một mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay". Matta trách em, nhưng cũng là một cách kể công và khoe mình quan trọng và có thể coi đó như một lời trách khéo đối với Chúa Giêsu.

Nhưng Chúa nhẹ nhàng đáp lại: "Matta, Matta ơi, con lo lắng bận rộn nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất ". Chúa đã khen Maria biết chọn phần tốt nhất. Chọn phần tốt nhất không phải là chọn làm nhiều, nhưng là biết nghe, hiểu và làm theo ý Chúa. Việc lắng nghe để nhận ra thánh ý Chúa nhiều khi đòi hỏi người ta phải biết cầu nguyện, phải giữ một tâm hồn thanh tĩnh và phải biết tập trung cao độ để nhận ra được thánh ý Chúa.

Người ta thường giải thích câu nói của Chúa Giêsu như một sự đề cao chiêm niệm trên hoạt động. Matta tiêu biểu cho đời sống hoạt động, lo lắng về những nhu cầu vật chất. Maria tiêu biểu cho đời sống chiêm niệm, lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện. Trên thiên đàng người ta chỉ còn chiêm ngắm Thiên Chúa trong niềm hạnh phúc vĩnh cửu. Như thế, Maria đã đạt tới cùng đích của đời sống Kitô hữu. "Phần hơn" của cô là ở chỗ đó. Có Chúa rồi, "chiếm hữu" được Chúa rồi thì còn gì hơn nữa!

Chúa Giêsu đón nhận sự phục vụ ân cần của Matta và đưa ra bậc thang giá trị, cần “chọn phần tốt nhất”. Chọn Lời Chúa và lắng nghe. Đó chính là “phần tốt nhất” như lời Tv 119: “Lạy Chúa, con đã nói, phần của con là tuân giữ Lời Ngài ”. Lắng nghe Lời chính là xây dựng nhà mình trên đá (Lc 6,47-49). Lắng nghe Lời giúp tâm hồn trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc của Đức Maria là “lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 11,27-28).

Đối với Chúa Giêsu, cả hai cách phục vụ của Matta và Maria đều cần thiết và bổ túc cho nhau. Ðiều Chúa muốn nhắc cho Matta là: việc cốt yếu đối với người môn đệ là “nghe Lời Chúa và đem ra thực hành”. Nhiều lần, Chúa nói về điều cốt yếu ấy: "Phúc cho ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 11,28); "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,21; Mt 12, 46-50; Mc 3, 31-35). Điều cốt yếu ở đây không phải là ưu tiên về thời gian (làm cái này trước rồi làm cái kia sau) hay số lượng (làm "việc Chúa" nhiều, làm "việc đời" ít)... nhưng ưu tiên về giá trị. Khi làm việc gì, nếu mình tận tình làm việc cho đẹp lòng Chúa, như Chúa muốn, thì mình vẫn đang chọn phần tốt nhất như cô Maria bởi vì mình vẫn đang qui chiếu về Chúa, đang lắng nghe lời Chúa và thi hành thánh ý Chúa về đời mình. Thánh Phaolô dạy: "Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh chị em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa" (1 Cr 10,31).

Hoạt động và cầu nguyện là nhịp sống đời Kitô hữu. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động và hoạt động là kết quả của cầu nguyện. Cầu nguyện làm nền tảng cho mọi hoạt động. Nhờ cầu nguyện nên việc phục vụ tha nhân được tốt hơn. Mẹ Têrêxa Calcutta và các Nữ tu dù bận rộn công việc hằng ngày vẫn luôn dành thời giờ tham dự Thánh lễ, chầu Thánh Thể. Mẹ luôn là gương sáng cho các Nữ tu, cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày dành một giờ chầu Mình Thánh Chúa, sau đó mới đến các nơi nghèo nàn ở Calcutta để chăm sóc những người nghèo khổ hoặc đi vào trong các căn nhà tồi tàn giúp những người hấp hối được chết lành.

Tham dự Thánh lễ chính là lúc chúng ta như Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu lắng nghe Lời Ngài. Đến với Chúa, xin đừng dè sẻn cò kè thời giờ, đừng lật đật vội vã đến trễ về trước, xin đừng dự lễ kiểu “đạo gốc cây”, “đạo vòng vòng” ở ngoài sân nhà thờ. Xin đừng đến với Chúa chỉ vì bắt buộc, miễn cưỡng, sợ tội. Hãy đến với Chúa như một người con thảo, đến để gặp Chúa, lắng nghe Lời Chúa, đến là vì lòng yêu mến Chúa và muốn sống hiếu thảo với Ngài mà thôi.

Thánh lễ cũng chính là lúc Chúa đến thăm và ban ơn sủng cho chúng ta. Hãy quý trọng sự hiện diện của Chúa. Hãy tham dự tích cực, linh động, cầu nguyện sốt mến, thưa chuyện với Chúa. Lời Chúa và Thánh Thể ban thêm cho chúng ta đức tin, tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ để chúng ta dấn thân phục vụ anh em.

Lạy Chúa Giêsu,

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe Lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, xin cho con thoát được lên cao nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con.

Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và khuôn mặt thật của Chúa. Amen. (Mana)

 

31. Cầu nguyện hướng tới phục vụ--Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Mẹ Têrêxa Calcutta chia sẻ bí quyết: "Nếu chúng ta cầu nguyện thì chúng ta mới tin; nếu chúng ta tin thì chúng ta mới yêu thương; nếu chúng ta yêu thương thì chúng ta mới phục vụ. Bí quyết sống của tôi hết sức đơn sơ. Tôi cầu nguyện. Và trong cầu nguyện, tôi say mê yêu mến Chúa Kitô, và tôi hiểu rằng cầu nguyện với Chúa là yêu mến Chúa, và điều này có nghĩa là chu toàn Lời Chúa dạy. Hãy nhớ những lời của Phúc Âm theo thánh Mathêu:Ta đói và các con đã không cho ta ăn, Ta khát và các con đã không cho ta uống; ta là khách lạ và các con đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các con đã không cho mặc. Ta bệnh hoạn và bị cầm tù, các con đã không đến thăm Ta.

Những người nghèo của tôi ở mức độ tận cùng của xã hội là như Chúa Kitô chịu đau khổ. Nơi họ, Con Thiên Chúa sống và chết, và qua họ Thiên Chúa chỉ cho tôi nhìn thấy dung mạo thật của Ngài. Đối với tôi, cầu nguyện có nghĩa là sống 24 giờ một ngày hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh của Chúa Giêsu, là sống nhờ Ngài, trong Ngài và với Ngài.

Nếu chúng ta cầu nguyện, thì chúng ta mới tin; nếu chúng ta tin, thì chúng ta mới yêu thương; nếu chúng ta yêu thương thì chúng ta mới phục vụ. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể đặt tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa trong hành động cụ thể, là phục vụ Chúa Kitô trong dung mạo cùng khổ của nguời nghèo".

Sách Giáo Lý Công Giáo diễn tả: "cầu nguyện thế nào thì sống như vậy" (số 2725). Đời sống Kitô hữu đích thực vừa là một hoạt động có chiêm niệm vừa là một chiêm niệm có hoạt động. (Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu, số 23).

Cầu nguyện và hành động đều rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu. Cần thực hiện cách quân bình và điều hòa trong cuộc sống hàng ngày.

Tin mừng hôm nay kể chuyện hai chị em Matta và Maria đón tiếp Chúa Giêsu, mỗi người mỗi cách. Maria ngồi bên chân Chúa với tâm thế lắng nghe. Cô không làm gì, không nói gì, chỉ ngồi nghe. Cô đón tiếp Chúa Giêsu với một phong cách tốt nhất.

Matta lo việc bếp núc, phục vụ ăn uống. Có lẽ Matta ganh tị với em nên khiếu nại với Chúa: "Thưa Thầy, em con để một mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay". Matta trách em, nhưng cũng là một cách kể công và khoe mình quan trọng và có thể coi đó như một lời trách khéo đối với Chúa Giêsu.

Nhưng Chúa nhẹ nhàng đáp lại: "Matta, Matta ơi, con lo lắng bận rộn nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất ". Chúa đã khen Maria biết chọn phần tốt nhất. Chọn phần tốt nhất không phải là chọn làm nhiều, nhưng là biết nghe, hiểu, và làm theo ý Chúa. Việc lắng nghe để nhận ra thánh ý Chúa nhiều khi đòi hỏi người ta phải biết cầu nguyện, phải giữ một tâm hồn thanh tĩnh và phải biết tập trung cao độ để nhận ra được thánh ý Chúa. Đức Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận bị chính quyền Cộng sản bắt khi ngài đang tiến hành những công việc của giáo phận như mở Đại Chủng viện, các dòng tu, các khoá huấn luyện... Ai sẽ là người kế nhiệm để lo công việc mục vụ quan trọng này? Ngài lo lắng ngày này qua ngày khác. Rồi đến một ngày, ngài nhận ra rằng: "Tất cả những gì tôi đang lo lắng là việc của Chúa. Còn lúc này đây, Chúa muốn cho tôi tìm chính ý Chúa. Tôi đang làm việc cho Chúa thì tại sao lại lo lắng những công việc của Chúa. Nếu đã đạt được ý Chúa thì công việc của Chúa khắc có người lo". Và từ lúc ấy, ngài tìm được bình an. Ngài chỉ tìm ý Chúa, còn công việc của Chúa thì người này lo, người khác lo và Chúa quan phòng luôn tiếp tục. Ngài nhận định "Không phải Maria ngồi yên dưới chân Chúa vì làm biếng. Phúc Âm không phong thánh cho người làm biếng. Maria chọn phần tốt nhất: nghe Chúa nói, để Lời Chúa thấm tận tâm can, lay chuyển mình, làm việc trong mình. Có gì hoạt động bằng sự lột xác, sự biến đổi ấy?" (ĐHV 147).

Người ta thường giải thích câu nói của Chúa Giêsu như một sự đề cao chiêm niệm trên hoạt động. Matta tiêu biểu cho đời sống hoạt động, lo lắng về những nhu cầu vật chất. Maria tiêu biểu cho đời sống chiêm niệm, lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện. Trên thiên đàng người ta chỉ còn chiêm ngắm Thiên Chúa trong niềm hạnh phúc vĩnh cữu. Như thế, Maria đã đạt tới cùng đích của đời sống Kitô hữu. "Phần hơn" của cô là ở chỗ đó. Có Chúa rồi, "chiếm hữu" được Chúa rồi thì còn gì hơn nữa!

Chúa Giêsu đón nhận sự phục vụ ân cần của Matta và đưa ra bậc thang giá trị, cần "chọn phần tốt nhất". Chọn Lời Chúa và lắng nghe. Đó chính là "phần tốt nhất" như lời Tv 119: "Lạy Chúa, con đã nói, phần của con là tuân giữ Lời Ngài ". Lắng nghe Lời chính là xây dựng nhà mình trên đá (Lc 6,47-49). Lắng nghe Lời giúp tâm hồn trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc của Đức Maria là "lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 1 1,27-28).

Đối với Chúa Giêsu, cả hai cách phục vụ của Matta và Maria đều cần thiết và bổ túc cho nhau. Điều Chúa muốn nhắc cho Matta là: việc cốt yếu đối với người môn đệ là "nghe Lời Chúa và đem ra thực hành". Nhiều lần, Chúa nói về điều cốt yếu ấy: "Phúc cho ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 11,28); "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,21; Mt 12, 46-50; Mc 3, 31-35).

Hoạt động và cầu nguyện là nhịp sống đời Kitô hữu. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động và hoạt động là kết quả của cầu nguyện. Cầu nguyện làm nền tảng cho mọi hoạt động.Nhờ cầu nguyện nên việc phục vụ tha nhân được tốt hơn. Mẹ Têrêxa Calcutta và các Nữ tu dù bận rộn công việc hằng ngày vẫn luôn dành thời giờ tham dự Thánh lễ, chầu Thánh Thể. Mẹ luôn là gương sáng cho các Nữ tu, cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày dành một giờ chầu Mình Thánh Chúa, sau đó mới đến các nơi nghèo nàn ở Calcutta để chăm sóc những người nghèo khổ hoặc đi vào trong các căn nhà tồi tàn giúp những người hấp hối được chết lành.

Tham dự Thánh lễ chính là lúc chúng ta như Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu lắng nghe Lời Ngài. Đến với Chúa, xin đừng dè sẻn cò kè thời giờ, đừng lật đật vội vã đến trễ về trước, xin đừng dự lễ "đạo gốc cây", "đạo vòng vòng" ở ngoài sân nhà thờ. Xin đừng đến với Chúa chỉ vì bắt buộc, miễn cưỡng, sợ tội. Hãy đến với Chúa như một người con thảo, đến để gặp Chúa, lắng nghe Lời Chúa, đến là vì lòng yêu mến Chúa và muốn sống hiếu thảo với Ngài mà thôi.

Thánh lễ cũng chính là lúc Chúa đến thăm và ban ơn sủng cho chúng ta. Hãy quý trọng sự hiện diện của Chúa. Hãy tham dự tích cực, linh động, cầu nguyện sốt mến, thưa chuyện với Chúa. Lời Chúa và Thánh Thể ban thêm cho chúng ta đức tin, tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ để chúng ta dấn thân phục vụ anh em.

Lạy Chúa Giêsu,

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe Lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, xin cho con thoát được lên cao nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con.

Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và khuôn mặt thật của Chúa. Amen. (Mana)

 

32. Thời giờ cho Chúa và cho nhau--Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Hóa ra một món quà tặng không quan trọng bằng sự hiện diện bên nhau. Vì món quá có thể mua được, có thể thay thế được, nhưng không thay thế một người trong trái tim một ai đó. Có lẽ vì thế mà nhiều người cảm thấy cô đơn khi thiếu sự chia sẻ, sự hiện diện của người mình yêu. Họ được chu cấp tiền. Họ có thể đang ngồi trên nhung lụa nhưng vẫn không hạnh phúc cho bằng có người mình yêu bên cạnh.

Thế nhưng, vẫn còn đó những người chồng bỏ rơi vợ con chỉ vì quá chú trọng đến công việc để kiếm tiền. Vẫn còn đó những người cha người mẹ chỉ mải mê công việc mà thiếu quan tâm đến con cái. Vẫn còn đó những người con nại vào nhiều lý do để trì hoãn việc về thăm gia đình, thăm cha mẹ. Họ đã vì công việc, vì đồng tiền mà để cho những người thân của mình sống trong cô đơn. Họ đâu hiểu rằng: tình người quan trọng hơn đồng tiền. Ai cũng cần được quan tâm, được hỏi han, được chia sẻ, nhưng đôi khi chúng ta lại tưởng chỉ cần hàng tháng mang về ít tiền là đủ rồi! Đây là một sai lầm khiến cho biết bao gia đình tan vỡ.

Chúa Giê-su trong thân phận con người, Ngài cũng đề cao tình người. Mân cao cỗ đầy là tốt, nhưng tốt hơn vẫn là thời giờ dành cho nhau. Ngài đã trách Matta lo lắng nhiều chuyện. Ngài trách Matta lấy phụ thành chính. Ngài đề cao Maria, biết chọn phần tốt nhất là dành thời giờ cho Chúa và bên Chúa. Bữa ăn biểu lộ lòng hiếu khách nhưng bữa ăn sẽ mất ngon nếu thiếu những câu chuyện, những lời nói rộn ràng với nhau. Maria đã chọn phần tốt hơn. Khi cô không vì công việc mà bỏ bê khách. Cô ân cần, chu đáo ngồi bên Chúa để lắng nghe và tâm sự với Chúa.

Ngày hôm nay, thế giới càng văn minh, con người càng vội vã, bận rộn. Người ta có trăm ngàn công việc để quan tâm nên tình người bị xao nhãng. Người ta mải mê với công danh sự nghiệp mà quên đi tình người. Điều đáng sợ cho con người hôm nay là không còn thời giờ bên Chúa. Họ đi lễ vội vàng. Họ đến muộn nhưng về sớm. Họ đi lễ nhưng không gặp Chúa vì chỉ tranh thủ đi lễ cho xong. Họ có thể ngồi hàng giờ bên quán cafe để tán ngẫu với nhau nhưng lại không thể ngồi yên đến năm phút để tưởng nhớ đến Chúa. Họ bận rộn công việc làm ăn buôn bán mà quên rằng có một Đấng luôn chúc phúc cho việc làm ăn của mình. Họ quên sự hiện diện của Chúa. Họ quên cám ơn Chúa. Họ mải mê với công việc và vui chơi giải trí mà quên rằng cuộc đời của họ được như vậy là bởi ơn trời ban xuống.

Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy quảng đại dành thời giờ cho Chúa. Chúa vẫn viếng thăm chúng ta. Chúa vẫn đang lặng lẽ viếng thăm hồn ta. Hãy mở rộng lòng đón nhận Chúa. Hãy ngồi lại bên Chúa để tạ ơn về những ơn lành Chúa ban, để thưa chuyện với Chúa về những khó khăn mà chúng ta đang trải qua.

Việc chúng ta dành thời giờ cho Chúa xem ra có ích cho chúng ta hơn là cho Chúa. Vì qua thời giờ bên Chúa ta kín múc được muôn vàn ơn thánh của Chúa. Ta cầu xin ơn trên ban xuống cho cuộc đời chúng ta. Ta phó dâng vào sự quan phòng của Chúa những ưu tư khó khăn trong cuộc đời chúng ta.

Xin Chúa giúp chúng ta biết ưu tiên cho việc thờ phượng Chúa và biết dành thời giờ cho nhau. Ước gì chúng ta đừng phung phí thời giờ trong những giải trí vô bổ, những đam mê bất chính. Amen.

 

33. Chúa viếng thăm--Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Người Việt Nam thường có câu: "lời chào cao hơn mân cỗ". Vì cái tình quý hơn là cái ăn cái mặc. Người ta bị bỏ đói một bữa chẳng sao nhưng sẽ cay đắng cả đời khi bị người đời bỏ rơi, hay bị đối xử ngược đãi xem thường. Thực vậy, cái qúy giá ở đời là được anh em yêu thương, tôn trọng và nhất là luôn được anh em chia sẻ, cảm thông. Dù cuộc đời có đau khổ. Dù cuộc đời có gặp bất hạnh hay đói khổ nhưng được anh em đùm bọc, cảm thông, an ủi thì vẫn cảm thấy lạc quan và bình an.

Người ta kể rằng thời Ông Abraham Lincoln làm Tổng Thống của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ông vẫn thường có thói quen đến thăm các nhà thương để có dịp chuyện vãn với các anh em thương binh trong thời nội chiến.

Một hôm, bác sĩ dẫn Tổng Thống tới phòng các thương binh đang được điều trị và đến bên một bệnh nhân rất nặng. Với giọng nhẹ nhàng, ôn tồn ông hỏi:

- Tôi có thể làm chút việc gì giúp anh được không?

Có lẽ không nhận ra người khách đến thăm mình là ai, nên bệnh nhân gắng gượng nói:

- Xin ông làm ơn viết lá thư cho mẹ tôi.

Người ta trao bút giấy cho Tổng Thống, và ông bắt đầu viết xuống những gì bệnh nhân có thể nói lên được.

"Mẹ rất yêu dấu của con! Con bị thương nặng trong khi thi hành nghĩa vụ quốc gia. Có lẽ con sẽ không bao giờ bình phục được nữa. Xin mẹ đừng khóc nhiều vì con. Xin mẹ hôn hai em Mary và John dùm con. Nguyện xin Chúa chúc lành cho mẹ, cho ba và hai em."

Nói tới đây, người thương binh ngừng vì không còn sức để nói tiếp nữa, nên ông Lincoln ký thay cho anh ta và thêm: "Viết thay cho con trai của bà. Ký tên: Abraham Lincoln."

Bệnh nhân xin cho xem lại những gì người khách đã viết thay cho mình, anh ta sửng sốt khi nhận ra người đã tới thăm mình. Anh hổn hển hỏi với giọng ngạc nhiên:

- Ông thật là Tổng Thống của Hoa Kỳ ư?

Abraham Lincoln trả lời cách âu yếm.

- Phải chính tôi đây.

Tổng Thống hỏi thêm xem mình còn có thể giúp anh thương binh được việc gì nữa chăng. Gương mặt anh bỗng chốc bừng lên, anh sung sướng nói:

- Xin Tổng Thống cầm tay tôi, và giúp tôi đi đến cùng.

Trong căn phòng bé nhỏ, ông Tổng Thống với tâm hồn của người cha, âu yếm cầm lấy tay chàng thương binh trẻ trong tay mình và tiếp tục nói với anh những lời khích lệ thân mật cho tới khi anh ta trút hơi thở cuối cùng.

Lời Chúa hôm nay cũng gợi lại một cuộc viếng thăm đầy tình người mà Chúa Giêsu đã dành cho gia đình ở Betania. Ngài đã đến với gia đình Matta và Maria. Cả hai cô đều vui mừng vì có Chúa viếng thăm. Kẻ thì bận rộn rót nước, nấu ăn. Người thì ríu rít chuyện trò bên Chúa. Thật là hạnh phúc cho gia đình côi cút nay lại được ấm áp vui tươi vì có Chúa hiện diện. Thế nhưng, Matta lại quá chú trọng đến việc thiết đãi tiệc tùng. Cô muốn làm một bữa ăn thật thịnh soạn cho Chúa. Cô còn muốn cả em cô hãy ngưng tâm sự với Chúa để cùng giúp cô chuẩn bị bữa ăn. Cô đã mạnh dạn đề nghị với Chúa: xin Thầy hãy nói với Maria giúp con một tay. Lời đề nghị xem ra không được chấp nhận. Vì Chúa đến đây không vì miếng ăn. Vì Chúa không đến để được phục vụ. Con đường Chúa đến với tha nhân là để yêu thương và phục vụ. Chúa không muốn trở thành gánh nặng cho tha nhân. Sự hiện diện của Chúa nơi ngôi nhà này là để nói lên sự quan tâm, tình liên đới và cảm thông. Thế nên, Chúa đã nói với Matta: "Matta, con lo lắng nhiều chuyện, điều quan yếu không phải là việc phục vụ Chúa, mà hệ tại ở việc lắng nghe lời Chúa dạy bảo".

Cuộc sống hôm nay cũng thật tất bật. Người ta ít có thời giờ để tâm sự với nhau. Người ta càng ít có thời giờ để viếng thăm nhau. Không có tâm sự sẽ không có sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau. Không có những cuộc viếng thăm tình người sẽ phôi phai theo thời gian. Đôi khi những người trong gia đình cũng chẳng có thới giờ viếng thăm nhau, hay chuyện trò với nhau. Thiếu sự viếng thăm tình người như xa dần. Thiếu sự đối thoại sẽ đánh mất sự cảm thông. Vì tình yêu đích thực không dừng lại ở đầu môi chóp lưỡi. Tình yêu không dừng lại ở việc chạnh lòng thương xót mà phải dấn thân để xoa dịu những nỗi đau của đồng loại, để băng bó những thương tích của anh em. Tình yêu đích thực luôn đòi hỏi sự gần gũi, sự cảm thông và nâng đỡ. Chính nhờ sự gần gũi người ta mới hiểu nhau, thông cảm với nhau và nâng đỡ cho nhau.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết dành thời giờ cho nhau qua những việc viếng thăm, qua những việc giúp đỡ, qua sự săn sóc đầy tình người, Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết quên đi cái tôi của mình để lo cái lo của anh em, để biết sống mình vì mọi người, để cùng nhau xây dựng một thế giới đầy ắp tình yêu thương. Amen.

 

34. Mời Chúa vào nhà--Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc

Tin mừng Lc 10, 38-42: Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại câu chuyện hai chị em Matta và Maria tiếp đón Chúa Giêsu vào nhà.

Cách đây ít lâu, trong một bài báo, một phụ nữ đã kể lại việc trang trí nội thất của gia đình bà như sau:

Mọi công việc trang trí đều được vợ chồng tâm đầu ý hợp với nhau cho đến khi chồng bà dùng quyền độc đoán bảo người trang trí nội thất treo một bức ảnh Chúa Giêsu kích thước cỡ lớn: 40x50cm vào chỗ nổi bật nhất trong nhà. Bà cố gắng thuyết phục chồng đổi ý, nhưng ông vẫn cứ khăng khăng không chịu.

Tuy nhiên, đang lúc tranh cãi với nhau, bà chợt nhớ lại những lời của Chúa Giêsu: "Bất cứ ai nhìn nhận Ta trước mặt kẻ khác, thì Ta cũng sẽ nhìn nhận người ấy trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời" (Mt 10,32). Thế là bà chịu nghe ý kiến của chồng.

Giờ đây bà nói, bà rất vui vì đã nghe theo ý chồng, vì bà nghĩ rằng bức ảnh Chúa Giêsu đã gây được ảnh hưởng đáng kể trên gia đình bà lẫn trên bạn bè khách khứa của bà. Chẳng hạn, ngày nọ có người khách lạ, sau khi chăm chú nhìn vào bức ảnh liền nói với bà: "Bà biết không, Chúa Giêsu trên bức ảnh kia không nhìn vào bà đâu, Ngài nhìn xuyên qua tâm hồn bà đó!" Và đêm nọ, một người bạn, sau khi ngồi ngắm bức ảnh cũng thốt lên: "Lúc nào tôi cũng cảm thấy trong nhà chị rất bình an". Tuy nhiên, bà nói thêm, ấn tượng mạnh mẽ nhất tác động trên các bạn bè khách khứa xã hội tôi là mỗi khi nhìn tấm ảnh Chúa Giêsu thì tâm hồn họ luôn được nâng lên cao".

Cuối cùng, bà nói rằng, có thể mọi người sẽ cười và không chừng còn nhạo báng những nhận xét trên đây của bà, nhưng bà chẳng bận tâm. Bà nói: "Theo thiển ý của tôi, một khi bạn biết mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được biến đổi không còn như trước nữa".

Thưa anh chị em,

"Một khi bạn biết mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được biến đổi". Sách Sáng Thế ở Bài đọc hôm nay đã kể lại câu chuyện ông Abraham mời Chúa vào nhà. Abraham vồn vã, nhã nhặn ra đón khách lạ theo kiểu đông phương. Ông sấp mình lạy, miệng mời Chúa ghé lại. Ông đặt ghế cho Chúa ngồi nghĩ mát, lấy nước cho Chúa rửa chân, lấy bánh và thịt mời Chúa dùng. Ông đứng hầu hạ phục vụ. Abraham được Chúa hứa ngay: "Sang năm vào độ nầy, tôi sẽ ở lại thăm ông, và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai". Thế là ông được một người con nối dõi tông đường trong lúc tuổi già và son sẻ.

Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại câu chuyện hai chị em Matta và Maria tiếp đón Chúa Giêsu vào nhà. Matta người chị vốn có lòng hiếu khách và muốn tỏ ra lòng mộ mến sâu xa đối với một bậc thầy, là bạn của gia đình, nên chị định trổ tài nấu dọn một bữa ăn thật ngon để chiêu đãi Chúa. Chị lăng xăng chạy lên chạy xuống, lo sao cho mọi sự chu đáo…

Trong khi đó, Maria lại nghĩ rằng không nên để Chúa ngồi đơn độc một mình. Vả lại, Chúa cũng chẳng muốn chỉ vác bụng đến ăn không, nhưng còn muốn chia sẻ cho hai chị em những lời ban sự sống. Do đó, một người thì muốn nói, một người lại thích nghe, quên hết cả mọi sự!

Thế là Matta nổi cáu, trách Chúa không để ý đến mình, để mặc mình vất vả! Nỗi ghen tức kể ra cũng chính đáng. Nhưng Chúa cũng trách nhẹ Matta sao lo lắng nhiều chuyện quá làm chi. Chuyện ăn uống đâu có quan trọng đến nỗi ấy. Chỉ có một chuyện cần thiết thôi: "Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất".

Có người giải thích câu nói: "Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi", cho rằng Chúa muốn nói: "Chỉ cần làm một món ăn thôi cũng đủ rồi!" Lời giải thích ấy không phải là vô căn cứ, bởi vì thực ra cũng có thể dịch và hiểu như vậy. Tuy nhiên, dù giải thích theo nghĩa thông thường đi nữa, thì lời trách nhẹ của Chúa Giêsu vẫn chính đáng; bởi vì trong chuyện tiếp khách, vấn đề không phải chúng ta chỉ biết cho, và người khách chỉ biết nhận, mà chính chủ nhà cũng phải biết nhận và để cho khách niềm vui được chia sẻ. Cho và nhận, đây không phải là có ý nói tới những gì là vật chất, như ăn uống, quà cáp … mà trước hết là sự hiện diện cũng như những câu chuyện trao đổi. Một người bạn thân khi đến với chúng ta, dù có được mời đến để dự tiệc, cũng không bao giờ chỉ biết vác bụng đến, nhưng còn đến trước hết với tình bạn của mình: người ấy muốn gặp chúng ta , muốn nói chuyện với chúng ta, còn chuyện ăn uống chỉ là một phương tiện, một bối cảnh được tạo ra, như người xưa thường nói: "Miếng trầu là đầu câu chuyện".

Vậy, nếu được phép góp ý kiến cho hai chị em Matta và Maria, thì chúng ta sẽ có thể đề nghị như sau: hai chị nên phân công với nhau rõ ràng, mỗi người một việc. Nhưng làm sao luôn có người ngồi đó tiếp chuyện với Chúa, và nếu hai chị đã biết tính Chúa thích ăn uống giản dị, thì cũng không nên trổ tài nấu bếp làm gì cho phí thời giờ, Chúa đến không chỉ để ăn uống với hai chị, mà Ngài còn muốn chia sẻ Lời Thiên Chúa cho hai chị nữa, nên cũng phải biết tỏ ra sốt sắng đón nghe Lời Chúa nói với các chị nữa.

Còn chúng ta thì sao, thưa anh chị em?

Chúng ta có thể vì quá mãi mê công việc làm ăn đến nỗi quên mất lý do khiến chúng ta lao khổ như thế. Chúng ta có thể vì quá mãi mê kiếm sống đến nỗi quên mất chính mục đích của cuộc sống. Chúng ta có thể lu bu đeo đuổi những cái mà đồng tiền có thể mua sắm được để rồi quên béng những gì mà đồng tiền không thể mua sắm được. Và chúng ta vô tình đã biến thành những Matta nhiệt tình thật đấy, nhưng lăng xăng lo lắng đủ chuyện, mà quên mất "một chuyện cần thiết nhất": lắng nghe Lời Chúa, tiếp chuyện với Ngài.

Chúng ta lo xây cất cho Chúa những ngôi thánh đường đồ sộ lộng lẫy, nhưng rồi mấy ai trong chúng ta âm thầm tới ngồi dưới chân Chúa để nghe Chúa nói với chúng ta Lời Chúa, Lời làm cho chúng ta được sống. Bởi vì "con người sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ Lời Chúa nữa" (Mt 4,4). Thực tế, cuộc sống của chúng ta rất bận rộn. Chúng ta không có thời giờ để ngồi dưới chân Chúa. Chúng ta muốn cầu nguyện nhiều hơn, dự lễ ngày thường nhiều hơn, đọc Kinh Thánh hay sách báo đạo đức nhiều hơn. Nhưng chúng ta không có thời giờ.

Quả thật, Chúa muốn chúng ta vừa là Matta, vừa là Maria: vừa lao động vừa cầu nguyện. Chúa không nói rằng khi chúng ta làm việc như Matta, chúng ta không thể cầu nguyện như Maria, hay ngược lại. Hai việc đều liên hệ với nhau. Chúng ta phải vừa là Matta vừa là Maria. Ngày nay, một người phụ nữ danh tiếng nhất thế giới là một nữ tu bác ái, một Matta thời đại: Mẹ Têrêxa thành Calcutta Ấn Độ. Mẹ đã hiểu và đã truyền lại cho con cái thiêng liêng của Mẹ tinh thần Tin Mừng hôm nay. Cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày để ra một giờ để chầu Mình Thánh Chúa trước khi xuống "địa ngục Calcutta" để săn sóc những người nghèo khổ hoặc đi vào trong các "nhà hấp hối" để giúp những người sắp chết được an nghỉ trong Chúa.

Anh chị em thân mến,

Thánh lễ là lúc chúng ta là những Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu lắng nghe Lời Ngài. Đến với Chúa, chúng ta đừng tiếc thời giờ, đừng lật đật vội vã đến trễ về trước, sợ thiệt thòi, mất mát, hay đến ở ngoài sân nhà thờ không chủ tâm dự lễ, không đón nhận Lời Chúa, Mình Thánh Chúa, không mời Chúa vào nhà. Chúng ta cũng đừng đến với Chúa ngày Chúa Nhật, chỉ vì bắt buộc, miễn cưỡng, sợ mắc tội. Hãy đến với Chúa như một người con, một người bạn, đến để tìm Chúa, gặp Chúa, lắng nghe Lời Chúa, chỉ vì tình yêu mến Chúa mà thôi.

Thánh lễ còn là lúc Chúa đến thăm chúng ta như đã đến với hai chị em Matta và Maria. Hãy quý trọng sự hiện diện của Ngài trong lòng chúng ta và biết tiếp chuyện với Ngài, để sự hiện diện của Chúa và Lời Chúa nuôi sống chúng ta ngày hôm nay, ngày mai và cho đến cuộc sống muôn đời.

 

35. “Con lo lắng bối rối nhiều chuyện”--André Sève--‘Tin Mừng Chúa Nhật’

Tôi thèm muốn được ở với Mácta, người phụ nữ độ lượng, hiếu khách. Hạnh phúc biết bao khi được tiếp đón Chúa Giêsu! Thế nhưng hơi thất vọng, Ngài đã rầy chị, một lần nữa Ngài mến Maria hơn.

Mến Maria hơn sao? Chắc chắn rằng Ngài quý mến tấm lòng tự do hoàn toàn lắng nghe Ngài của chị. Ngài không khinh dể Mácta, Ngài khó chịu do sự ân cần của chị. Phải hiểu sự lắng nghe và sự ân cần được nói đến ở đây.

Trong khi biết rằng những lo lắng không ngừng rơi xuống trên chúng ta. Chúa Giêsu không muốn chúng ta để cho những lo lắng ấy chiếm quá nhiều chỗ. Vì như thế là nghi ngờ Thiên Chúa, là mỉa mai kinh “Lạy Cha”, lời kinh của sự không lo lắng, của tấm lòng tự do. Chỉ có một ước muốn lớn lao duy nhất: “Xin cho Nước Cha trị đến!” và một niềm tin cũng lớn lao không kém: “Xin cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày”. Thánh Têrêxa nói: “Chỉ cho ngày hôm nay mà thôi”.

Đúng như ý tưởng của Chúa Giêsu: “Đừng băn khoăn chi cho ngày mai, ngày mai sẽ lo cho ngày mai… Trước tiên hãy tìm Nước Trời, còn mọi điều khác sẽ ban thêm cho các ngươi” (Mt. 6, 33-34). Nhưng chính cái phần cho thêm này làm chúng ta quá bận lòng, và Chúa Giêsu tuyên chiến với những nỗi lo xấu xa này của chúng ta: “Các ngươi lo ăn gì, mặc gì… Các ngươi đừng lo phải nói gì trước toà án… Các ngươi đừng để cho những cây gai lo lắng bóp chết Lời Chúa… Các ngươi đừng để cho những lo toan đè nặng tấm lòng các ngươi…”. Chắc Ngài đã phải kinh ngạc vì thấy nhiều người lo lắng đến thế, mà Ngài thì Ngài đòi cần phải có tinh thần hoàn toàn tự do.

Không thể lui tới với Ngài nếu chúng ta không luôn luôn chú ý giữ gìn sự tự do của chúng ta. Để lắng nghe hoặc để phục vụ Ngài, chúng ta cần loại bỏ các lo lắng thái quá. Chúng ta đã phá hoại rất nhiều sự lắng nghe của chúng ta, mọi người đều dễ dàng nhận ra điều đó.

Chúng ta ít chú ý đến việc các lo toan xâm nhập vào sự phục vụ. Sự lo lắng thái quá thì không tốt, nó có thể làm hỏng sự ân cần, người tận tuỵ trở thành hay càu nhàu, nô lệ cho sự bận rộn của mình và nhanh chóng ghen tị với những người khác vì “họ chẳng làm gì cả”. Chúng ta muốn làm cho vui vẻ thế nhưng lại tạo nên một bầu khí phản kháng, khó chịu.

Đây là điều đã xảy đến với Mácta đáng thương. Chị cũng cần phải có những giây phút đẹp đẽ để lắng nghe và những giây phút cao cả để phục vụ. Ngày hôm đó chị đã không biết hài lòng về tất cả trong sự độ lượng. Chúa Giêsu đến, bữa ăn ngon phải chuẩn bị, niềm vui được thấy Maria hạnh phúc.

Ôi Mácta, chị đã bắt đầu một ngày tốt đẹp biết bao! Chị có thể vừa làm vừa hát. Nhưng chị lo lắng, nóng lòng và không còn tấm lòng tự do nữa. Chính sự tự do này là phần tốt nhất.

 

36. Đón tiếp Đức Kitô--Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng

Tin Mừng Lc 10, 38 – 42: "Matta con lo lắng bối rối về nhiều chuyện, chỉ có một sự cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và không ai lấy đi được".

Thái độ đức tin căn bản của người tin vào Chúa chính là đón tiếp Chúa vào trong cuộc đời của mình. Sự đón tiếp không chỉ thuần túy là mời khách vào nhà, lo cho khách của ăn vất chất mà chính là thể hiện tình yêu dành cho người khách. Đón tiếp Chúa cũng chính là thái độ yêu mến muốn Chúa đến sống thực sự trong cuộc đời của mình, để Người hướng dẫn soi sáng. Việc đón Chúa làm đẹp ý Người chính là thái độ biết lắng nghe, đón nhận và sống Lời Người.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA: Tin Mừng Lc 10:38-42

Matta và Maria tiếp đón Chúa

Hai chị em Matta và Maria đều tỏ lòng hiếu khách cách đặc biệt khi tiếp đón Chúa Giêsu đến thăm nhà mình. Tuy nhiên, hai người lại có hai thái độ, hai cách thức đón tiếp xem ra khác nhau. Lòng hiếu khách hệ tại ở việc trân trọng khách, lắng nghe và đáp ứng nhu cầu của khách hơn là bắt khách phải chiều theo sự đón tiếp của mình. Đón tiếp Chúa vào nhà mình, vào cuộc đời mình chính là biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Tin mừng hôm nay đã cho chúng ta thấy rõ điểm đó.

a. Đoạn Tin mừng này theo sự chú giải của các Giáo phụ như Ogirène, Thánh Ambrôsiô hay Thánh Cyrille d'Alexandre … thì hai chị em tượng trương cho hai lối sống tu đức hoạt động và chiêm niệm. Theo các ngài cả hai cách hoạt động phải luôn tồn tại trong người Kitô hữu.

b. Dựa theo văn mạch và toàn bộ tác phẩm của Luca kể cả Tông đồ công vụ thì xem ra Luca nhấn mạnh đến giá trị của Lời Chúa, đến việc lắng nghe và đón nhận Lời Chúa hơn. Phải dành ưu tiên cho việc lắng nghe Lời Chúa trong đức tin. Liên hệ với Cv 6,1-6: việc các Tông đồ chọn các Phó tế với mục đích là để các vị này chuyên lo việc dọn bàn, việc bác ái; còn các Tông đồ thì chuyên chăm vào việc rao giảng Tin mừng. Như vậy, có sự tương đồng giữa hai câu chuyện này: Lời được lắng nghe hay rao giảng chiếm vị trí tối cao vượt trên hết các việc khác.

c. Matta bị khiển trách không phải vì thái độ thiếu hiếu khách mà vì việc lo lắng thái quá đến vật chất, đến việc bắt người khác đón tiếp theo ý mình để rồi quên đi điều cần thiết duy nhất mà Maria đã làm đó là đón nhận Lời Chúa.

II. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Đón tiếp Chúa là đón nhận sứ điệp Tin mừng của Người:

Hai chị em Matta và Maria cùng đón tiếp Chúa Giêsu nhưng mỗi người mỗi cách. Matta thì rối rít chuẩn bị bữa ăn, cô lo toan sao cho Chúa, vị khách quí của gia đình được hưởng bữa ăn ngon nhất, được đón tiếp ân cần nhất. Tuy nhiên, lo lắng băn khoăn quá khiến cô không còn chú ý tới chính Chúa Giêsu là đối tượng của sự tiếp đón. Thái độ của cô xem ra không làm hài lòng Chúa cho bằng thái độ đón tiếp của cô em Maria. Cô này tiếp đãi Chúa bằng việc tiếp chuyện, ngồi dưới chân Chúa Giêsu và lắng nghe lời Người. Theo lẽ thường tình, khi một người khách đến thăm gia đình chắc hẳn họ sẽ hài lòng khi thấy gia chủ ân cần tiếp chuyện hỏi han và nhất là biết lắng nghe họ trao đổi tâm sự. Còn sẽ chẳng vui bao nhiêu nếu đến nhà mà chủ nhà để khách ngồi một chỗ, còn họ thì lo lắng chuyện cơm nước bếp núc. Như vậy, chắc chắn khách cảm thấy mình trở nên thừa thãi và là gánh nặng cho gia chủ. Đối với Chúa Giêsu, không hẳn Người đã có thái độ thường tình ấy, nhưng những gì Người nói với Matta và đề cao thái độ của Maria cho thấy, Người muốn trước hết phải biết đón nhận Lời Người và sứ điệp Tin mừng của Người. Maria đã chọn phần tốt nhất là lắng nghe và đón nhận Lời Chúa.

Đối với Kitô hữu ngày nay, thái độ của chúng ta mỗi khi cầu nguyện, tham dự Thánh lễ… như thế nào, có thực sự mở lòng để đón rước Chúa, lắng nghe và sống Lời Chúa không? Hay chúng ta chỉ chăm chăm chú chú đến đọc kinh nào, đọc ra sao và với tư thế thế nào?

2. Nghe và sống Lời Chúa là ưu tiên của đời sống Kitô hữu:

"Matta con lo lắng bối rối về nhiều chuyện, chỉ có một sự cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và không ai lấy đi được".

Khi trách Matta lo lắng băn khoăn về nhiều chuyện, Chúa Giêsu lấy lại vấn đề mà Người thường giảng dạy các môn đệ và dân chúng: Đừng quá lo lắng về chuyện cái ăn cái mặc (Mt 6, 25-34; Lc 12,22-26); bận tâm đến những âu lo của cuộc sống vật chất sẽ làm chết ngạt Lời Chúa được gieo trong lòng (Lc 8,14; Mt 13,22). Theo văn mạch, Matta băn khoăn về nhiều điều đó là chuyện ăn uống, săn sóc, phục dịch Chúa Giêsu. Cô đã lo lắng đến nỗi quên đi chuyện cần thiết nhất: bỏ tất cả để nghe Lời Chúa. Với Chúa Giêsu, có một bậc thang giá trị: phải dành ưu tiên tuyệt đối cho việc lắng nghe Lời Chúa. Matta không bị khiển trách về lòng hiếu khách, về sự đón tiếp nhưng vì quá lo lắng đến vật chất khiến cô quên đi việc ưu tiên cần thiết ấy.

Qua lời khiển trách Matta, Chúa Giêsu kêu mời mỗi Kitô hữu chúng ta hãy rũ bỏ những lo toan vật chất, tiện nghi cuộc sống, rũ bỏ những âu lo trần thế để chọn phần tốt nhất không ai lấy mất được như cô Maria đó là lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống, Lời mà chắc hẳn mỗi người đều đang đói khát. Trong cuộc sống hiện tại, đâu là ưu tiên một của tôi, Lời Chúa hay công danh sự nghiệp, cơm áo gạo tiền ở đời?

3. Đón tiếp Chúa là đặt mình phục vụ theo ý Người:

Matta vất vả nhiều, cô thấy mình có công và làm như vậy là đúng, cho nên, cô yêu cầu Chúa Giêsu nói với Maria phụ giúp mình. Cô muốn Chúa Giêsu và em cô phải quan tâm: "Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với". Phản ứng của Matta là một phản ứng tự nhiên như bao nhiêu người khác. Ai cũng muốn người khác biết đến mình, biết đến công lao và sự hy sinh của bản thân mình. Không chỉ có thế mà còn muốn bắt người khác phục vụ theo ý, theo cách của mình. Matta đã hành động và cư xử như thế. Chính vì thế mà cô đã hầu như quên mất sự hiện diện của Chúa Giêsu, không còn quan tâm đến ý muốn của Chúa. Câu đáp trả của Chúa Giêsu giúp cho Matta và mọi người một cách thức để đón tiếp làm vui lòng Người, đó là phục vụ và đón tiếp theo ý muốn của Người. Phải biết chiều theo ý của Chúa.

Thực tế cuộc sống cũng cho thấy một chân lý đơn giản lòng hiếu khách được thể hiện ở chỗ biết làm vui lòng khách, biết chiều theo ý thích của khách. Nghĩa là phải biết quan tâm đến khách muốn gì. Ở đây việc đón tiếp Chúa chính là phải làm theo ý Chúa, nghe theo Lời Người.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa yêu thương và muốn đến viếng thăm gia đình cũng như tâm hồn mỗi người chúng ta. Trong niềm vui mừng được Chúa viếng thăm chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Giáo hội là nhà của Chúa, nơi Chúa tiếp đón và trao ban ơn Cứu độ của Người cho muôn dân. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo hội luôn biết rộng lòng đón nhận, cưu mang và giúp phát triển mọi người, mọi dân tộc, mọi nền văn hóa.

2. Ngày nay biết bao nhiêu anh chị em đói khổ, không nơi trú ngụ, không được hưởng quyền sống đúng với phẩm giá con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong xã hội, nhất là những nhà lãnh đạo quốc gia luôn biết yêu thương chăm lo phát triển đời sống con người về mọi mặt.

3. Matta và Maria đã ân cần tiếp đón Chúa đến nhà mình. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người, mọi nhà trong cộng đoàn chúng ta luôn biết yêu thương mở rộng cửa lòng đón nhận giúp đỡ anh chị em nghèo khổ chung quanh.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vui vẻ nhận sự đón tiếp của các bạn hữu. Xin Chúa yêu thương đến với chúng con, với gia đình và cộng đoàn chúng con. Xin mở lòng chúng con để tất cả biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 

37. Ngồi lâu trong đầu--Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

Một cha sở miền quê có bà bếp tên là Matta. Mỗi lần bà nghe bài Phúc Âm mà chúng ta vừa nghe, bà lại lẩm bẩm: “Phải rồi, Maria đúng, Matta sai. Nhưng ai đã lau nhà, nấu ăn, rửa chén? Ai đã đi chợ, giặt giũ, quét sân? Nếu tôi không làm, ai làm đây? Nếu tôi chỉ việc ngồi, nghĩ, bàn những điều thiêng liêng rồi vào nhà thờ cầu nguyện riêng thì cứ đến giờ ăn mà đói meo!” Ý nghĩ của bà Matta nào đó lại không phải là ý nghĩ của nhiều người trong chúng ta sao? Phải giải thích thế nào cho bà Matta đó, khi bà nghe đoạn Lời Chúa hôm nay?

A- Những giải thích trước đây (dựa theo truyền thống):

1. Con lo lắng nhiều quá. Chỉ cần một mà thôi.

Chúa trách Matta lo phục vụ nhiều quá. Chúa chỉ cần… đơn giản và thanh đạm, phù hợp với thói quen và lời chúc phúc “nghèo khó” của Ngài. Tóm lại, đơn giản thôi, đừng bày vẽ gì nhiều. Cũng trong chiều hướng này, có bản dịch đã chuyển ngữ cách nói của Chúa như sau: Con lo nhiều món quá, chỉ cần một món là đủ. Cơm canh là đủ. Vậy thì mình con làm được rồi. Đâu cần gọi thêm Maria.

2. Tượng trưng cho hai đời sống

Nhưng chắc chắn bài học của Chúa đâu chỉ giản đơn như vậy. Vì sau khi phê phán Matta, Chúa Giêsu còn nêu Maria như mẫu gương phải theo: “Cô ta chọn phần tốt nhất”. Bởi thế Origène (185-245) đã giải thích như sau (và lời giải thích này ảnh hưởng trên truyền thống tu đức của Tây Phương đến bây giờ): Matta tượng trưng cho đời hoạt động. Maria tượng trưng cho đời chiêm niệm. Mầu nhiệm Tình yêu không còn trong đời sống hoạt động nữa, nếu lời dạy và huấn đức không đưa tới việc chiêm niệm … Đối với Origène, hai chị em tượng trưng cho hai thái độ mà một môn đệ trọn lành không thể tách rời. Nhưng hoạt động phải hướng về chiêm niệm, cầu nguyện. Chúng ta sẽ phải trở lại với lời giải thích của Origène.

3. Thánh Augustino giải thích bằng cách ví von: Matta và Maria đón Chúa trong nhà mình, nhà như là Giáo hội. Matta là Giáo hội chiến đấu. Maria là Giáo hội khải hoàn. Giống hệt như Augustinô giải thích về Phêrô và Gioan tông đồ.

B- Giải thích cho hôm nay

Lời giải thích của Origène vẫn còn giá trị. Tức là:

1. Hoạt động, phục vụ vẫn có giá trị.

- Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cũng hiểu như vậy. Nếu bài đọc I trong các Chúa nhật Thường Niên thường dùng để giải thích cho Bài Tin Mừng, thì Bài đọc I hôm nay Giáo hội cho đọc sách Sáng Thế thuật chuyện Abraham đón tiếp khách: mời khách vào nhà, lấy bột làm bánh, bắt dê làm thịt, đứng hầu quạt khách. Một thái độ phục vụ chẳng khác gì Matta. Nếu xem chỉ chiêm niệm là giá trị thì Bài Đọc I phải là bài Elia lên núi Khoreb gặp Chúa chứ! Rồi không phải chỉ Abraham, chính Chúa Giêsu cũng nêu gương phục vụ: Ngài hoá bánh ra nhiều, chữa lành bệnh tật, dẹp yên bão tố, xua trừ ma quỉ…, tất cả đều là phục vụ, chứ đâu phải suốt ngày lên núi cầu nguyện một mình. Vì thế phục vụ vẫn có giá trị của nó.

- Một cha xứ kia ghi nhận trên Tờ Thông Tin: Mỗi xứ đạo chỉ cần một Matta thôi sao? Phải thay đổi điều này. Cần 100 Matta. Phải xắn tay áo lên và hãy sẵn sàng. Nhờ có những Matta mà ngân sách của họ đạo ổn định, nhà thờ nhà xứ được sửa sang, sạch sẽ…, trẻ em bò trên nền nhà vẫn không dơ bẩn. Bạn không nhớ ơn những Matta cho đến khi Matta biến mất, và nhà thờ chỉ còn lại những Maria đọc kinh. Bấy giờ các Maria sẽ bắt đầu rối lên đi tìm chìa khoá, chổi quét, khăn lau, tắt đèn, tắt quạt. Phải. Những Matta là những người năng nổ của xứ Đạo. Họ giữ cho xứ Đạo sinh hoạt sống động mỗi ngày.

Nhưng Matta cũng phải có lúc là Maria: đó là lúc cầu nguyện, lúc nghỉ ngơi.

2. Nhưng trên phục vụ, phải là cầu nguyện: cầu nguyện trên hết.

- Một sĩ quan Pháp trong trận giao tranh trên đất Phi Châu, bị bắt làm tù binh. Mỗi lần nhìn viên sĩ quan Pháp này, người cai Ả Rập luôn mắng chửi thô lỗ: “Đồ con chó!” Một hôm, chịu không nổi, viên sĩ quan cãi lại: Tại sao gọi tôi là đồ chó? Tôi là tù nhân của ông. Đúng, nhưng tôi cũng là người như ông vậy.

– Mày, mày mà là con người ư? Mày là tù nhân của tao từ sáu tháng nay thế mà tao chưa thấy mày cầu nguyện bao giờ. Làm sao tao gọi mày là người được. Mày chỉ là một con chó.

Đúng thế, viên sĩ quan tù binh này thức dậy, ăn, hùng hục làm, đầu cúi xuống, không ngước nhìn trời, sao không giống con chó được?

Cầu nguyện là trên hết. Chính vì thế trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nói: Maria đã chọn phần tốt nhất, không ai cướp lấy được.

3. Vậy chúng ta xử lý ra sao

Phục vụ thì tốt. Ngồi bên Chúa và nghe lời Ngài thì tốt hơn. Nhưng giải thích của chúng ta không phải là chọn cái này, bỏ cái kia, mà là chọn cả hai. Cả phục vụ, cả nguyện cầu, và cho việc cầu nguyện chỉ huy.

Thực tế cuộc sống của chúng ta rất bận rộn. Ta không có thời giờ đâu để ngồi lâu dưới chân Chúa, thì hãy để Chúa ngồi lâu trong đầu mình. Không ngồi lâu dưới chân Chúa được thì để Chúa ngồi lâu trong đầu mình bằng các cách sau đây:

- Lặp đi lặp lại  những lời nguyện tắt, như: “Lạy Cha” “Lạy Chúa xin thương xót con” “Giêsu, con yêu mến Chúa” v.v…

- Khởi đầu một  ngày mới hãy dâng lên Chúa trọn cả ngày: lời Kinh Dâng Mình vẫn đọc “mọi sự con nài xin, mọi việc con làm, mọi sự khó con chịu trong ngày hôm nay”  là một khởi đầu tốt. Ý hướng đầu ngày là ý hướng chỉ huy (chỉ huy là không làm gì hết mà làm hết mọi sự). Rồi trong ngày những tiếng nói âm thanh, những bóng dáng của Chúa đi qua lại nhắc ta nhớ tới Chúa. Những tiếng nói âm thanh, như tiếng chuông, tiếng còi cứu thương, tiếng kêu “Chúa ơi” của ai đó…. Những bóng dáng như tháp chuông, thánh giá ai đó mang trên ngực, trên vành tai. Những khi ăn khi uống ta làm dấu… nhất nhất đều nhắc ta nhớ đến Chúa. Như thế không phải là để Chúa ngồi lâu trong đầu mình sao? Thánh Phaolô thì nói: Dù khi anh em ăn, dù khi anh em ngủ, khi anh làm việc, hãy làm vì danh Chúa Giêsu (x. Cl 3,17).

Các vị thánh là những người bận rộn; với các ngài cái búa, cái cưa, cái mai, cái xẻng, cây chổi, giẻ lau... cũng được dâng hiến như chén thánh trên bàn thờ. Thánh Bênêdictô ra luật cho các thầy dòng phụ trách các dụng cụ lao động phải gìn giữ cẩn thận các dụng cụ đó như các bình thánh trên bàn thờ. Tại sao vậy? Vì các dụng cụ đó là những dụng cụ để các môn sinh của người tôn vinh Thiên Chúa. Điều chính yếu trong đời sống thiêng liêng là có tinh thần phục vụ Chúa “mọi nơi và mọi lúc” như chúng ta cầu xin trong lời nhập để của kinh tiền tụng.

Xin Chúa giúp chúng con nhớ đến Chúa khi làm việc phục vụ, hoặc tệ lắm thì thức dậy dâng ngay cả ngày cho Chúa, để khi không ngồi lâu dưới chân Chúa được, thì để Chúa ngồi lâu trong đầu mình. Amen.

 

38. Chỉ có một việc cần mà thôi – Veritas--‘Hãy Ra Khơi’

Có một câu chuyện vui kể rằng, trên một chiếc phi cơ du lịch loại nhỏ có bốn người và một phi công, một thương gia, một linh mục nhà truyền giáo và một hướng đạo sinh. Phi cơ đang bay, bỗng một động cơ bị trục trặc, ngưng hoạt động, viên phi công cố gắng mãi mà động cơ vẫn không hồi phục và cũng không thể đáp khẩn cấp ở đâu được. Cuối cùng, ông phải tuyên bố một giải pháp là nhảy dù để thoát hiểm.

Ông mang ra ba cái dù và nói: Tôi là phi công, tôi còn có vợ và ba đứa con, nên tôi cần phải sống. Thế là ông ta đeo một chiếc dù rồi nhảy xuống. Liền sau đó vị thương gia tuyên bố: Tôi là một kỹ sư và là một thương gia, hiện thân của trí tuệ và giàu có của nhân loại nên tôi cần phải sống, rồi ông vội vã khoác tay vào dây đeo, lao đầu ra cửa nhảy xuống. Vị linh mục hốt hoảng nhìn chàng hướng đạo sinh và nói: Này con, con còn trẻ, tương lai đầy hứa hẹn, con cần phải sống và để giúp ích mọi người, con hãy mang cái dù còn lại mà thoát hiểm đi. Nhưng chàng hướng đạo sinh thưa với vị linh mục: “Tất nhiên ai cũng cần sống, cha hãy bình tĩnh lúc này hãy còn một cái dù cho cha và một cái cho con. Vì ông thương gia hiện thân của trí tuệ và giàu có của nhân loại đã đeo cái ba lô của con nhảy xuống mất rồi”.

Ai cũng cần phải sống, đó là lẽ tự nhiên, nhưng điều quan trọng hơn hết là biết cách làm thế nào để sống. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chị em Mattha và Maria đón tiếp Đức Giêsu vào nhà, Mattha tất bật lo phục vụ, cô bận rộn đến nổi cáu kỉnh như vẻ trách cô em Maria không biết chia sẻ gánh nặng và thầm trách Đức Giêsu chưa quan tâm đủ đến sự tất bật của mình.

Nhiệt tình đón tiếp vị khách, nhất là khách quí như Chúa Giêsu, đó là lẽ thường tình, nhưng Đức Giêsu lại nói với Mattha: “Chị băn khoăn và lo lắng nhiều chuyện quá, chỉ có một điều cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Có người xem ra đồng tình với Mattha và phản kháng Đức Giêsu khi đưa ra câu nói: “Có thực mới vực được đạo”. Đúng! Có thực mới vực được đạo, nhưng đáng tiếc có người chỉ hiểu được có một nửa của câu nói. Họ không biết rằng bên cạnh cái thực còn có đạo; bên cạnh của ăn vật chất còn có của ăn thiêng liêng. Ngoài cuộc sống đời này còn có cuộc sống đời sau, và người ta còn nói: “Sống không phải để ăn, nhưng ăn để sống”. Cho nên trong khi lo lắng kiếm cái thực, cái ăn để sống thì cũng phải biết lo lắng cho cái đạo để sống cho ra sống và để sống được trọn vẹn.

Đức Giêsu không phủ nhận giá trị công việc phục vụ của Mattha cũng như không từ chối sự đón tiếp của gia đình cô, nhưng Ngài đề cao việc Maria nghe lời Người. Đức Giêsu đã chẳng từng quan tâm đến những sinh hoạt đời thường và chia sẻ những khổ đau bệnh tật của dân chúng sao? Ngài đã từng làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, đã từng hóa nước thành rượu để niềm vui tiệc cưới được trọn vẹn. Ngài đã từng chăm sóc cứu chữa các bệnh nhân, cho người què đi được, người điếc được nghe, người mù được thấy, người chết sống lại, nhưng Ngài vẫn nhắm đến điều cần thiết hơn hết là cho mọi người được nghe, được lãnh nhận Lời Hằng Sống.

Có lần Người tuyên bố: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn bởi Lời của Thiên Chúa”. Con người sống không phải chỉ có vật chất, chỉ lo bơn chải những vấn đề cơm bánh mà còn phải có đời sống tinh thần, đời sống thiêng liêng nữa.

Đây chính là điều cần thiết hơn hết mà Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Đây cũng chính là điều chúng ta cần phải sống và sống hạnh phúc. Tất nhiên, Lời Chúa không phải là cái dù, chỉ cần đến khi nguy biến để thoát hiểm, nhưng chính Lời Thiên Chúa, Lời Chân Lý hằng sống làm cho những sinh hoạt hàng ngày của chúng ta có hiệu quả và có ý nghĩa hơn.

Thật khó hiểu khi một người cho mình là Kitô hữu mà không bao giờ biết lắng nghe và đón nhận Lời Thiên Chúa. Càng khó hiểu hơn khi một người làm việc tông đồ mà không được Lời Chúa nuôi dưỡng và hướng dẫn.

Thánh Phêrô và các tông đồ đã cho chúng ta một cái nhìn khi thưa với Đức Giêsu: “Bỏ Thầy con biết theo ai, vì Thầy mới có Lời ban sự sống đời đời”. Và có một lần khi Đức Giêsu đang giảng trong hội đường thì giữa đám đông có một phụ nữ lên tiếng thưa với Người: “Phúc thay dạ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm. Nhưng Đức Giêsu đáp lại, đúng hơn phải nói rằng, phúc thay kẻ đã lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa”.

Ước gì mỗi người chúng ta ý thức rằng, mình đã được mời gọi để sống hạnh phúc và luôn sẵn sàng đón nhận Lời ban sự sống. Lời của Thiên Chúa chính là điều tôi cần phải sống. Giờ đây mỗi người chúng ta cùng tuyên xưng đức tin.

 

39. Phục vụ--Lm Vũ Đình Tường

Có nhiều cách phục vụ khác nhau. Tuỳ theo hoàn cảnh, khả năng và ý thích mà ta co thể chọn lựa phương cách phục vụ thích hợp. Đức Kitô đến thăm nhà hai chị em Maria và Mát-ta. Hai cô rất vui mừng vì được Chúa đến thăm. Mỗi người tự nguyện chọn phương thế khác nhau tiếp thượng khách. Cô em Maria tiếp khách bằng cách ngồi bên lắng nghe tiếp chuyện. Cô chị Mát-ta có lẽ giỏi về gia chánh hơn nên nhận việc nấu ăn cho cả nhà.

Không biết cô nấu món gì? Có lẽ là món cô thích nhất, nấu ngon nhất ngặt một điều món này khá phức tạp cần nhiều thời gian chuẩn bị. Sau thời gian làm việc cô cảm thấy khách đói, chờ đã lâu. Trễ lắm rồi mà bữa ăn chuẩn bị chưa xong, còn nhiều việc phải làm cô đành lên tiếng kêu cứu. Mát-ta than phiền với Chúa.

Than phiền

Than phiền do nhiều yếu tố hợp lại. Một là do công việc đa đoan làm không xuể, đầu tắt mặt tối việc vẫn bề bộn. Hai là thời gian cấp bách, gấp rút lắm rồi, bấn súc xích lên mà công việc vẫn ì ra đó. Thời giờ cấp bách, việc nhiều tạo căng thẳng, lo lắng, bất an dễ đổ quạo, than phiền. Ba là quá chú trọng vào thành quả công việc, sợ thực phẩm không ngon, không vừa ý. Chính cái sợ là nguyên nhân gây nên phàn nàn, bất bình. Bốn là cảm thấy bị quên lãng. Năm là không hài lòng việc đã chọn. Cái hăm hở lúc đầu chìm xuống không còn thích như trước nữa. Nhiều người trong chúng ta có kinh nghiệm này. Khi mới bắt đầu có việc cảm thấy rất vui, làm một thời gian bắt đầu nhàm chán. Rồi 'Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin thầy bảo nó giúp con một tay'.

Đức Giêsu đáp: 'Mát-ta, Matha ơi, chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một điều cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi’.

Điều cần

Lời Chúa là của ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Thực phẩm nuôi dưỡng thể xác cũng quan trọng, cần thiết để sống còn. Lời Chúa nuôi dưỡng tâm hồn, thực phẩm nuôi dưỡng thể chất. Cả hai đều cần thiết. Chúa biết rõ điều này nên Chúa ra lệnh cho các tông đồ nuôi dân chúng sau khi họ đã nghe Chúa giảng. Các ông lo lắng không biết lấy gì cho họ ăn vì nơi đó là đồng hoang, hơn nữa nuôi tới năm ngàn người quả là tốn kém ngoài khả năng. Tài chánh đâu ra mua thực phẩm cho từng đó người. Chúa yêu cầu làm điều ngoài khả năng của các tông đồ. Các ông xoay xở không được trở lại với Chúa mặt nhăn nhó. Khó quá Thầy ơi! Chúng con lo không nổi. Chúa làm phép lạ nuôi năm ngàn người ăn no bằng năm chiếc bánh và hai con cá (Gioan 6). Đám dân được Chúa nuôi dưỡng cả hồn lẫn xác và còn dư tới 12 thúng đầy bánh vụn. Nuôi sống cả hồn lẫn xác là việc quan trọng và cần thiết. Chúa nuôi phần hồn trước sau đó lo cho đám đông phần xác. Cả hai công việc đều do Chúa lo.

Xem thế không thể kết luận ngồi lắng nghe lời Chúa quan trọng hơn nấu ăn đãi khách. Chúa hài lòng với sinh hoạt gia đình và chỉ lên tiếng khi có bất bình. Việc lắng nghe lời Chúa được tuyên dương nếu đem ra thực hành lời Chúa mới thực sự sinh hoa kết trái tốt lành, còn nghe cho biết, không thực hành bị coi là khờ dại. 'Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ tan tành’ (Mt 7,24-27)

Việc cần

Ngày phán xét không phải kẻ ngồi nghe lời Chúa được tuyên dương công phúc mà kẻ phục vụ được thưởng công. ‘Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập điạ. Vì xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khác các ngươi cho Ta uống. Ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi cho mặc. Ta đau yếu, các ngươi thăm nom. (Mt 24,34-37)

Cựu Ước cũng coi trọng bác ái, hiếu khách, nuôi khách. Chuyện Abraham trong bài đọc I hôm nay nêu rõ điểm đó. Gia đình ông có con vì ông đã mời ba người khách lạ vào nhà thiết đãi và ông đã nhận được lời hứa ‘sang năm tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Sarah vợ ông sẽ có một con trai’.

Phần tốt

Maria đã chọn phần tốt nhất vì cô lắng nghe Lời Chúa để học hỏi, đây cũng là cách cô chọn để thiết đãi khách, chào đón và làm cho khách cảm thấy được săn đón và tự nhiên. Như thế cả chủ lẫn khách đền tìm thấy ấm cúng, vồn vã và thân mật.

Chọn phần tốt nhất vì chọn lựa đó đem lại bình an, hạnh phúc ngập tràn không còn ước mong gì khác. Chọn lựa đó đem lại nguồn vui sung mãn,

Maria chọn phần tốt nhất vì điều cô chọn mang đến bình an thực sự bắt đầu nội tâm tuôn trào ra bên ngoài.

 

40. Một sự hiện diện thiết yếu--Achille Degeest--‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’

Tĩnh từ ‘tốt hơn’ chỉ một trạng thái trội hơn một trạng thái tốt khác. Có thể nói rằng phần tốt hơn của Maria không giảm giá trị cái phần tốt của Mát-ta. Cả hai bà tiếp đón Đức Kitô, chăm chú săn sóc Chúa. Mát-ta cư xử đúng vai chủ nhà lịch thiệp hiếu khách, nấu ăn bày bàn rất cầu kỳ. Đức Giêsu nhã nhặn vui vẻ, bảo bà chớ quá bận rộn làm chi. Tuy nhiên bao giờ cũng vậy, Chúa nhắm xa hơn cái hiện tại trước mắt. Chúa cho hai chị em cảm thấy sự quan trọng của chuyến viếng thăm. Điều quan trọng là không nên để các sự việc (phục vụ, hành động, …) dầu có giá trị và cần thiết hết sức, rút cuộc chiếm hết trí khôn, cản trở hoạt động của trái tim. Theo nghĩa trong Kinh Thánh, trái tim là tâm tình hướng về Đức Giêsu, cảm biết Chúa là sự Tuyệt Đối; chỉ có Chúa là hằng hữu, đáng kể, đáng chú ý. Do đó đương nhiên mọi sự phải giảm xuống mức tối thiểu. Khi Chúa đến thăm, Người chú ý đến chúng ta nhiều hơn là đến cách tiếp đón. Chúa ao ước chúng ta để ra thời giờ dừng lại tâm sự với Người, hơn là bận rộn sửa soạn lễ vật. Cách cư xử nào cũng có giá trị, cũng có mức tuyệt hảo. Bổn phận sửa soạn đãi khách không được làm giảm bớt sự săn sóc tiếp đón. Trái lại không nên vì quá săn sóc tiếp đón mà lơ là việc đãi đằng. Người ta thường căn cứ vào truyện hai bà Mát-ta và Maria để so sánh hành động với chiêm niệm, điều thiết yếu là mỗi người phải sinh lợi ân huệ của Thiên Chúa. Ở đây chúng ta nêu ra hai điểm:

1) Đức Giêsu đến thăm gia đình Bêtania.

Điều cần là sự hiện diện thiết yếu của Chúa trong nhà chúng ta, tức là trong tâm khảm chúng ta, nơi xuất phát ý nghĩ và hành động. Giọng văn trong bài tường thuật, sự thân thiết tự nhiên của Mát-ta, tất cả cho thấy Đức Giêsu được tiếp đãi như một người bạn thân. Đó là điểm đáng chú ý trong bài Phúc Âm hôm nay. Nói chung, trong tâm hồn chúng ta, Chúa phải cảm thấy dễ chịu như trong Nhà Người.

2) Trong nội bộ Giáo Hội, chúng ta phải tôn trọng ơn thiên triệu của giới này cũng như của giới kia.

Có thể là giới hành động không hiểu được đường lối tu trì ‘bất hành động’ của giới chiêm niệm, cho nên dễ đi đến chỗ muốn thưa với Chúa: ‘Lạy Chúa, xin Chúa xét xem có nên phối hợp tu sĩ các đan viện chẳng hạn, đưa họ vào công cuộc Phúc Âm hoá quá lớn lao không?’. Chắc chắn Chúa không trả lời. Nói đúng ra, Chúa trả lời, Chúa bảo không nên quan trọng hoá những phương thế bề ngoài của hành động. Hiệu năng công cuộc Phúc Âm hoá phát xuất từ sự hiện diện tác động của Thiên Chúa, tuỳ theo cường độ mạnh yếu, trong hành động cũng như trong kinh nguyện của chúng ta.

 

41. Sự cân bằng

Có một ông bố đã tâm sự với thầy giáo đang dạy cho các con ông như sau: Các con tôi mặc dầu không còn sống với tôi nữa, nhưng tôi vẫn yêu thương chúng và muốn biết chúng hiện đang học hành ra sao? Rồi ông kể cho thầy giáo hay việc vợ và bốn đứa con của ông đã lìa bỏ ông như thế nào. Ông vốn là một nhà thầu khoán nên nhiều lúc rất bận rộn. Có ngày ông phải làm việc tới 16 tiếng đồng hồ. Ông thường xuyên vắng mặt trong gia đình, nền dần dần những người thân yêu cũng trở nên xa cách. Ông buồn bã cho biết: Tôi rất ao ước sắm sửa cho vợ con tôi mọi thứ mà tôi từng mơ ước. Nhưng vì quá mải mê với công việc làm ăn, nên tôi đã quên mất một điều mà vợ con tôi đang cần đến, đó là họ cần một người cha, một người chồng để yêu thương và nâng đỡ họ.

Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Chủ đích của đoạn Tin Mừng ấy là như thế này: Chúng ta có thể vì quá mải mê công việc làm ăn, đến nỗi quên mất lý do khiến chúng ta phải vất vả như thế. Chúng ta có thể vì quá mải mê khiếm sống đến nỗi quên mất chính mục đích của cuộc đời. Chúng ta trang bị những vật dụng mà đồng tiền có thể mua sắm được, để rồi quên mất tất cả những gì mà đồng tiền không thể mua sắm được.

Đây cũng chính là sự lầm lẫn của Mát-ta được ghi lại qua đoạn Tin Mừng vừa nghe. Cô quá lăng xăng lo chuyện nấu nướng bữa ăn cho Chúa Giêsu đến nỗi đã quên mất rằng Chúa đến nhà cô là vì tình thương chứ đâu phải vì bữa ăn miễn phí.

Thực vậy con người chúng ta gồm có hồn và xác. Phục vụ vật chất cho thân xác là điều tốt. Thế nhưng con người còn có những nhu cầu, cần đến những phục vụ thiêng liêng cho linh hồn. Chẳng hạn, một người bạn đến chơi không phải chỉ cần đãi đằng họ là đủ, mà nhiều khi cần phải lắng nghe những tâm sự để chia sẻ những khó khăn họ gặp phải. Chính vì thế Chúa Giêsu đã khen Maria đã chọn phần tốt nhất bởi vì cô đã ngồi dưới chân Chúa để đón nhận những điều Ngài giảng dạy.

Còn chúng ta thì sao? Hiện thời chúng ta đang sống trong một thế giới rất dễ mất cân bằng, chúng ta vì bận rộn với công việc làm ăn, vì mải mê tìm kiếm tiền bạc, để rồi quân mất mục đích của đời mình, quên mất cái nào là ưu tiên số một trong cuộc sống, quên mất sự sáng suốt để lựa chọn, quên mất điều mình đang làm và lý do khiến mình làm điều đó.

Chúng ta giống như chú bé vẽ voi, đáng lẽ phải vẽ: con vỏi con voi với cái vòi đi trước, hai chân trước đi trước, hai chân sau đi sau, còn cái đuôi thì đi sau rốt. Thì chú bé lại vẽ: con vỏi con voi, cái đuôi đi trước, hai chân sau đi trước, hai chân trước đi sau, còn cái vòi thì đi sau chót.

Và quan trọng hơn nữa, đó là chúng ta quên mất phần rỗi của linh hồn chúng ta. Bởi vì như lời Chúa đã phán: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi gì?

 

42. Chọn điều tốt nhất--Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Cứ mỗi lần nghe trích đọc bài Tin Mừng thánh sử Luca kể chuyện hai chị em nhà Bêtania, thì người ta dễ liên tưởng đến việc so sánh hơn kém giữa đời sống chiêm niệm và đời sống hoạt động. Mọi sự thường có nguyên do. Đã một thời các nhà tu đức căn cứ vào đoạn tin mừng này để đề cao đời sống chiêm niệm. Không riêng gì Kitô hữu mà anh chị em lương dân và bà con khác đạo vốn kính trọng những con người như là “xuất thế” trong các đan viện. Chính vì thế ít có ai thắc mắc khi hình ảnh cô Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu để nghe Người tâm sự được ví với đời sống chiêm niệm thì được đề cao hơn đời sống hoạt động qua hình ảnh cô Matta bận rộn với chuyện nấu nướng.

Thế nhưng nếu đọc kỹ lời Chúa Giêsu nói với Matta thì chúng ta sẽ thấy lối so sánh và áp dụng ở trên có phần khập khiểng và khiên cưỡng cách nào đó. “Matta! Matta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10,42). Khi khẳng định rằng Maria đã chọn phần tốt nhất thì Chúa Giêsu cũng hàm ý rằng cô chị Matta cũng chọn phần tốt nhưng chưa tốt nhất, mà nói nôm na là tốt nhì, tốt ba hay tốt tư…

Chọn điều tốt để cho mình hay để dâng? Câu hỏi dường như đã có câu trả lời cụ thể qua hành vi của cô chị Matta. Matta chọn điều tốt không phải cho mình mà để dâng cho Chúa Giêsu. Đó là các món thức ăn mà chị đang tất bật nấu nướng. Và có thể nói rằng đó không chỉ là món ngon mà còn nhiều đến nỗi cô chị phải cầu cứu Chúa Giêsu biểu cô em phụ giúp một tay. Chọn các món ăn để kính dâng Chúa là một hành vi tốt đẹp. Dâng trao cho ai đó cái mà chúng ta có, tuy tốt đẹp nhưng vẫn còn hạn chế, vì những cái chúng ta có, nếu làm bản liệt kê thì quá nhiều không sao kể xiết và có lẽ chúng ta không thể dâng tất cả được. Trái lại khi dâng trao cái chúng ta là, thì chúng ta đã dâng trao trọn vẹn con người chúng ta.

Matta dù cố gắng đến bao nhiêu cũng không thể kính dâng tất cả những gì cô có cho Chúa Giêsu. Bằng chứng là mới chỉ có chuyện cơm nước, cô đã tất bật đủ bề mà vẫn như chẳng xuể. Một nhận định thực tế, đó là những gì Matta chọn để dâng cho Chúa Giêsu thì “sẽ bị những ai đó lấy mất”, nghĩa là Chúa Giêsu không thể tự mình dùng tất cả những thức ăn Matta dâng. Xin đừng quên sự hiện diện của các tông đồ. Trái lại phần của Maria dâng cho Chúa Giêsu thì sẽ không bị ai lấy mất vì Maria đã dâng cho Thầy Chí thánh cái mình là, đó là con người của chị. Khi ta thật tình chăm chú lắng nghe một ai đó tâm sự, thì một cách nào đó ta đã dâng trao trọn tấm lòng của mình cho người ấy.

Một nghịch lý của tình yêu: Chính khi trao ban là lúc lãnh nhận và có thể lãnh nhận lại gấp bội so với phần đã hiến dâng. Bài đọc thứ nhất trích Sách Sáng Thế tường thuật tấm lòng hiếu khách của Abraham dành cho ba sứ thần của Thiên Chúa đã được đền đáp. Một chút nước để các vị rửa chân, một ít bánh, chút thịt bê cũng như chút sữa chua kính dâng các vị ấy dùng có thấm vào đâu với phần mà Abraham lãnh nhận lại. “Sang năm, tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Xara vợ ông sẽ có một con trai” (St 18,10). Chắc hẳn Abraham và bà Sara phải rất đỗi kinh ngạc trước phần mình sẽ lãnh nhận. Có được một đứa con trai làm người thừa tự trong cảnh hai ông bà đã cao niên mà còn son sẻ quả là một hạnh phúc vượt quá mọi niềm mơ ước.

Khi Maria dâng trao cho Thầy Giêsu tấm lòng của mình như là một người môn đệ ngồi dưới chân Người mà lắng nghe thì Maria đâu có ngờ rằng cô không chỉ được đón nhận một vị Thầy, một Vị Chúa mà còn đón nhận được một người bạn. “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã tỏ cho anh em biết”(Ga 15,15). Chúng ta có thể đoán chắc rằng trong cuộc nói chuyện hôm ấy, Chúa Giêsu ít nhiều đã tỏ cho cô Maria biết về hành trình lên Giêrusalem của Người cũng như cuộc khổ nạn Người sắp chịu. Tin Mừng thánh Gioan tường thuật sự kiện cô Maria đã lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá mà xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mà lau, cả nhà nức mùi thơm khiến cho ông Giuđa Iscariô phải chép miệng tiếc rẻ. Và chính Chúa Giêsu đã phân minh cho cô Maria rằng cô ấy đã dùng số dầu thơm hảo hạng ấy để làm trước việc mai táng mình (x.Ga 12,1-8).

Chuyện kể rằng có một vị vua thuộc hàng “minh quân lẫn thánh quân” trong một lần kia đi thị sát vương quốc mình bỗng gặp một ông lão hành khất ngồi bên vệ đường. Xuống xa giá, vua đến bên người hành khất. Người hành khất kia khấp khởi mừng, chìa bàn tay ra trong im lặng và chờ đợi ân lộc vua ban. Nhưng người hành khất kinh ngạc vì đức vua không ban gì mà lại ngửa bàn tay trước mặt mình. Hai bên nhìn nhau một lúc, người hành khất cho tay vào bị lấy ra ba hạt lúa bỏ vào bàn tay đức vua. Đức vua nắm tay lại, cám ơn, rồi lên xa giá tiếp tục hành trình. Dù lẩm bẩm kêu trách “sự keo kiệt” của vị vua vốn được dân tôn xưng là minh quân, thánh quân”, người hành khất vẫn tiếp tục việc ăn xin. Ngày hôm ấy cũng có nhiều người hảo tâm đổ vào bị ông ta nhiều bát lúa. Tối đến, người ăn xin đổ bị lúa ăn xin ra để đong đếm thành quả. Bỗng nhiên ông thấy lấp lánh ba hạt lúa bằng vàng to bằng đầu ngón tay ở giữa nhúm lúa ăn xin hôm ấy. Nhớ lại chuyện gặp đức vua hôm nay, ông lão hành khất đoán ra sự việc và cười sung sướng. Bỗng nhiên ông ta lại khóc to tiếng với lời rủa thầm trong lòng: tiếc quá, giá như sáng nay mình dâng cho đức vua hết cả bị lúa này.

“Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38).

Biết lấy gì để dâng lên Thiên Chúa, vì mọi sự đều là của Người. Thiên Chúa không cần chúng ta dâng gì cho Người, nhưng Người lại muốn chúng ta trao dâng cho nhau, nhất là cho những người anh em bé mọn những gì tốt nhất của mình. Chắc hẳn cái tốt nhất của chúng ta, cái mà không ai có thể lấy mất được đó chính là con người chúng ta, tấm lòng của chúng ta, một tấm lòng huynh đệ thủ túc, một tấm lòng bằng hữu nghĩa thiết. Và dù nhiều khi chúng ta không biết thì Thiên Chúa vẫn nhận đó là đã làm cho chính Người (x.Mt 25,31-46).

 

43. Ngồi dưới chân Chúa Giêsu--Charles E. Miller

Tôi nghĩ rằng khi nghe câu chuyện về Matta và Maria, nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng cảm thấy đáng tiếc cho Matta. Maria đã bỏ mặc tất cả mọi công việc cho Matta, trong lúc cô ta vui hưởng cuộc nói chuyện với Chúa Giêsu. Khi Matta đến phàn nàn, Chúa Giêsu có vẻ như gắt gỏng cho dù Ngài gắt gỏng nhẹ nhàng, có lẽ Ngài đã lắc đầu và nói: “Matta, Matta con lo lắng nhiều chuyện, Maria đã chọn phần tốt nhất”. Nhưng chính xác là Maria có chọn phần tốt nhất không? Có phải đơn giản là vui hưởng ân sủng và là bà chủ đáng yêu trong lúc Matta thì tất bật trên bếp lò nóng?

Khi Thánh Luca viết rằng Maria ngồi nơi chân Chúa Giêsu, Ngài không miêu tả tư thế nhưng là mối liên hệ giữa Maria với Chúa Giêsu. Cụm từ”ngồi nơi chân” của một người nào có nghĩa là môn đệ của người đó. Trong văn hóa Do Thái thời Chúa Giêsu, không nghe nói có một người phụ nữ nào làm môn đệ của một thầy Rabbi. Theo trong tôn giáo hoặc ít nhất là quan sát bên ngoài thì các môn đệ đều là những người đàn ông. Chúa Giêsu đã phá vỡ cái truyền thống kéo dài từ xa xưa bởi vì truyền thống không đúng. Ngài đã đến để kêu gọi tất cả mọi người, người phụ nữ cũng như người đàn ông, con nít cũng như người trưởng thành, ngay cả những kẻ được xem như là người tội lỗi để trở thành môn đệ của Ngài. Ngài đã nhấn mạnh rằng Maria đã chọn phần tốt nhất. Cô ta đã hiểu sự mời gọi của Ngài, đã chấp nhận nó. Matta cảm thấy buộc phải duy trì khuôn mẫu của cô ta và đồng ý rằng chỗ của cô ta là trong bếp. Chúa Giêsu đủ thực tế để nhận biết rằng thực phẩm đã được sửa soạn và như thế Ngài có thể đã nói với Matta rằng chỉ cần một đĩa, một cái gì đơn giản là đủ. Tiếp đó, Ngài thêm không chỉ cho Matta mà cho tất cả mọi người trong mọi thời: “Maria đã chọn phần tốt nhất và cô ấy sẽ không bị ai cướp mất”. Chúa Giêsu đã muốn Matta làm một chọn lựa đó.

Maria đã được giới thiệu với mọi người nữ trong Giáo Hội nhưng trong một ý nghĩa lớn hơn cô đã trở nên kiểu mẫu cho mọi người. Chúng ta được kêu gọi để trở nên môn đệ của Chúa Giêsu, để dâng hiến cho Ngài sự ấm áp mà Ngài đã cảm nghiệm nơi nhà Bêtania, để lắng nghe Người với tất cả sự chú ý như Maria đã làm, đặt Người lên hàng ưu tiên trước mọi việc trong cuộc sống của chúng ta, và không cho phép điều gì hoặc người nào có thể dứt chúng ta ra khỏi mối liên hệ của Người. Abraham đã dâng hiến sự hiếu khách cho các thiên thần như là những sứ giả của Thiên Chúa. Chúng ta cũng được khẩn nài dâng hiến sự hiếu khách cho Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa.

Chúng ta sẽ hiểu trong một ý nghĩa sâu xa, chúng ta ngồi nơi chân Chúa Giêsu trong Thánh Lễ khi cử hành phụng vụ Lời Chúa. Theo Công đồng Vatican II đã long trọng dạy cho chúng ta rằng: “Đức Kitô đang hiện diện trong Lời của Ngài, đó chính là Ngài đang nói khi Thánh Kinh được đọc trong nhà thờ” (Hiến chế về phụng vụ, số 7). Chúa Giêsu đã ước ao khi chúng ta đặt trọng tâm sự chú ý của chúng ta vào Người. Lắng nghe Người trong đức tin, hấp thụ Lời và áp dụng nó trong cuộc sống của chúng ta. Tiếp đó chúng ta được nuôi dưỡng bởi lương thực thánh, Thánh Thể, bữa tiệc này không phải được sửa soạn bởi Matta nhưng bởi chính Chúa Giêsu.

Có lẽ chúng ta có thể thấy gương của Maria thì thật khó để theo. Thật là quá dễ để cho phép những lo toan trong cuộc sống hằng ngày làm chúng ta xao lãng việc nghe theo lời dạy của Chúa Giêsu. Đó là những cám dỗ cho phép những giá trị gian dối mà những giá trị đó giới thiệu cho chúng ta một xã hội vật chết đang hướng chúng ta ra ngoài những chân lý của đức tin. Chúng ta phải trung thành đến với Thánh Lễ, bởi vì ở đây chúng ta có thể đặt những sự chia trí ra ngoài, để đặt trọng tâm vào những gì thật sự là quan trọng cho chúng ta. Trong lúc chúng ta cử hành phụng vụ, nơi thờ lạy của chúng ta sẽ trở thành Bêtania của chúng ta, nơi mà chúng ta sẽ học để trở thành những môn đệ thật.

 

44. Chúa gọi: Matta, Matta--Lm Giuse Đỗ Văn Thụy

Tin Mừng Lc 10, 38 – 42: “Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.”

Truyện cổ tích Ả Rập có kể lại câu chuyện: một vị hoàng tử được vua cha gởi vào sa mạc để thụ huấn với một vị hiền triết. Vị hoàng tử này kinh ngạc về thái độ lạ thường của nhà hiền triết, suốt ngày không thèm nói với hoàng tử một lời nào mà chỉ ra dấu cho hoàng tử ngồi yên bên cạnh mình.

Sau một tháng im lặng, hoàng tử bực mình hỏi:

- Thưa thầy, cha tôi gởi tôi đến đây để học cùng thầy, nhưng đã một tháng rồi mà tôi chưa học được gì cả?

Nhà hiền triết ôn tồn trả lời:

- Này hoàng tử trẻ tuổi của ta, nếu con không học quí trọng sự thinh lặng của ta thì con sẽ không thể nào quí trọng những lời ta nói. Nếu con không học được bài học sống trong thinh lặng thì con sẽ không thể học được điều gì cả.

Và Pascal, một triết gia người Pháp đã nhận định về thời đại của ông như thế này: “sau khi đã quan sát cuộc sống của những người đương thời trong một thời gian, tôi có thể kết luận rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng gây xáo trộn cho con người là vì con người không còn khả năng sống trong thinh lặng nữa”.

Ông Pascal sống vào thế kỷ XVII đã sống xa chúng ta hơn ba thế kỷ. Căn bệnh của những người thời đại ông vẫn còn là căn bệnh của nhiều người trong chúng ta hôm nay, đó là căn bệnh sợ im lặng, sợ sống trong thinh lặng. Chính vì vậy cách đây hơn hai ngàn năm Chúa đã nhắc nhở Matta và Chúa cũng nhắc nhở mỗi người chúng ta trong thời đại hôm nay: chỉ có một điều cần thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất.

Matta bận rộn, rất bận rộn với công việc phục vụ bề bộn. Lòng mến Chúa, lòng hiếu khách của cô được thể hiện qua công việc, cô muốn làm những thức ăn ngon nhất, phục vụ chỗ nghỉ tốt nhất mà cô có thể dành cho Chúa và môn đệ của Ngài. Điều này thật tốt đẹp, nhưng lại không được Chúa chấp nhận.

Matta đã không chọn phần tốt nhất mà lại còn nhờ Chúa bắt ép em mình làm điều không tốt nhất đó: xin Thầy bảo nó giúp con một tay. Lấy uy của Chúa, dùng quyền của Chúa để bắt người khác làm theo ý mình, bắt người khác làm theo ý mình muốn. Chính vì vậy Chúa đã phải nói thẳng với Matta: Matta! Matta ơi! chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!”.

Quả thật, vì băn khoăn lo lắng nhiều chuyện đến nỗi dường như không còn biết điều gì khác nữa. Cô đang ngủ mê trong công việc của mình nên Chúa phải thức tỉnh cô. Chúa đã phải gọi cô đến hai lần để làm cho cô tỉnh ngộ: Matta, Matta.

Trong Kinh Thánh chúng ta cũng thấy một vài lần Chúa cũng phải nhắc nhở như vậy như khi gọi: “Samuel, Samuel (1Sm 3,10); Rồi Môsê: “Môsê! Môsê!” trong sách Xuất Hành (Xh 3,4) và trong sách Sáng Thế 22,1, khi Abraham sắp sửa hiến tế con mình. Chính lúc đó ông nghe gọi hai lần tên của ông: “Abraham, Abraham.” Chúng ta còn có thể trích dẫn Lc 22,31: “Simon, Simon, kìa Satan sàng anh em như người ta sàng gạo.” Lời mời gọi tiến lên đỉnh cao trong cuộc đời Phêrô. Và trong Tin Mừng hôm nay Chúa gọi Matta: “Matta, Matta”, con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá. Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất. (Lc 10,41).

Matta là người đầy thiện chí muốn dấn thân hết mình cho việc phục vụ, và lo hoạt động đến nỗi quên mất cái ưu tiên hàng đầu.

Điều này thật quan trọng và Chúa chỉ cho Matta thấy điều sai trái của cô: đang khi Chúa Giêsu đến nhà cô với tư cách là một vị tôn sư, thì cô lại muốn làm thầy dạy và chỉ cho Chúa điều Ngài nên nói và nên làm.

Lời nói thẳng của Chúa chắc chắn làm Matta ngạc nhiên, giật mình để nhận ra một cái nhìn mới, đón nhận những giá trị mới.

Từ nay cô không phải lo lắng bởi lương thực vật chất, nhưng phải lo lắng cho lương thực thiêng liêng.

Từ của ăn trần thế mau hư nát, Chúa hướng cô đến lương thực Nước Trời trường tồn.

Từ lương thực nuôi sống thể xác phàm tục Chúa hướng cô đến lương thực linh hồn thiêng liêng.

Lương thực Nước Trời thì tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất, đó chính là Lời Chúa, điều mà Chúa đã khẳng định trong bài Tin Mừng hôm nay: Maria đã chọn phần tốt nhất. Amen.

 

45. Mời Chúa vào nhà--‘Niềm Vui Chia Sẻ’

Cách đây ít lâu, trong một bài báo, một phụ nữ đã kể lại việc trang trí nội thất của gia đình bà như sau:

Mọi công việc trang trí đều được vợ chồng tâm đầu ý hợp với nhau cho đến khi chồng bà dùng quyền độc đoán bảo người trang trí nội thất treo một bức ảnh Chúa Giêsu kích thước cỡ lớn: 40x50 vào chỗ nổi bật nhất trong nhà. Bà cố gắng thuyết phục chồng đổi ý, nhưng ông vẫn cứ khăng khăng không chịu.

Tuy nhiên, đang lúc tranh cãi với nhau, bà chợt nhớ lại những lời của Chúa Giêsu: “Bất cứ ai nhìn nhận Ta trước mặt kẻ khác, thì Ta cũng sẽ nhìn nhận người ấy trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32). Thế là bà chịu nghe ý kiến của chồng.

Giờ đây bà nói, bà rất vui vì đã nghe theo ý chồng, vì bà nghĩ rằng bức ảnh Chúa Giêsu đã gây được ảnh hưởng đáng kể trên gia đình bà lẫn trên bạn bè khách khứa của bà. Chẳng hạn, ngày nọ có người khác lạ, sau khi chăm chú nhìn vào bức ảnh liền nói với bà: “Bà biết không, Chúa Giêsu trên bức ảnh kia không nhìn vào bà đâu, Ngài nhìn xuyên qua tâm hồn bà đó!. Và đêm nọ, một người bạn, sau khi ngồi ngắm bức ảnh cũng thốt lên: “Lúc nào tôi cũng cảm thấy trong nhà chị rất bình an”. Tuy nhiên, bà nói thêm, ấn tượng mạnh mẽ nhất tác động trên các bạn bè khách khứa xã hội tôi là mỗi khi nhìn tấm ảnh Chúa Giêsu thì tâm hồn họ luôn được nâng lên cao”.

Cuối cùng, bà nói rằng, có thể mọi người sẽ cười và không chừng còn nhạo báng những nhận xét trên đây của bà, nhưng bà chẳng bận tâm. Bà nói: “Theo thiển ý của tôi, một khi bạn biết mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được biến đổi không còn như trước nữa”.

Thưa anh chị em,

“Một khi bạn biết mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được biến đổi”. Sách Sáng Thế trong Bài đọc thứ nhất hôm nay đã kể lại câu chuyện ông Abraham mời Chúa vào nhà. Abraham vồn vã, nhã nhặn ra đón khách lạ theo kiểu Đông Phương. Ông sấp mình lạy, miệng mời Chúa ghé lại. Ông đặt ghế cho Chúa ngồi nghỉ mát, lấy nước cho Chúa rửa chân, lấy bánh và thịt mời Chúa dùng. Ông đứng hầu hạ phục vụ. Abraham được Chúa hứa ngay: “Sang năm vào độ nầy, tôi sẽ ở lại thăm ông, và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai”. Thế là ông được một người con nối dõi tông đường trong lúc tuổi già và son sẻ.

Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại câu chuyện hai chị em Matta và Maria tiếp đón Chúa Giêsu vào nhà. Matta người chị vốn có lòng hiếu khách và muốn tỏ ra lòng mộ mến sâu xa đối với một bậc thầy, là bạn của gia đình, nên chị định trổ tài nấu dọn một bữa ăn thật ngon để chiêu đãi Chúa. Chị lăng xăng chạy lên chạy xuống, lo sao cho mọi sự chu đáo…

Trong khi đó, Maria lại nghĩ rằng không nên để Chúa ngồi đơn độc một mình. Vả lại, Chúa cũng chẳng muốn chỉ vác bụng đến ăn không, nhưng còn muốn chia sẻ cho hai chị em những lời ban sự sống. Do đó, một người thì muốn nói, một người lại thích nghe, quên hết cả mọi sự!

Thế là Matta nổi cáu, trách Chúa không để ý đến mình, để mặc mình vất vả! Nỗi ghen tức kể ra cũng chính đáng. Nhưng Chúa cũng trách nhẹ Matta sao lo lắng nhiều chuyện quá làm chi. Chuyện ăn uống đâu có quan trọng đến nỗi ấy. Chỉ có một chuyện cần thiết thôi: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”.

Có người giải thích câu nói: “Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi”, cho rằng Chúa muốn nói: “Chỉ cần làm một món ăn thôi cũng đủ rồi!”. Lời giải thích ấy không phải là vô căn cứ, giải thích theo nghĩa thông thường đi nữa, thì lời trách nhẹ của Chúa Giêsu vẫn chính đáng; bởi vì trong chuyện tiếp khách, vấn đề không phải chúng ta chỉ biết cho, và người khách chỉ biết nhận, mà chính chủ nhà cũng phải biết nhận và để cho khách niềm vui được chia sẻ. Cho và nhận, đây không phải là có ý nói tới những gì là vật chất, như ăn uống, quà cáp… mà trước hết là sự hiện diện cũng như những câu chuyện trao đổi. Một người bạn thân khi đến với chúng ta, dù có được mời đến để dự tiệc, cũng không bao giờ chỉ biết vác bụng đến, nhưng còn đến trước hết với tình bạn của mình: người ấy muốn gặp chúng ta, muốn nói chuyện với chúng ta, còn chuyện ăn uống chỉ là một phương tiện, một bối cảnh được tạo ra, như người xưa thường nói: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”.

Vậy, nếu được phép góp ý kiến cho hai chị em Matta và Maria, thì chúng ta sẽ có thể đề nghị như sau: hai chị em nên phân công nhau rõ ràng, mỗi người một việc. Nhưng làm sao luôn có người ngồi đó tiếp chuyện với Chúa, và nếu hai chị em đã biết tính Chúa thích ăn uống giản dị, thì cũng không nên trổ tài nấu bếp làm gì cho phí thời giờ, Chúa đến không chỉ để ăn uống với hai chị, mà Ngài còn muốn chia sẻ Lời Thiên Chúa cho hai chị nữa, nên cũng phải biết tỏ ra sốt sắng đón nghe Lời Chúa nói với các chị nữa.

Còn chúng ta thì sao, thưa anh chị em?

Chúng ta có thể vì quá mải mê công việc làm ăn đến nỗi quên mất lý do khiến chúng ta phải lao khổ như thế. Chúng ta có thể vì mải mê kiếm sống đến nỗi quên mất chính mục đích của cuộc sống. Chúng ta có thể lu bu đeo đuổi những cái mà đồng tiền có thể mua sắm được để rồi quên béng những gì mà đồng tiền không thể mua sắm được. Và chúng ta vô tình đã biến thành những Matta nhiệt tình thật đấy, nhưng lăng xăng lo lắng đủ chuyện, mà quên mất “một chuyện cần thiết nhất”: lắng nghe Lời Chúa, tiếp chuyện với Ngài.

Chúng ta lo xây cất cho Chúa những ngôi thánh đường đồ sộ lộng lẫy, nhưng rồi mấy ai trong chúng ta âm thầm tới ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe Chúa nói với chúng ta Lời Chúa, Lời làm cho chúng ta được sống. Bời vì “con người sống không chỉn hờ cơm bánh, nhưng còn nhờ Lời Chúa nữa” (Mt 4,4). Thực tế cuộc sống của chúng ta rất bận rộn. Chúng ta không có thời giờ để ngồi dưới chân Chúa. Chúng ta muốn cầu nguyện nhiều hơn, dự lễ ngày thường nhiều hơn, đọc Kinh Thánh hay sách báo đạo đức nhiều hơn. Nhưng chúng ta không có thời giờ.

Quả thật, Chúa muốn chúng ta vừa là Matta, vừa là Maria: vừa lao động vừa cầu nguyện. Chúa không nói rằng khi chúng ta làm việc như Matta, chúng ta không thể cầu nguyện như Marai, hay ngược lại. Hai việc đều liên hệ với nhau. Chúng ta phải vừa là Matta vừa là Maria. Ngày nay, một người phụ nữ danh tiếng nhất thế giới là một nữ tu bác ái, một Matta thời đại: Mẹ Têrêsa thành Calcutta Ấn Độ. Mẹ đã hiểu và đã truyền lại cho con cái thiêng liêng của Mẹ tinh thần Tin Mừng hôm nay. Cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày để ra một giờ để chầu Mình Thánh Chúa trước khi xuống “địa ngục Calcutta” để săn sóc những người nghèo khổ hoặc đi vào trong các “nhà hấp hối” để giúp những người sắp chết được an nghỉ trong Chúa.

Anh chị em thân mến,

Thánh lễ là lúc chúng ta trở thành những Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu lắng nghe Lời Ngài. Đến với Chúa, chúng ta đừng tiếc thời giờ, đừng lật đật vội vã đến trễ về trước, sợ thiệt thòi, mất mát, hay đến ở ngoài sân nhà thờ không chủ tâm dự lễ, không đón nhận Lời Chúa, Mình Thánh Chúa, không mời Chúa vào nhà. Chúng ta cũng đừng đến với Chúa ngày Chúa Nhật, chỉ vì bắt buộc, miễn cưỡng, sợ mắc tội. Hãy đến với Chúa như một người con, một người bạn, đến để tìm Chúa, gặp Chúa, lắng nghe Lời Chúa, chỉ vì tình yêu mến Chúa mà thôi.

Thánh lễ còn là lúc Chúa đến thăm chúng ta như đã đến với hai chị em Matta và Maria. Hãy quý trọng sự hiện diện của Ngài trong lòng chúng ta và biết tiếp chuyện với Ngài, để sự hiện diện của Chúa và Lời Chúa nuôi sống chúng ta ngày hôm nay, ngày mai và cho đến cuộc sống muôn đời.

 

46. Ngồi dưới chân--Lm Vũ Đình Tường

Có ba hình ảnh ngồi dưới chân Chúa. Hình ảnh thứ nhất cô Maria ngồi dưới chân Chúa nghe giảng - Luca 10

Hình ảnh thứ hai cô Maria ngồi dưới chân Chúa lấy thuốc thơm mà sức, lấy tóc mà lau - Mathew 26: 6-13

Hình ảnh thứ ba Mẹ Maria và mấy bà đạo đức ngồi dưới chân Chúa, dưới chân thập tự, mắt đẫm lệ nhìn Chúa - Gioan 19,25

Cả ba hình ảnh ngồi dưới chân đều do phái nữ chủ xướng. Đây là hình ảnh quen thuộc trong Kinh Thánh. Trước khi nuôi năm ngàn người ăn trong phép lạ hoá bánh ra nhiều Đức Kitô bảo các môn đệ hãy cho đám đông ngồi xuống - Gioan 6. Hình ảnh ngồi để được cho ăn, nuôi sống.

Khiêm nhường

Đức Kitô ghé thăm nhà chị em Maria and Mát-ta. Maria chọn ngồi dưới chân Chúa để nghe Ngài giảng. Cô chị tiếp khách kiểu khác, lo nấu nướng chuẩn bị thực phẩm nuôi thân. Cô em chọn tiếp khách bằng cách ngồi dưới chân. Cô không ngồi ngang hàng tiếp khách - chủ khách ngang nhau- nhưng cô chọn thái độ ngồi dưới chân. Một thái độ khiêm nhường. Một hành động tự nguyện, khiêm nhu, quí mến, tỏ ra rất gần, thân thiết với khách mà vẫn biểu tỏ lòng tôn kính.

Ngồi dưới chân để nghe giảng nói lên tinh thần hiếu học, ham học hỏi Lời Chúa. Maria không những yêu mến Đức Kitô, kính trọng Ngài mà còn yêu mến ngay cả lời giảng dạy, giáo huấn của Ngài. Người do Thái khuyên phụ nữ đừng đi học. Đức Kitô trái lại khuyến khích phụ nữ học, lắng nghe.

Thống hối

Hình ảnh thứ hai là hình ảnh Maria ngồi dưới chân Chúa khóc lóc, tỏ lòng thống hối, ăn năn. Sự việc xảy ra tại nhà ông Simon, người mời Đức Kitô dự tiệc với các tông đồ. Cả chủ nhà lẫn tông đồ đều chê trách hành động của người phụ nữ. Đức Kitô lên tiếng bảo họ hãy để cho cô ta chuẩn bị cho ngày an táng Ngài. Qua cái chết của Ngài kẻ thống hối, tội dù nhiều vẫn được thứ tha. Hình ảnh khóc dưới chân Chúa không mang ý nghĩa nỗi buồn bất tận mà là giờ của mừng vui. Vui vì tội dù nhiều nhưng vẫn được tha vì trong lòng yêu mến nhiều.

Maria khóc vì vui mừng. Tai được nghe Chúa thứ tha. Nhận được lời Chúa an ủi, bênh đỡ, khuyến khích. Việc làm khiêm nhường bị người đời lên án, chê trách. Chúa thưởng công, âm vang ngàn năm vì Maria làm với tâm tình yêu mến chân thành, tạ ơn tha thiết.

Hiệp thông

Hình ảnh các bà ngồi dưới chân thập tự khóc lóc tỏ lòng hiệp thông. Tự biết mình bất lực không làm gì được kẻ có quyền, có thế. Lên tiếng phản đối không ai nghe; gào thét ai thèm đáp trả; phản đối mấy ai quan tâm. Muốn yên thân hãy câm nín, ngoảnh mặt làm ngơ, tránh đường, nhường lối cho bạo quyền hành động. Bao nhiêu người sợ đứng nhìn qua khe cửa. Các bà cũng run sợ trước bạo quyền mà không lẩn trốn. Để nước mắt lăn dài trên má biểu tượng của cảm thông, chia sẻ nỗi đau khổ của Đức Kitô treo trên thập tự. Cảm xúc đau đớn là biểu lộ hiệp thông rõ ràng hơn cả. Lệ nhoà, lăn dài trên má, biểu lộ cảm thông chia sẻ niềm đau mãnh liệt hơn ngàn câu an ủi, lời than van. Mắt nhìn thân Chúa da nát, thịt tan, đầu đội mạo gai, chân lơ lửng giữa đất trời biểu tỏ lòng mẹ chơi vơi nhìn con trên thập tự. Ngồi dưới chân thập tự thông cảm niềm đau người mẹ mất con. Người bạn mất bạn.

Phần chúng ta

Ngồi dưới chân Chúa hay dưới chân thập tự là hình ảnh gần gũi, quen thuộc, của mỗi người trong chúng ta. Bao lần chúng ta ngồi trong thánh đường. Cũng ngồi dưới chân Chúa nghe lại các bài đọc được công bố, lời Chúa giảng năm xưa, nay được lập lại trong thánh đường, trong các phiên họp, các buổi cầu kinh, tụ họp và Lời Chúa được chia sẻ trong các bài giảng, nhảy nhót theo cung điệu nốt nhạc. Chúng ta lắng nghe với tâm tình lúc thắm thiết, lúc chán nản, lúc hoài nghi.

Ngồi dưới chân Chúa trong thánh đường là hình ảnh quen thuộc khi chúng ta thầm thĩ kêu xin, giãi bày tâm sự, nói lên cái thống khổ, đau xót của thân phận làm người. Nhiều lần chúng ta cũng khóc lóc van xin ơn tha thứ. Chúng ta cũng để giòng lệ tuôn dài khi thấy gánh nặng vơi đi, bình an nội tâm trở lại, và hy vọng một tương lai tươi sáng loé lên trong khoé mắt. Giọt nước mắt u sầu thành giọt lệ reo vui. Những lần như thế chúng ta ngồi dưới chân thập tự tâm tư tràn ngập niềm vui, miệng luôn cao rao lời cảm tạ. Vui mừng đến chảy nước mắt vì cảm thấy Chúa yêu thương tha thứ như chính Maria cảm thấy được Chúa yêu thương, thống hối đến dưới bàn thờ Chúa dâng lời tạ ơn.

Bao lần chúng ta cũng ngồi dưới chân thập tự khi trong thánh đường, lúc ngoài nghĩa trang. Lòng đau như cắt, tâm tư tan nát. Giọt nước mắt vơi đầy thương nhớ người thân. Chúng ta ngồi dưới chân thánh giá nói không nên lời, tư tưởng đứt đoạn vì người thân ra đi, câm nín trong quan tài cô đơn giữa nơi thánh đường đông người thân quen. Người nằm đó mà xa cách ngàn trùng. Cách nhau một lớp gỗ mỏng mà lòng thấy vĩnh biệt. Cũng bản nhạc này sao nay u buồn thế. Cũng lời kinh nọ nay cất lên tang thương nhiều hơn hy vọng.

Hình ảnh ngồi dưới chân Chúa hay dưới chân thập tự là hình ảnh của người đặt niềm tin vào Đức Kitô phục sinh, Đấng đến xoá tan u tối. Đấng đến mang lại ánh sáng chiếu dọi tâm hồn. Đấng đến mở đường dẫn về nhà Cha sau cuộc hành trình dương thế.

Hãy mở cửa tâm hồn đón Chúa vào nhà để được ngồi dưới chân Ngài.

 

47. Suy niệm của Lm Alfonso

Tin Mừng Lc 10: 38-42: Và trong Tin Mừng hôm nay Chúa gọi Matta: “Matta, Matta”, con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá. Chỉ có một sự cần mà thôi...

Suy niệm

Trong kho tàng văn học Việt Nam, thi sĩ Nguyễn Khuyến đã viết một bài thơ kể về một tình bạn: “Bạn Đến Chơi Nhà”

Đã bấy lâu nay bác tới nhà,

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Ao sâu, nước cả, khôn chài cá;

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Cải chửa ra hoa, cà mới nụ;

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây, ta với ta.

Những câu thơ bộc lộ thật rõ nét tình cảm chân thành đối với bạn. Đó là một tình cảm thiêng liêng cao quý. Mối tương quan bạn bè ở đây được xây dựng trên cơ sở vững chắc là tình cảm yêu thương chân thật, không màng đến vật chất, lợi lộc.

Trên hành trình rao giảng, thỉnh thoảng Chúa Giêsu cũng có những nơi dừng chân, tiện dịp ghé qua thăm những người thân, bằng hữu. Lần này, thánh sử Luca cho chúng ta về một hoàn cảnh Chúa ghé vào thăm, làng Bêthania. Nơi đây có một gia đình mà Chúa Giêsu rất yêu quý, đó là gia đình của chị em Mát-ta, Maria và Lazarô.

Lúc Chúa tới, Mát-ta rất hiếu khách tiếp đón Chúa vào nhà, tất bật lo lắng nào là chỗ nghỉ tốt nhất, trổ tài nữ công gia chánh chuẩn bị bữa ăn thịnh soạn nhất. Mát-ta rất đảm đang trong việc phục vụ, điều đó thật là đáng khen. Tuy nhiên, dường như trong việc phục vụ này có một chút so đo tính toán. Mát-ta cho rằng Maria em cô lười biếng, lánh nặng tìm nhẹ. Đến lúc không còn kiềm chế được nỗi ấm ức của mình, cô đã chạy đến trước Chúa. “Em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với”. Tấm lòng cô yêu mến Thầy với nhóm môn đệ khiến cô tự tâm cố gắng trong việc phục vụ. Nhưng giờ đây cô lại xem mình như là kẻ hầu hạ, để rồi lòng không vui, việc phục vụ trở nên gánh nặng, không còn nhìn người em mình với ánh mắt tích cực, dẫn tới việc cô trách móc luôn cả Chúa, tại vì Chúa mà em cô ngồi đó, không xuống phụ chị việc làm bếp.

Thử hỏi nếu chúng ta là một người khách tới thăm bạn mình, chúng ta có muốn bị để lẻ loi, trong khi gia chủ lo làm bếp núc dưới nhà. Chúng ta là những người khách, tới thăm bạn vì muốn hàn thuyên với bạn hay vì để được no bụng, cái nào quan trọng hơn?

Chúa Giêsu không phủ nhận tất cả sự quan tâm lo lắng của Mát-ta, và Người cũng đang quan sát, chú ý đến cô. Có thể nói Người “đang đi guốc trong bụng” cô, nên Người mới bảo cô: “Con lo lắng nhiều chuyện quá”. Chúa Giêsu muốn cho thấy chỉ có một điều cần thiết và quan trọng hơn hẳn đó là lắng nghe Lời Chúa. Lo lắng cho Chúa là điều đáng quý, nhưng để hết tâm trí để nghe Lời Ngài mà thực thành theo, lại còn đáng trân trọng hơn.

Nếu như Mát-ta trách móc Chúa thì Chúa lại dùng tiếng gọi thân thương để thức tỉnh cô: “Mát-ta, Mát-ta!” Chúa nhẹ nhàng chỉ bảo cho Mát-ta và mỗi chúng ta biết rằng “chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”. Vâng, thay vì lo lắng với lương thực trần thế miếng đói miếng no, Chúa Giêsu lấy hình ảnh cô Maria ngồi bên chân Chúa và nghe Lời Chúa để dạy chúng ta về việc biết lo cho lương thực thiêng liêng. Chính Lời Chúa là Thần Lương mới có thể biến đổi chúng ta từng ngày, thay đổi từ cách suy nghĩ, lối sống cho đến việc dấn thân và cung cách phục vụ vô vị lợi vì nước Trời. Một khi chúng ta chọn Chúa là hạnh phúc và no đủ cho đời mình vì đó là phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất. Còn khi chúng ta gắng sức chạy đôn chạy đáo, tất bật với miếng cơm manh áo mà thiếu Lời Chúa soi dẫn, chúng ta dễ sống cho ý riêng mình mà thôi.

Khi nói về tinh thần phục vụ, Mẹ Têrêsa thành Calcutta chia sẻ như sau:

"Không cầu nguyện thì không có đức tin,

Không có đức tin thì không có tình mến,

Không có tình mến thì không có phục vụ,

Không có phục vụ thì không có niềm vui, không có bình an."

Bốn bước căn bản Cầu nguyện - Đức Tin - Tình mến -Phục vụ mà mẹ Têrêsa đưa ra giúp chúng ta nhận ra rằng để có thể phục vụ được, trước tiên hãy ngồi lại cầu nguyện với Chúa và bên Chúa, từ đó đức tin của chúng ta mới được củng cố. Và khi chúng ta đủ tin, đủ yêu, chúng ta sẽ sẵn sàng dấn thân không mỏi mệt. Vậy, lạy Chúa, xin cho con dành giờ phút trong ngày để lắng đọng, siêng năng gẫm suy lời Chúa để biết thánh ý Chúa muốn trên cuộc đời con. Amen.

 

48. Sai lầm của người thầu khoán--Lm Mark Link

"Trong cuộc đời, chúng ta cần thời gian thinh lặng cầu nguyện nếu chúng muốn quân bình và biết nhìn xa."

Vào buổi tối kia, một người cha đến dự phiên họp giữa thầy cô và phụ huynh trong một trường trung học ở Chicago. Trong bài nói chuyện của một thầy giáo, người cha này đã bật khóc nức nở.

Sau khi lấy lại bình tĩnh, người cha xin lỗi và nói: "Con tôi không còn sống với tôi nữa. Nhưng tôi vẫn yêu thương cháu và tôi muốn biết việc học hành của cháu như thế nào."

Sau đó, người cha cho biết vợ ông và 4 đứa con đã bỏ ông chiều hôm đó.

Ông là một thầu khoán xây cất và nhiều khi làm việc đến 16 giờ một ngày. Đương nhiên, ông ít gặp gia đình hơn và dần dà họ càng xa ông hơn nữa.

Sau đó, người cha nói lên một điều thật buồn thảm. Ông nói: "Tôi muốn mua cho vợ con tôi những gì mà tôi hằng mơ ước mua cho họ. Nhưng rồi tôi quá bận tâm làm ăn đến độ tôi quên đi điều mà gia đình tôi cần đến nhất: đó là một người cha có mặt trong gia đình hàng đêm để yêu thương và nâng đỡ vợ con."

Câu chuyện có thật này cho thấy điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay. Đó là:

Chúng ta có thể quá bận tâm làm việc đến độ quên đi lý do tại sao chúng ta làm việc. Chúng ta có thể quá bận tâm đến đời sống đến độ quên đi mục đích của đời sống. Chúng ta có thể quá bận tâm theo đuổi những gì có thể mua được bằng tiền bạc mà quên đi những gì tiền bạc không thể mua được.

Đó là một loại sai lầm mà cô Mát-ta đã vấp phạm trong bài Phúc Âm hôm nay. Cô quá bận tâm đến việc nấu nướng cho Chúa Giêsu đến độ cô quên đi lý do tại sao Chúa đến nhà cô. Người đến không vì miếng ăn; Người đến vì tình bạn.

Giả như khi chúng ta còn nhỏ, sống với cha mẹ và nếu Đức Giêsu cho biết Người sẽ đến thăm gia đình, chúng ta biết các bà mẹ sẽ làm gì. Họ sẽ động viên toàn thể nhân lực trong gia đình từ nhiều ngày trước để dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Họ sẽ sai con cái đi chợ mua thứ này thứ kia. Nói tóm, họ sẽ hành động giống như cô Máctha.

Nhưng mẹ chúng ta cũng giống như cô Maria. Họ luôn dặn dò để biết chắc là con cái ăn mặc đàng hoàng tử tế, đến ngồi chung quanh Đức Giêsu, chú ý đến những gì Người nói. Mẹ chúng ta sẽ quân bình giữa sự lưu tâm đến miếng ăn cho Đức Giêsu và lưu tâm đến tình cảm mà gia đình dành cho Người.

Đó là những người mẹ có tài giữ quân bình mọi sự, từ việc cơm nước trong nhà đến việc giặt giũ lau chùi. Nhưng các bà mẹ còn cần đến các người làm cha có khả năng quân bình mọi sự, từ việc kiếm tiền cho đời sống vật chất đến việc giáo dục con cái, nâng cao giá trị tinh thần của đời sống.

Ngày nay, không may, chúng ta sống trong một thế giới thật khác biệt.

Thật dễ để đánh mất sự quân bình trong thế giới ngày nay. Thật dễ để đánh mất cái nhìn xa trông rộng. Thật dễ để xáo trộn những gì là ưu tiên. Thật dễ để đánh mất khả năng nhận ra những gì cần làm và tại sao chúng ta làm công việc ấy.

Trong Thế chiến II, một người lính trẻ trấn đóng ở hòn đảo Saipan thuộc Nam Thái Bình Dương cho biết trong thời gian nghỉ ngơi, anh và bạn hữu đến bơi ở một chỗ vắng vẻ kín đáo, ngay ở mé hòn đảo. Đó là một nơi thật đẹp có núi đá bao quanh.

Khi đến nơi, họ thấy nước thật trong đến nỗi có thể nhìn thấy cá bơi lội sâu dưới nước cả 10 feet. Tuy nhiên, sau khi họ bơi lội chừng một tiếng đồng hồ, nước trở nên đục ngầu vì cát bị khuấy động, họ không còn thấy được dưới đáy dù chỉ cách có một feet.

Nhưng hôm sau, khi họ trở lại, cát đã lắng đọng. Nước lại trong trẻo như trước.

Tâm trí chúng ta cũng như vũng nước đó. Nó cũng có thể vẩn đục vì những biến động trong cuộc sống hằng ngày khiến chúng ta không còn nhìn thấy rõ ràng. Chúng ta mất khả năng nhìn thấy mọi sự: quan điểm của chúng ta trở nên mù mờ; những ưu tiên của chúng ta trở nên hỗn độn; sự quân bình của chúng ta đã bị mất.

Khi điều này xảy ra, điều chúng ta cần thi hành là tạm ngừng và để nước đục của tâm trí trở nên trong trẻo lại. Chúng ta cần thi hành điều mà cô Maria đã làm trong bài Phúc Âm hôm nay. Chúng ta cần ngồi dưới chân Đức Giêsu trong sự thinh lặng cầu nguyện. Chúng ta cần để Người dạy chúng ta biết điều gì là quan trọng và điều gì không đáng kể.

Bài Phúc Âm hôm nay là một lời mời gọi chúng ta mỗi ngày hãy dừng lại ở dưới chân Đức Giêsu trong sự cầu nguyện, cũng như cô Maria đã làm trong Phúc Âm.

Điều này nêu lên một câu hỏi. Nếu chúng ta quá bận rộn đến độ mất cả thói quen cầu nguyện thì sao? Nếu chúng ta không biết thinh lặng cầu nguyện dưới chân Đức Giêsu thì sao? Chúng ta có thể làm gì để biết cách cầu nguyện?

Thật may mắn là có chúng ta có thể thi hành vài điều gì đó. Và chúng ta có thể bắt đầu ngay tối nay. Chúng ta có thể áp dụng phương pháp cầu nguyện đơn giản đã từng giúp đỡ nhiều người như chúng ta làm lại thói quen cầu nguyện và biết được nghệ thuật cầu nguyện.

Mỗi đêm trước khi đi ngủ, chúng ta cần 3 phút để làm 3 điều.

Trong phút thứ nhất, chúng ta thinh lặng và nhớ lại những gì xảy ra trong ngày. Chúng ta nhớ đến các điều tốt đẹp khiến chúng ta vui sướng, tỉ như nhận được thư của người bạn cũ. Sau đó, chúng ta thành thật nói với Đức Giêsu về điều đó. Sau cùng, chúng ta cảm tạ Đức Giêsu vì lá thư ấy.

Trong phút thứ hai, chúng ta cũng nhớ đến những gì xảy ra trong ngày. Lần này, chúng ta nhớ đến điều không tốt, những điều làm chúng ta hối hận, tỉ như la hét cha mẹ, vợ chồng hay con cái. Chúng ta nói với Đức Giêsu về khuyết điểm này và xin Người tha thứ, chữa lành cho chúng ta.

Sau cùng, trong phút thứ ba, chúng ta nhìn đến ngày hôm sau, nghĩ đến một số điều quan trọng phải thi hành, tỉ như việc nói chuyện ôn hoà với cha mẹ, vợ chồng hay con cái về một vấn đề đã xảy ra. Chúng ta nói với Đức Giêsu về điều đó và xin Người soi sáng, thêm sức để chúng ta có thể thi hành cách tốt đẹp.

Phương cách cầu nguyện đơn giản này đã giúp nhiều người lấy lại thói quen cầu nguyện và học được nghệ thuật cầu nguyện. Điểm tuyệt vời của phương cách cầu nguyện này là không những giúp chúng ta quan hệ đến đời sống thực tế mà còn giữ liên lạc với Đức Giêsu.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con đừng quá bận tâm đến đời sống mà quên đi lý do tại sao Ngài đã ban sự sống cho chúng con.

Xin giữ chúng con quá bận tâm đến đời sống mà quên đi mục đích của nó.

Xin giữ chúng con đừng quá theo đuổi những gì mà tiền bạc có thể mua được rồi quên đi những gì tiền bạc không thể mua được.

 

49. Mácta và Maria--McCarthy

Suy Niệm 1. CHO VÀ NHẬN

Tôi có một giấc mơ. Chúa đến nhà tôi như đã đến nhà của Mácta và Maria. Vì thế tôi lau chùi, cọ rửa từ trên xuống dưới, rửa sạch và đánh bóng mọi thứ. Rồi tôi dọn bàn với khăn bàn tốt nhất, bộ chén dĩa bằng sứ, bộ dao nĩa muỗng bằng bạc loại tốt nhất, và cũng bài trí nến và hoa. Về thức ăn, tôi chọn món đắt tiền. Khi tất cả đã sẵn sàng và khách mời sắp đến, tôi trải thảm đỏ ra tận cổng nhà.

Người đến và tôi nghĩ tôi đã làm Người phải tự hào. Tôi phô bày thành tích cao. Tôi cung kính đứng hầu bên cạnh. Không ông vua nào có được sự phục vụ hào phóng hơn. Tôi chắc rằng cuộc đàm đạo sẽ không bao giờ nhạt nhẽo. Về phần Người, Người rất vui, Người tỏ vẻ cảm kích khi thấy tôi lúng túng. Mọi việc kết thúc chính xác như đồng hồ. Khi Người đã ra về, tôi cảm thấy tốt đẹp, và tuy vậy có một điều gì đó làm tôi phải băn khoăn.

Có một lúc tôi như đã hụt hẫng với điều lẽ ra phải có. Rồi một câu hỏi hiện ra trong tôi: Người muốn điều gì nơi tôi? Thức ăn? Lòng hiếu khách? Tôi tự hỏi. Nhưng rồi tôi nghe thấy một câu hỏi thứ hai vang lên trong tôi: Người muốn cho tôi điều gì? Tôi cảm tháy chắc chắn Người muốn cho tôi điều gì? Nhưng dù là điều gì, tôi đã không cho Người cơ hội để ban nó cho tôi. Tôi đã tạo ra cảm tưởng mọi việc đều hoàn hảo và tôi không muốn có thêm điều gì nữa.

Có những người rất hào phóng và tốt bụng khi cho nhưng rất nghèo nàn khi nhận. Bác sĩ Marie de Hennezel thành thập một số bộ phận tiếp nhận những người bệnh ở giai đoạn cuối trong một bệnh viện ở Paris. Trong cuốn sách của bà nhan đề Intimate Death, bà nói về một phụ nữ được đưa đến bộ phận ấy. Người phụ nữ này đã từng giúp đỡ mọi người nhưng giờ đây không thể giúp đỡ chính mình. Bà luôn luôn muốn được người ta ban cho thật nhiều yêu thương. Nhưng nhận được chúng thì thật là khó khăn. Bà nói về sự yêu thương của gia đình, của bạn bè, của những người chăm sóc bà như “một suối nước mà bà không biết phải uống như thế nào”. Bà cần học cách nào để lại trở thành một trẻ nhỏ, khiêm tốn đủ để nhận một món quà. Nhưng điều đó không dễ dàng bởi vì bà hoàn toàn đối lập với điều đó: bà thích cho một cách vị kỷ.

Những người vị kỷ, coi mình là trung tâm không thích nhận. Tại sao thế? Bởi vì nó làm cho họ cảm thấy thấp kém hơn người khác và đặt họ vào sự mắc nợ những người khác. Mặt khác họ thích cho bởi vì điều ấy tâng bốc cái tôi của họ, do đó (có lẽ một cách vô thức) làm cho họ cảm thấy cao sang hơn những người khác.

Cho là việc quan trọng. Nhưng nhận cũng thế. Không ai trong chúng ta tự cho mình là đủ. Mọi người chúng ta đều bất toàn. Chúng ta cần tiếp nhận của nhau, và trên hết, tiếp nhận từ Thiên Chúa. Không có khả năng tiếp nhận quả là bi thảm. Biết cho như thế nào chưa đủ, chúng ta cũng phải biết nhận như thế nào. Cả hai đều là những hoạt động của ân sủng.

Câu chuyện Tin Mừng cho chúng ta thấy sự khác nhau chủ yếu giữa Mácta và Maria. Mácta không có khả năng nhận, trong khi Maria có. Maria cho Chúa món quà là một tâm trí mở rộng và một tâm hồn mẫn cảm. Còn Mácta, trong lúc rất tốt, rất hào phóng khi cho, lại rất nghèo nàn khi nhận. Cả Chúa cũng không thể cho cô điều gì. Có một bài thơ ngắn nói lên điều ấy:

Nếu bạn có thể làm cho mình trống rỗng

Giống như một vỏ sò không

Hẳn Người sẽ tìm thấy bạn

Trên một bãi cạn của đại dương

Và Người tự nhủ: Nó chưa chết.

Và làm đầy bạn bởi chính Người

Nhưng nếu bạn quá đầy với chính bạn

Và với bao hoạt động khôn ngoan,

Đến nỗi khi Người đến Người liền nói:

Nó đủ cho nó. Nó quá đầy

Không còn chỗ dành cho Ta

(T. Brown. Thi sĩ xứ Manx)

Suy Niệm 2. SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA

Chúng ta không sống đời sống tâm linh một cách nghiêm túc, chúng ta không dành ra một ít thời gian để sống với Thiên Chúa và lắng nghe lời Người. Phần lớn chúng ta đọc một số kinh sáng và kinh chiều. Nhưng, khổ nỗi, những kinh nguyện ấy thường là những lời quá quen thuộc mà chúng ta đọc một cách máy móc, vội vàng trong lúc đầu óc cứ mãi chạy theo nhưng công việc đang chờ đợi chúng ta. Kinh nguyện như thế giống như mặc áo quần, rồi mới rửa tay của mình khi người ta cần phải được tắm rửa, kỳ cô. Chúng ta cần có sự cầu nguyện tập trung, dâng hiến, sự cầu nguyện giống như cơn đói phải được no thoả mà không gì có thể thay thế. Loại kinh nguyện ấy luôn làm cho chúng ta biến đổi và thêm sức mạnh. “Cầu nguyện không phải là xin xỏ. Nó là sự khao khát của linh hồn. Nó là sự thừa nhận mỗi ngày sự yếu đuối của chúng ta”.

Đối với nhiều người, cầu nguyện chủ yếu là đọc kinh hơn là cầu nguyện. Trong một ý nghĩa nào đó, cầu nguyện bắt đầu ở chỗ mọi diễn tả chấm dứt. Những lời nói mà môi miệng chúng ta thốt ra thường chỉ là những làn sóng trên bề mặt của bản thể chúng ta. Hình thức cao nhất của sự tôn thờ là thinh lặng.

Có lẽ kinh nguyện có lợi nhất chính là ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không nói hoặc làm điều gì. Chỉ ngồi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, như Maria ngồi trong sự hiện diện của Đức Giêsu. Nhưng đối với một số người, điều đó có vẻ như lãng phí thời gian trong khi có rất nhiều việc phải làm.

Ở trong sự hiện diện, không nói hoặc làm điều gì, không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì ngay khi chúng ta ngừng lại, chúng ta cảm thấy trống rỗng kể cả thấy mình vô dụng. Phần đông chúng ta có ý thức về giá trị của mình qua việc làm. Họ không biết đương đầu như thế nào với sự ngưng nghỉ và bất động. Kết quả là đời sống của họ nông cạn và hời hợt bên ngoài.

Phần đông con người có xu hướng đặt tình yêu của Thiên Chúa với hoạt động của xã hội. Dĩ nhiên cầu nguyện có thể là một sự tránh né và thoát ly. Nhưng hoạt động xã hội cũng thế. Hoạt động của chúng ta có thể là một sự tránh né việc tìm kiếm Thiên Chúa. Và không có cầu nguyện người ta có thể dễ dàng quỵ ngã, hướng ngã thay vì được Thiên Chúa hứng khởi.

Henry David Thoreau đã sống hai năm trong một túp lều trong rừng ở Maine. Ông ta làm gì trong suốt hai năm ấy? Ông trồng một vườn rau, đọc sách, và quan sát thiên nhiên. Nhưng một đôi khi ông không làm gì cả. Ông nói: “Thỉnh thoảng vào một buổi sáng mùa hè, tôi ngồi trên con đường ngập nắng dẫn vào túp lều từ sáng sớm cho đến trưa, mê man trong mộng tưởng giữa những cây thông, trong sự cô đơn và bất động yên tĩnh, trong khi bầy chim ca hát xung quanh tôi”.

Ông đã thu hoạch được gì từ điều đó? Ông nói:

“Trong những mùa ấy, tôi lớn lên như ngũ cốc trong đêm. Đó không phải là thời gian bị lấy mất khỏi đời tôi, nhưng vượt ra ngoài và bên trên sự bớt đi thông thường. Cần cù như những con kiến chưa đủ. Bạn cần cù về điều gì? Đừng sợ cuộc đời bạn sẽ kết thúc; đúng hơn phải sợ cuộc đời chưa bao giờ đã bắt đầu”.

Một số người có thể cho rằng Thoreau là một người mơ mộng lười biếng. Nhưng chúng ta cần dành thời gian cho việc cầu nguyện và suy niệm, hoặc chỉ cần ngồi thinh lặng trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đó không phải là thời gian bị lãng phí mà là thời gian được sử dụng tốt. Mỗi ngày chúng ta phải cố gắng, dù chỉ trong một thời gian ngắn, tìm kiếm khuôn mặt của Thiên Chúa.

Với cái nhìn nông cạn, phần việc của Maria có vẻ dễ dàng hơn –cô chỉ việc ngồi đó, và phần việc của Mácta khó khăn hơn. Nhưng suy nghĩ kỹ, chúng ta có thể thấy ít nhất đôi khi, phần việc của Maria khó khăn hơn nhiều trong hai phần việc ấy. Gạt bỏ công việc của mình và chú tâm hoàn toàn vào người khác không dễ dàng. Đem sự chú tâm trọn vẹn ấy vào Thiên Chúa lại càng khó khăn hơn. Nhưng đó là linh đạo sinh ra lợi ích rất lớn lao.

CÂU CHUYỆN KHÁC

Tổng Giám mục Anthony Bloom kể lại rằng người đầu tiên đến xin ngài một lời khuyên khi ngài đã được truyền chức thánh là một bà cụ, bà nói: “Thưa cha, con đã cầu nguyện hầu như không ngừng suốt mười bốn năm, và con chưa bao giờ có cảm giác gì về sự hiện diện của Thiên Chúa”.

“Con có để cho Thiên Chúa có cơ hội lên tiếng không?” ngài hỏi.

“Ồ không”, bà nói, “Con đã nói với Người suốt thời gian ấy. Như thế không phải là cầu nguyện sao?”.

“Không,” ngài nói. “Cha không nghĩ như thế. Bây giờ cha gợi ý thế này. Con hãy dành riêng mười lăm phút để chỉ ngồi trước mặt Thiên Chúa”.

Và bà đã làm như thế. Kết quả là gì? Không lâu sau, bà ta trở lại và nói: “Thật lạ lùng, khi con cầu nguyện cùng Thiên Chúa, nói cách khác khi con nói với Người, con không thấy điều gì. Nhưng khi con ngồi thinh lặng, yên tĩnh mặt đối mặt với Người, con cảm thấy được bao trùm trong sự hiện diện của Người”.

Sau cùng, cầu nguyện không phải để nhiều lời nhưng hướng đến sự hiệp thông với Thiên Chúa. Cầu nguyện là một sự yên nghỉ trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đây là vấn đề giữ tĩnh lặng trong sự hiện diện của Người hơn là việc đọc kinh.

 

50. Mát-ta và Maria.

Có một bà bếp của cha sở nọ, mỗi lần nghe đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, đều than phiền:

- Phải rồi, nếu không có Mát-ta, thì ai sẽ lau nhà, sẽ nấu ăn, sẽ rửa chén.

Cũng vậy, nếu tôi chỉ ngồi suy nghĩ và bàn luận về những sự cao siêu trên trời, thì chắc chắn chẳng có ai làm những công việc tầm thường ấy. Ngay trong lúc này, hẳn nhiều người trong chúng ta cũng tự hỏi:

- Làm thế nào để dung hòa giữa thái độ của Mát-ta và thái độ của Maria, hầu nhờ đó mà áp dụng vào cuộc sống cụ thể của mỗi người chúng ta.

Thực tế cho hay cuộc sống của chúng ta thì rất bận rộn, chúng ta không có thời giờ để ngồi dưới chân Chúa. Chúng ta muốn cầu nguyện nhiều hơn, chúng ta muốn tham dự thánh lễ thường xuyên hơn, chúng ta muốn đọc và suy gẫm lời Chúa lâu giờ hơn, nhưng kẹt một nỗi chúng ta lại không có thời giờ.

Quả thật, Chúa Giêsu muốn chúng ta vừa là Mát-ta lại vừa là Maria. Ngài không nói rằng: Khi làm việc như Mát-ta, chứ không thể cầu nguyện như Maria, hay trái lại, khi cầu nguyện như Maria, chúng ta không thể làm việc như Mát-ta. Hai thái độ trên liên hệ mật thiết và bổ túc lẫn cho nhau: Chúng ta vừa phải là Mát-ta vừa phải là Maria. Vậy thì chúng ta thực hiện lý tưởng ấy như thế nào?

Tôi xin thưa: Chúng ta hãy khởi đầu một ngày mới bằng cách dâng lên Chúa lời nguyện vắn tắt sau đây:

- Lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa trọn ngày hôm nay.

Còn nếu như có đủ thời giờ, chúng ta hãy cầu nguyện:

- Lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa mọi tư tưởng, mọi lời nói và mọi việc làm, để tôn vinh danh Chúa, hợp cùng cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Đấng cứu chuộc chúng con.

Đồng thời, thỉnh thoảng trong ngày, chúng ta hãy lặp lại lời kinh trên, nhờ đó thánh hóa những công việc tầm thường của chúng ta, biến những công việc tầm thường ấy trở thành một lời kinh liên tục, hay nói một cách khác biến cuộc đời chúng ta trở thành một thánh lễ nối dài.

Các vị thánh là những người bận rộn. Với các ngài, cái búa, cái cưa, cái cày, cái cuốc, cái chổi được coi như là những chén thánh ở trên bàn thờ. Tại sao lại như thế?

Tôi xin thưa vì những dụng cụ ấy là những dụng cụ để các ngài làm tôn vinh danh Chúa. Điểm chính yếu trong đời sống đạo đức đó là tinh thần phục vụ. Phục vụ Chúa trong mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc. Thánh lễ chúng ta đang tham dự cũng là một hình ảnh lý tưởng để chúng ta vừa là Mát-ta lại vừa là Maria. Như Mát-ta chúng ta cùng hát, cùng đọc và cùng dâng với mọi người. Như Maria chúng ta lắng nghe và suy gẫm lời Chúa, cũng như kết hiệp tâm tình để cầu nguyện với Chúa.

Khi rước lễ, Chúa Giêsu sẽ là vị khách quí ngự đến trong tâm hồn chúng ta, như ngày xưa Ngài đã là vị khách quí dưới mái nhà Bêtania. Xin Ngài hãy giúp chúng ta biết thực hiện tinh thần phục vụ như Mát-ta và Maria, đó là hãy làm mọi việc dù tầm thường nhỏ bé nhất vì lòng yêu mến Ngài, nhờ đó những việc nhỏ bé tầm thường này sẽ trở thành những sợi chỉ vàng, dệt nên tấm vải cuộc đời chúng ta.

 

51. Gia đình chị em Maria--Lm Giacôbê Tạ Chúc

Trong cuộc đời công khai giảng dạy, Chúa Giêsu được nhiều người thương mến và giúp đỡ. Trong số đó không thiếu những người phụ nữ đi theo Chúa, cách đặc biệt một gia đình mà Chúa thường đến thăm và quan tâm tận tình: gia đình của chị em bà Matta và Maria. Các Tin mừng ghi nhận ít là ba lần Chúa đến nhà chị em này (Ga 11, 1-45; 12, 1-11; Lc 10, 38-42).

Làng Bêtania

Nói đến gia đình Matta và Maria chúng ta không thể nào không nhắc đến một địa danh lịch sử, gắn liền với tên tuổi của hai Thánh nữ. Bêtania một làng nằm ở phía đông nam núi Cây dầu, thuộc vùng phụ cận Giêrusalem, trên đường nối liền với Giêricô. Nơi ở của Lazarô, Mátta và Maria (Ga 11,1). Là nơi Chúa cho Lazarô sống lại (Ga 11). Bêtania bây giờ là El-Azariyeh, “nhà của Lazarô”. Nhìn từ xa, làng Bêtania được mô tả như là “nơi tốt đẹp đáng ghi nhớ, nơi ẩn náu của sự bình yên, của nguồn yêu thương”. Bây giờ cũng chỉ là một làng nhỏ. Dân số hiện nay khoảng 5000 người. Bêtania ngày nay là vùng đất tự do, chẳng thuộc quản lý của Israel hay của Palestine. Từ Giêrusalem về Bêtania xe hơi chạy khỏang một giờ đồng hồ”.

Mátta và Maria

Câu chuyện Chúa Giêsu vào nhà Mátta và Maria nghỉ ngơi, khi cùng với các môn đệ đang trên đường rao giảng Tin mừng, cho chúng ta một nét đẹp trong chân dung của người Tông đồ phục vụ anh chị em mình. Trong khi cô em là Maria đang ngồi lắng nghe lời chúa, thì Mátta tất bật với công việc một người nội trợ thật tuyệt vời. Chúa Giêsu không có ý xem nhẹ, thái độ đón tiếp của bà. Bởi Chúa cũng cần lắm những cộng sự viên năng nổ, năng động như Mátta. Nếu làm một cuộc so sánh hai chị em thì chúng ta phải khẳng định rằng: Maria là người thiên về đời sống nội tâm, còn Mátta thì hướng đến sự chia sẻ và trao ban. Cả hai đều là những cách thế thể hiện một tình yêu đón nhận từ Thiên Chúa và tặng ban cho con người. Vả lại, Maria là người em nên có khi hơi ỷ lại một chút, công việc bếp núc cũng có phần nặng nhọc và cần đến sự khéo léo và tài tình, nên dành cho người chị thì có lẻ tốt hơn.

Một lần khác, khi ra chào đón Chúa Giêsu vào thăm trong hòan cảnh người em mới qua đời, Mátta bộc bạch cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy” (Ga 11,21). Lazarô đã chết, thế nhưng Mátta vẫn tin rằng Chúa Giêsu là sự sống vĩnh cửu của con người. Nói cách khác Mátta tin nhận Thầy Giêsu là Đấng Thiên sai, Đấng Messia mà thiên Chúa tặng ban cho nhân loại.

Lắng nghe và thực thi Lời Chúa dạy

Tin mừng dù ghi nhận sự khác biệt của hai chị em Maria và Mát-ta trong việc đón nhận lời Chúa, một bên là tĩnh lặng của tâm hồn, một bên là xao động của từng đường gân thớ thịt. Thế nhưng không ai có thể phủ nhận con tim của cả hai đang dạt dào tình yêu mến Thiên Chúa một cách vô bờ bến, trong con người của Mát-ta và Maria.

Kết hợp những nét đẹp rạng ngời của cả hai chị em, mỗi người sẽ thấy được việc lắng nghe và thực thi lời Chúa, chỉ là hai cách thế diễn tả của một tình yêu Giêsu.

 

52. Yêu theo cách của người mình yêu

Trên đường đi Giêrusalem, cách thành thánh 3 cây số, Chúa Giêsu ghé lại Bêtania, nơi ở của Mácta, Maria và Lagiarô, một gia đình mà Ngài rất quen thân và vẫn thường lui về nghỉ ngơi trong những dịp thi hành sứ vụ tại thủ đô. Không có nơi nào tính cách nhân loại mà Luca chủ trương phác hoạ được diễn tả trọn vẹn hơn ở đây, trong khung cảnh đầm ấm của gia đình, mà cũng khó gặp được một bức hoạ tâm lý sống động hơn ở đây. Có người tưởng tượng rằng Mácta là người khô khan nhưng cương nghị và đắc lực, còn Maria thì đôn hậu, đa cảm và lười. Thật ra cả hai chị em đều có những đức tính đáng khen. Cả hai đều yêu kính Chúa Giêsu và ước ao làm vui lòng Chúa. Nhưng trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ, Mácta đã làm việc quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon. Còn Maria vì trực giác hơn được điều Chúa muốn nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Nguời dạy. Nàng biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, nàng phải để ý đến ý muốn của vị khách trước. Trong việc tiếp đãi Thầy, nàng đã làm được việc lớn hơn chị nàng.

“Mácta tất bật lo việc phục vụ”. Nàng bù đầu với nhiều công việc mình muốn làm. Một kẻ theo Chúa có thể cố gắng thái quá, đôi khi điều đó bị thúc đẩy do cảm giác tự tôn và kiêu hãnh. Điều đó đã khiến cho người ta cáu kỉnh như Mácta khi nàng chỉ trích em mình, làm giảm giá em mình trước mặt vị khách của cả hai, vì câu nàng nói với Chúa ngụ ý trách cả Chúa nữa: “Em con để con một mình phục vụ mà Thầy không quan tâm sao?”.

Đáp lại Chúa tỏ lòng ưu ái bằng cách thân mật gọi tên nàng, nhưng trách nhẹ tinh thần của nàng và bày tỏ nguồn gốc của tinh thần ấy: “Mácta! Mácta! Con băn khoăn lo lắng về nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”. Ý Ngài muốn nói: không cần phải một bữa ăn thịnh soạn, một vài món cũng đủ rồi, nhưng có một điều cần thiết, điều ấy Maria đã chọn.

Chúng ta thử tìm những bài học nơi đây:

Nó bày tỏ sự va chạm giữa những tính tình khác biệt

Có người thì tự nhiên hăng hái hoạt động, lại có người khác ưa trầm tĩnh. Thật khó cho một người năng nổ hiểu một người chỉ thích ngồi yên để trầm tư mặc tưởng. Ngược lại, người trầm tư mặc tưởng lại thường khinh dể những người cứ luôn tay luôn chân. Không có vấn đề phải trái ở đây. Thiên Chúa đã không dựng nên mọi người giống nhau. Thiên Chúa cần có những người như Maria, nhưng Ngài cũng cần những người như Mácta, và cả hai người đó đều phục vụ Chúa. Không ai được độc quyền phục vụ Chúa hay chủ trương rằng chỉ có cách mình phục vụ mới là chính đáng.

Trong một cuộc lễ trọng, trên bàn thờ chưng đầy hoa nến, một cây nến được cắm giữa chậu hoa, đến cuối lễ, cây nến cháy hao dần và sức nóng toả ra làm các cánh hoa rũ rượi cụp xuống. Hoa than thở với nến: Chị và chúng em cùng phụng thờ Chúa, sao chị lại đốt rụi chúng em!

Nhưng ở đây còn có một bài học nữa: Bài học về một thứ lòng tốt sai lầm

Hãy nghĩ đến chỗ Chúa Giêsu đang đi đến khi chuyện này xảy ra. Ngài đang trên đường đến Giêrusalem. Toàn thể hồn xác Chúa đang lâm vào một cuộc chiến đấu nội tâm để làm cho ý muốn của Ngài hiệp nhất với ý muốn của Chúa Cha. Khi Chúa Giêsu tới gia đình này, đó là một ngày trọng đại cho họ. Để mừng ngày trọng đại này, Mácta rất muốn thực hiện một điều tốt nhất mà gia đình có thể thực hiện được. Vì thế nàng chạy ngược chạy xuôi, nấu nướng, và đó chính là điều Chúa Giêsu không muốn. Ngài chỉ muốn một điều là được yên tĩnh. Với hình ảnh thập giá ở trước mặt cùng một sự căng thẳng trong tâm hồn, Ngài đã rẽ bước về Bêtania để tìm một chỗ lặng lẽ nghỉ ngơi, dầu chỉ được một hai tiếng đồng hồ, để tránh xa đám đông dân chúng quá nôn nao đòi hỏi, và để có thể chia sẻ tâm tình với bạn thân để lòng vơi đi nỗi căng thẳng. Đó là điều Maria đã đem đến cho Ngài và đó cũng là điều mà Mácta vì lòng tốt đã làm hết sức để phá đi. “Chỉ một việc cần” câu ấy có thể có ý “Ta không muốn một bàn đầy thức ăn, Ta chỉ cần một món thật đơn giản”. Maria hiểu, còn Mácta thì không hiểu được. Đây là một trong những khó khăn của cuộc đời. Thường thì chúng ta muốn tử tế với mọi người, nhưng tử tế theo cách của chúng ta. Nếu cách thế của chúng ta không được thừa nhận, chúng ta cảm thấy dễ phật lòng tưởng rằng người ta không trọng mình.

Nếu chúng ta đang cố gắng ăn ở tốt với người khác, trước hết chúng ta phải hiểu ý của người mà mình muốn giúp đỡ, rồi chúng ta phải quên những chương trình của mình và chỉ nghĩ đến điều mà người đó đang cần.

Trong lịch sử nước Mỹ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln viết thư mời ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để thảo luận vài vấn đề. Ông bạn tới Bạch cung và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ thông báo ông định công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Tổng thống ôn lại tất cả các lý lẽ bênh vực cho các đạo luật ấy và những lý lẽ phi bác lập trường đối nghịch. Ông lại đọc cả những bức thư và bài báo viết về vấn đề đó, trong đó nhiều người trách ông chần chừ chưa phế bỏ chế độ nô lệ, lại có những bài chỉ trích vì ông có ý tiến hành việc ủng hộ chế độ nô lệ. Sau khi hăng hái nói một hồi lâu. Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta bình an và tiễn ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến gì hết. Lincoln đã nói, đã trút bỏ những suy nghĩ đang đè nặng trong lòng ông, như vậy đầu óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: “Khi Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn”. Lincoln chỉ cần một người bạn thân biết nghe ông nói và hiểu lòng ông để ông trút bầu tâm sự của ông thôi.

Chúa Giêsu yêu thương Mácta và Mácta cũng yêu mến Chúa, thế nhưng khi Mácta tỏ lòng tốt, thì lại chỉ tốt theo cách của nàng, điều mà thực sự không tốt với Đấng mà tâm hồn đang khao khát sự yên tịnh, sự thân mật. Chúa Giêsu yêu Maria vì Maria yêu Chúa, Maria cũng hiểu biết Chúa nữa.

 

53. Phúc cho ai sẵn sàng đón nhận Chúa--Jude Siciliano

Khi viết Tin Mừng, thánh Luca chia cuộc đời Chúa Giêsu làm 3 giai đoạn:

1. Ở quê hương Nazareth xứ Galilea;

2. Hành trình đi lên Giêrusalem;

3. Ở thành thánh Giêrusalem: chịu thương khó, bị giết chết và sống lại.

Thánh nhân thâu gom mọi hoạt động của Chúa vào 3 giai đoạn ấy bất kể nơi chốn và thời gian. Cho nên chúng ta khó xác định biến cố xảy ra ở đâu, lúc nào? thí dụ chuyện của hai chị em Matta và Maria hôm nay. Thánh sử ghi chép rất chung chung: “Trong khi Thầy trò đi đường. Đức Giêsu vào một làng kia…” Thánh Gioan nói rõ: làng Betania (11,1), và thời gian thì không phải Đức Giêsu đi lên Giêrusalem một lần duy nhất, nhưng vào nhiều dịp khác nhau. Tuy nhiên cứ theo thánh Luca thì câu chuyện Tin mừng hôm nay ở vào cuộc hành trình duy nhất này. Phụng vụ cho đọc về cuộc hành trình từ Chúa nhật 13 mùa thường niên. Một vài biến cố xảy ra lúc thầy trò đang đi đường. Một vài biến cố chỉ lấy con đường làm nền tảng còn thì xảy ra ở những nơi khác. Chuyện của hai chị em Matta và Maria không ở trên đường đi mà “vào một làng kia”. Cũng xin lưu ý nhiều tác gỉa không đồng nhất bà Maria này với Maria-Madalêna hay người đàn bà tội lỗi vô danh xức thuốc thơm chân Chúa ở nhà ông Simon (7,36). Ba người đàn bà có những tính nết khác nhau, không lẫn lộn được. Người đàn bà vô danh thánh Luca thuật chuyện ở giai đoạn thứ nhất. Ngài không lặp lại ở đây nữa (xem Le personnage de Marie-Madeleine dans L’Evangile, trong La revue Jerusalem tháng 9-10,1930).

Vì câu chuyện quá quen thuộc, chúng ta không nên vội vàng đi đến kết luận ngay, kẻo làm thiệt hại cho sự thật. Xin tưởng tượng mình đọc lần thứ nhất và để tâm suy nghĩ xem thánh Luca muốn nói gì với chúng ta nhân câu chuyện của hai chị em. Thí dụ về cô Matta, chúng ta đừng vội kết luận cô ta thuộc hạng người hoạt động thái quá, dễ nổi nóng và lo lắng tiếp đãi khách, cô không còn thời giờ lắng nghe lời Thiên chúa phán dạy. Nếu chúng ta có thành kiến gán cho cô như vậy, thì thử hỏi nhiều độc giả nghĩ thế nào khi đọc đoạn Tin mừng này? Bởi vì họ cũng là người cha, người mẹ vất vả kiếm sống cho con cái trong xã hội xô bồ hôm nay. Họ cũng là những công nhân, nông dân đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi gia đình! Liệu có ai trong cuộc sống văn minh ngày nay được thời giờ nhàn hạ như cô Maria? Liệu chúng ta có kết án vô lý tầng lớp sản xuất của xã hội? Tầng lớp mọi người đều trân trọng vì lao động của họ?

Ví dụ một người cha, người mẹ độc thân, lương lậu thấp, cố gắng rất mực để cho gia đình đủ ăn đủ mặc mà nghe giải thích bài Tin mừng hôm nay theo não trạng cũ, mà lại không thấy mủi lòng? Liệu họ có thể lựa chọn ngồi một chỗ thinh lặng chiêm niệm lời Chúa như cô Maria được không? Cho nên chúng ta không thể loại trừ tầng lớp lao động chân tay khỏi ý nghĩa của Tin mừng. Chúng ta phải làm thế nào cho cô Matta cũng được tham dự vào “phần tốt nhất” mà Chúa Giêsu tuyên bố cho những kẻ lắng nghe lời Chúa! Như vậy thì những phụ nữ lao động tại gia đình hoặc trong các xí nghiệp. cơ quan mới cảm thấy không thiệt thòi về phần thiêng liêng. Chính họ đã phải hy sinh nhiều vì chồng con. Lắm người lại còn phải mang gánh nặng góa bụa. Liệu Matta có phải là một bà góa không nhỉ? Những chỉ số thống kê gần đây cho biết phụ nữ luôn lãnh lương thấp hơn so với nam giới trong cùng một công việc. Ngoài ra phụ nữ lại là những nhân viên tình nguyện đông hơn nam giới trong các cơ sở giáo hội, từ thiện, bác ái, công ích xã hội. Họ ít thời giờ giải trí, vui chơi hơn đàn ông. Thực tế họ là những phụ nữ “Samaritanô” nhân hậu lắng nghe và tuân giữ lời Chúa như chị em Maria và Matta. Cho nên chúng ta phải công bằng với họ trong lý thuyết và thực hành, làm sao cho họ cũng là những kẻ đón nhận Chúa Giêsu, lắng nghe lời Ngài như bao người khác. Để rồi như dụ ngôn người “thân cận” chúng ta hiểu được việc phục vụ của các tín hữu hệ tại nội dung nào?

Một điều cần nói là trong bản dịch khác của tiếng Anh thì từ “đón nhận” được chuyển ngữ là “tiếp đãi” Chúa Giêsu. Thoạt kỳ thủy chỉ có Chúa và cô Matta. Maria chưa xuất hiện. Trong suốt câu chuyện Maria chẳng nói lời nào! Matta theo truyền thống đông phương đã tiếp đãi kẻ đi đường rất nồng hậu và lịch thiệp. Chúng ta thấy truyền thống này trong bài đọc 1. Ông Abraham tiếp đãi ba người khách lạ xin trọ nhà ở Mambrê, gần Hébron. Ông đã giục vợ là Sara làm bánh tiếp đãi các vị, rồi sai đầy tớ bắt bê béo làm thịt. Sách Sáng thế Ký kể: “Ông Abraham vội vã vào lều tìm bà Sara mà bảo: Bà mau mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi rồi làm bánh. Ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê non béo tốt, giao cho đầy tớ và anh này vội vã làm thịt. Ông lầy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đã làm mà đãi khách”. Rõ ràng có những vội vã, rộn ràng trong việc tiếp khách của ông Abraham. Vậy mà ông đâu có bị quở mắng? Ngược lại hai ông bà lại được chúc phúc: sẽ có con cháu nối dòng. Đó là Isaac (tiếng này có nghĩa là nụ cười vì bà Sara cười thầm khi nghe khách báo tin). Cô Matta đã theo thói tục lâu đời của cha ông đãi khách lạ trong nhà mình. Cả hai câu chuyện đều có ý nghĩa chung: tiếp đón Thiên Chúa đến viếng thăm. Abraham và Sara đã được ơn phúc lớn vì sự hiếu khách của mình. Chẳng lẽ Matta lại bị quở phạt? Chúng ta phải hiểu câu chuyện của cô theo hướng khác.

Phụng vụ chọn đọc bài Sáng thế song song với bài Tin Mừng là có dụng ý. Chúng ta được kêu mời suy nghĩ kỹ hơn về các sự kiện. Nhờ lòng hiếu khách Abraham và Sara được Thiên Chúa chúc lành với người con nối dòng. Nhưng dòng dõi đích thực của họ là phần tinh thần. Con cái họ là những kẻ biết kính sợ và tin cậy Thiên Chúa. Đấng luôn luôn ngự giữa dân Ngài theo lời hứa. Đấng ký kết với Israel những giao ước vĩnh cửu. Dòng dõi Abraham và Sara là những kẻ lữ hành trong đức tin trên cuộc đời trần gian. Họ sẽ “mở lòng ra” đón nhận Thiên Chúa trong cuộc sống mình. Cũng như Matta và Maria, chúng ta là hậu duệ của hai ông bà, chúng ta cũng phải mở trí, mở lòng đón nhận lời Chúa, đón nhận “khách lạ” vào cuộc sống mình. Những khách lạ đó không hẳn là người đồng vai đồng vế, những môn đăng hộ đối về kinh tế, chính trị, học thức với mình. Nhưng có thể là thấp kém, cũng có thể là hơn. Hội thánh xưa nay vẫn vừa chiêm niệm vừa hoạt động, hai khả năng không loại trừ nhau. Đúng hơn hoạt động và chiêm niệm bổ túc cho nhau. Hoạt động để chiêm niệm và chiêm niệm để hoạt động. Không nghiêng hẳn về bên nào. “Cầu nguyện và hoạt động” như thánh Bênedictô dạy. Tuần này qua tuần khác, chúng ta lắng nghe Tin mừng thánh Luca. Giống như Maria ngồi bên chân Chúa và nghe lời Ngài, để học biết phải “đón tiếp” Chúa vào cuộc sống mình ra sao! Tuần vừa qua chúng ta nghe dạy mình phải là “thân cận” của những kẻ đang cần được giúp đỡ. Tuần này câu chuyện của Maria lắng nghe lời Chúa. Như vậy chúng ta học biết phải thi thố lòng hiếu khách và tử tế cho những ai có nhu cầu. Chẳng phải vô tình mà sử gia Luca đặt câu chuyện hôm nay ngay sau chuyện người Samaria nhân hậu. Thánh nhân có ngầm ý gởi cho độc giả một thông điệp. Mọi người phải thưa gởi Chúa Giêsu như thầy thông luật: “Con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” và câu chuyện của hai chị em Matta và Maria trả lời: “Hãy đón tiếp Chúa Giêsu vào cuộc sống và lắng nghe lời Người dạy bảo về yêu thương đồng loại, những kẻ thân cận của mình” và con đường dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu sẽ rõ ràng cho mỗi linh hồn.

Chúa Giêsu hỏi ngược nhà luật sĩ: “trong luật đã viết gì?” Ông ta trả lời: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn ngươi và yêu mến ngươi thân cận như chính mình”. Câu này có hai phần: phần thứ nhất: yêu mến Chúa, phần thứ hai: thương người thân cận. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu trả lời cho phần thứ hai. Tin mừng hôm nay trả lời phần thứ nhất: Lắng nghe lời Chúa tức yêu mến Ngài. Đứng riêng lẻ một mình không nội dung nào đầy đủ cả. Trong dụ ngôn tuần trước người Samaria trông thấy và giúp đỡ kẻ bị nạn. Cô Maria hôm nay đón nghe lời Chúa. Cả hai gộp lại mới cho chúng ý nghĩa trọn vẹn lời giảng của Chúa Giêsu. Xin nhớ nữ giới thời Ngài thường bị hạ thấp giá trị, tương tự như trong xã hội chúng ta ngày nay. Cho nên, cả người Samaria, cả cô Maria là những mẫu người được Chúa Giêsu đề cao: “Mẹ và anh em Thầy là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”(8,21). Thánh Phaolô trong bài đọc thứ 2 là gương mẫu người thực thi ý Chúa và thương yêu đồng loại. Ông viết: “Tôi đã trở nên người phục vụ Hội thánh, theo kế hoạch Thiên chúa đã ủy thác cho tôi, liên quan đến anh em! Đó là tôi phải rao giảng lời Người cho trọn vẹn, rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại”. Chữ “mầu nhiệm” thánh nhân dùng gồm tóm mọi chương trình của Thiên Chúa, dự định cho nhân loại. Nhưng nay đã được tỏ bày qua con người và sứ vụ của Chúa Giêsu.

Một từ giúp hiểu rõ bối cảnh của tin mừng hôm nay là danh xưng “Lạy Chúa” (tiếng Latinh: Dominus, tiếng Anh: Lord). Từ này chỉ được Tin Mừng dùng sau khi Chúa đã sống lại. Thí dụ ông Tôma thưa: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con (you are my Lord and my God)”. Thánh Luca đã có dụng ý biểu lộ phản ánh sinh hoạt của Giáo Hội tiên khởi nơi ông trụ trì. Họ đón nhận và lắng nghe Chúa sống lại trong cộng đoàn của mình. Hơn nữa Tin Mừng còn 2 lần nhắc lại từ “phục vụ”(diakonia) chỉ rõ thói quen hành xử của các viên chức hội thánh lúc bấy giờ. Người ta đã tranh luận nhiều về vai trò nữ giới trong các Hội thánh tiên khởi. Liệu họ có được phép “phục vụ” trong Giáo hội không? Nếu được thì phần việc của họ là gì? Tương tự như chúng ta ngày nay tranh cãi về các vấn đề nữ giới làm linh mục. Thực tế, thời thánh Luca nữ giới giữ nhiều chức vụ trong cộng đoàn: mục vụ, công việc tông đồ, lãnh đạo, rao giảng Tin mừng như trong các thơ của thánh Phaolô (Rm 16,1-5; 16,6-12; 1Cr 16,19; Phil 4,3…). Nhưng trong các thư cũng như bài đọc Tin Mừng hôm nay có sự chia rẽ. Một số thẩm quyền muốn nữ giới giữ vai trò lệ thuộc như cô Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu. Và như thế người phụ nữ im lặng là “phần tốt hơn”. Đó cũng là một lối giải thích cho câu chuyện của Luca! Liệu ông có dụng ý thực sự như vậy không? Ông muốn vai trò của phụ nữ là im lặng và thụ động? Nếu đúng, thì tại sao trong công vụ ông nhắc nhiều đến phụ nữ làm việc tông đồ, lãnh đạo giáo đoàn? Hơn nữa, theo thói tục Do thái người ngồi dưới chân “tôn sư” là chỗ của các sinh viên nam giới? Hoặc bởi vì Chúa Giêsu là người phóng khoáng, ít khi lệ thuộc vào thói quen và tập tục, cho nên không để cho những nề nếp trói buộc mình. Bất cứ ai lắng nghe lời Ngài đều được ngồi dưới chân và trở nên môn đệ của Ngài. Vấn đề thật nhiêu khê. Dầu sao,vai trò của Matta đón tiếp và phục vụ là công việc quan trọng trong Hội thánh. Ngày nay chúng ta luôn phải thực hành, để những người cô thân cô thế không bị bỏ rơi. Có biết bao nhiêu khách lạ, đói khát, rét mướt, trần truồng trong xã hội. Không người chăm lo cho họ thì Hội thánh liệu có làm tròn sứ vụ của mình? May thay, trong công việc này, nữ giới chiếm phần đa số. Tương tự như trong các giáo hội tiên khởi có rất nhiều phụ nữ tài năng. Kẻ thì ngồi im lặng lắng nghe lời Chúa như cô Maria, kẻ khác hoạt động cứu giúp những nạn nhân thiên tai, dịch họa, bần cùng, đói khát như cô Matta. Bằng đường lối riêng của mình cả hai loại người cùng đón tiếp Chúa Giêsu, cùng phục vụ Ngài. Rõ ràng cả hai đều được Ngài dạy dỗ, bày tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân. Chúng ta nên cân bằng những hoạt động của họ, không bên khinh bên trọng. Mọi tín hữu đều được mời gọi lắng nghe lời Thiên Chúa. Mọi tín hữu có bổn phận đem Lời Chúa ra thực hành. Loại trừ mọi khả năng ưu tuyển, nhận cho mình những phần hơn, phần tốt. Bởi lẽ khi hoàn thành công tác, mọi người đều được Thiên chúa thâu nhận vào nước trời, an hưởng cuộc sống đời đời. Đó là phần tốt nhất và không bị lấy đi. Trong thánh lễ hôm nay, xin Thiên chúa cho mọi linh hồn thấm nhuần được tinh thần đó. Amen.

 

54. Hai mặt của mỗi cuộc đời--Fr. Jude Siciliano, OP

Thưa qúi vị ,

Mặc dầu theo truyền thống thì chúng ta ủng hộ Cô Maria trong câu chuyện tin mừng hôm nay. Cô đã tỏ ra xứng đáng là một môn đồ tốt của Chúa Giêsu. Nhưng điều tôi muốn nói là:?Cám ơn Chúa vì Cô Mát-ta!". Cô Maria ngồi bên chân Chúa Giêsu chăm chú nghe Ngài giảng dậy. Thánh sử Luca vẽ một quang cảnh thật đẹp ở đây. Cảnh trí quá ư yên tĩnh và yêu kiều đến nỗi nhiều nghệ sĩ đã lấy nó như nguồn cảm hứng. Một nữ môn đệ lắng nghe Chúa dậy bảo. Còn chi thích hợp hơn cho một đề tài tôn giáo! Và bạn sẽ vẽ cảnh trí này ra sao? hay dựng nó thế nào cho một kiểu chụp ảnh? Cô Maria hơi nghiêng đầu về phía trước, toàn tâm toàn trí lắng nghe lời Ngài, lo lắng kẻo bỏ sót một lời nào. Còn Chúa Giêsu, thoải mái nhưng nghiêm nghị. Ngài ngồi cũng hơi nghiêng về phía Maria, quần áo tươm tất không vết nhăn, tay Ngài chỉ lên trời ở những điểm quan trọng, Ngài cố gắng nói rõ ràng chậm rãi, tiếng Ngài bình tĩnh, trong, vang và vững chải. Ngài không để một điều chi mù mờ khó hiểu. Ngài thường nhắc đi nhắc lại những ý chính. Maria hớn hở vì được nghe giáo lý tuyệt vời của Ngài. Xong bức tranh bạn treo lên tường ngắm nghía, mọi sự đều toàn hảo , gọn gàng, không một nét vụng về, lạc lõng. Ánh sáng trong lành từ của sổ chiếu vào, làm cho bức tranh thêm rực rỡ. Ngoài kia bầu trời trong xanh, không một gợn mây!

Phải chăng đó là câu chuyện tin mừng hôm nay? Tất cả đều hòa hợp toàn hảo, tất cả đều là ánh sáng? Tất cả đều rõ ràng cho các môn đệ đang lắng nghe lời Chúa và đó cũng là đời bạn, đời tôi? Không đâu! Tôi không nghĩ như vậy! ít là cuộc đời của tôi. Tôi đã từng phải vật lộn để được chút tâm trí mà lắng nghe lời Chúa. Bức tranh đẹp qúa và xem ra là ở một nơi xa vời nào đó, trên một ngọn đồi, trong một tu viện yên tĩnh nghiêm trang. Có thể là một thầy khổ tu hay một chị đan sĩ có điều kiện hòa điệu hoàn toàn đời mình với lời Chúa và lắng nghe lời Ngài trên ngọn đồi tu viện thơ mộng xa vắng trong một ngày quang đãng không mây! Còn thì chẳng mấy người có được những cơ hội tốt như vậy. Thực tế tôi đã cất công đi phỏng vấn nhiều tu sĩ nam nữ trên đất nước này và họ đều trả lời: chẳng được. Thì ra không ai trong chúng ta có hạnh phúc nghe lời Chúa ở một vị trí lý tưởng: không ai quấy rầy, hoàn toàn học được những điều cần thiết để đưa ra chính xác những quyết định cho đời mình!Chúng ta bất hạnh hơn Maria chăng? Thưa không! Th.Luca chẳng có ý viết tin mừng cho một số ít chọn sống đời chiêm niệm. Ngài viết cho đại đa số dân Chúa bận rộn. Cảnh trí của Maria chỉ có vài dòng, tiếp ngay sau là lời phàn nàn của Mát-ta! Vì vậy tôi nói ở trên:"Tạ ơn Chúa vì Cô Mát-ta!" và tôi nghĩ anh chị em trong nhà thờ này cũng đồng tình với tôi khi nghe Mát-ta cất tiếng! Thực sự thì anh chị em đã đựoc biết trước mọi chi tiết củ? câu chuyện và anh chị em đã dự đoán sự nhập cuộc của cô ta. Có một lần khi diễn giải đọan tin mừng này, tôi nói:"Nếu như mẹ tôi được phép xé rách một câu chuyện nào trong tin mừng và vứt bỏ đi, thì đây là câu chuyện bà làm trước nhất. Cả nhà thờ bật cười tán thưởng. Thành ra họ cũng chẳng có được hoàn cảnh lý tưởng như cô!

"Lạy Chúa , Ngài không nghĩ đến sao.? Mát-ta cất tiếng phản kháng khi cô nêu ra những khó khăn, nhọc mệt của mình. Chính cô Mát-ta đã đón tiếp Chúa Giêsu vào nhà mình và chính chúng ta cũng tiếp rước Chúa Giêsu vào cuộc đời chúng ta! Nhưng mà sau cuộc đón tiếp là những hệ quả lao nhọc liền theo! Hằng trăm thứ việc phải làm, toàn là công việc nặng nhọc và chúng ta cảm thấy như phải làm một mình! Chúng ta ở đây không chỉ là cá nhân mà có khi là cả một cộng đoàn giáo xứ. "Lạy Chúa, Ngài không nghĩ đến sao ""? Giáo xứ chúng con phải vật lộn với trăm công nghìn việc để giữ cho giáo xứ đoàn kết an vui! Bầu khí trong giáo xứ thảnh thơi êm ả. Thánh Luca mô tả cộng việc của Mát-ta là "diakonia"(tiếng Anh là Deacon, và tiếng Việt la phó tế). Ðây là chìa khóa để chúng ta hiểu ý nghĩa của bài tin mùng hôm nay. Mát-ta đang làm cộng việc phục vụ Chúa Giêsu. Vậy thì Maria và Mát-ta là hai mặt của cùng một thực tế, phục vụ Chúa Giêsu, làm môn đệ Ngài. Hai người đàn bà này không phải là hai lực lượng kình chống nhau, mà là hai chị em, cùng đón tiếp Chúa Giêsu, cùng phục vụ Ngài, mặc dầu Mát-ta không được đánh gía cao! Nhưng không vì thế mà của cô kém phần quan trọng. Làm môn đệ Chúa Giêsu không có ý nghĩa là chỉ lắng nghe lời Ngài, hoàn toàn thụ động như cô Maria, mà còn là thực hành lời Chúa.

Có học gỉả lưu ý rằng các tông đồ phái nam luôn luôn được mô tả như những người đối thoại với Chúa Giêsu. Vậy thì hai mẫu người đàn bà môn đệ của Chúa Giêsu, chưa người nào là đầy đủ, họ cần bổ túc cho nhau, và chúng ta tất cả có thể học hỏi ở họ về mặt này hay mặt khác.

Bài tin mừng hôm nay tiếp liền sau bài tin mừng tuần trước về người Samaritanô nhân hậu, như vậy Th.Luca gợi ý rằng những môn đệ ngồi bên chân Chúa Giêsu, lắng nghe lời Ngài thì phải nhận ra lòng thương xót của Chúa trong câu chuyện dụ ngôn, nếu chúng ta không lắng nghe thì làm sao chúng ta có thể trở nên môn đệ đích thực của Ngài? Chúng ta sẽ ra đi nghĩ rằng mình là môn đệ Chúa, rồi phạm đủ mọi thứ sai lầm như hai thầy tư tế và lêvi kia. Nghe lời Chúa và phục vụ Hội Thánh cả hai đều cần thiết. Chúng ta cần cả hai trong cuộc sống nếu như muốn làm môn đệ trung thành của Ngài. Các nhà sư Phật giáo cũng có những suy nghĩ giống như vậy. Họ nói:"Sau những giây phút tịnh thiền, là đến các đĩa món ăn". Ngay cả đến những tu viện chiêm niện nghiêm ngặt nhất thì cũng phải mưu sinh trồng tỉa, lau chùi sàn nhà, nấu ăn, giặt dũ v.v.những công việc thường nhật để có thể nuôi sống lẫn nhau và giúp đỡ những ai đến gõ cổng tu viện. Thực ra, khẩu hiệu của các vị tu sĩ chiêm niệm là:"Cầu nguyện và lao động" (Ora et labora).

Khi chấp nhận môn đệ tốt của Chúa Giêsu phải gồm cả hai mặt lắng nghe và thực hành lời Chúa, tôi chẳng thể tránh một điều gai góc là làm thế nào tôi có thể nuôi dưỡng được vị trí chiêm niệm trong cuộc đời tôi. Nó luôn bị những náo động thế gian đe dọa, lấn át, bổn phận hằng ngày, tiếp khách, soạn bài giảng, nghề nghiệp, con cái, bạn bè, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống, ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí. Nếu như Maria và Mát-ta là hai mặt của cuộc đời tôi, thì chính khía cạnh Maria cần phải được chăm sóc, lo lắng nhiều hơn.

Linh mục James Finley trong sách "trái tim chiêm niệm" (The Contemplative heart) đưa ra một giải pháp, đó là: "hãy học làm thức tỉnh tính thần linh của mặt đất dưới chân bạn." Nghe lạ lùng quá, nhưng bí quyết thì rất đơn giản: hãy thánh hóa giây phút hiện tại mong manh của bạn. Chúng ta có tính hay quên, quên rằng vũ trụ này là do Chúa dựng nên, Ngài còn tiếp tục hiện diện đâu đây trên trái đất, trong vũ trụ, trong muôn loài. Chúng ta chẳng có thể nắm bắt được Ngài, nhưng Ngài vẫn luôn có mặt ở đó, Mỗi buổi sáng, bình minh đẹp lắm, chiếu tỏa muôn hồng nghìn tía trên những ngọn đồi phía đông xa xa, chúng ta tưởng có Chúa ở đấy, nhưng khi leo lên đỉnh đồi chúng ta chẳng thấy Ngài đâu! Bông hoa nở trên bờ dậu đàng kia đẹp qúa, long lanh sương mai, chúng ta tưởng có Chúa ở đó, nhưng khi cầm bông hoa trong tay, lại chẳng thấy Ngài đâu! Nụ cười cô thôn nữ trước ngõ tươi quá, đẹp quá, dịu dàng quá, tưởng như một hạt ngọc làm ngây ngất tâm hồn, nhưng khi đi qua ngõ chỉ được một lời chào trong trẻo, chẳng thấy Chúa đâu.hay nói cách khác Chúa ở khắp mọi nơi, mọi tạo vật của Ngài. Nhưng Ngài không ở đấy để cho bạn nắm bắt được. Ngài vô hình kia mà! tuy Ngài vẫn có mặt ở bên bạn ,

Lạy Chúa xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe trong khi tiếng của Mát-ta, của thế giới thực tế chen vào nhắc nhở chúng ta về đủ mọi thứ công việc trên đời để phục vụ Chúa trong tha nhân và nuôi sống lấy mình, lấy gia đình mình. Hai mặt của một cuộc đời. Xin Chúa cho chúng ta luôn luôn biết chạy đến bàn tiệc thánh thể để được nuôi dưỡng trên con đường gập ghềnh tiến về Giêrusalem, xứng đáng là những người môn đệ trung thành của Chúa. Amen.

 

55. Chiêm niệm hay hoạt động--Fr. Jude Sicilianô, OP.

Thưa quí vị,

Chúa Giêsu và các tông đồ tiếp tục đi lên Giêrusalem. Dọc đường, các ngài gặp nhiều nhóm người khác nhau: Đám đông dân chúng vì tò mò hoặc vì nhu cầu cấp thiết như khỏi bệnh, tìm kiếm sự sống đời đời… Nhóm Pharisêu, thượng tế, luật sĩ tranh luận về giáo lý rồi dần dần đối kháng, hận thù; nhóm phong cùi, hành khất; nhóm môn đệ theo Ngài nhưng bối rối về cuộc khổ nạn sắp tới. Chúa nhật tuần trước, chúng ta nghe kể chuyện thầy luật sĩ thắc mắc về thân cận của mình. Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn người Samaritanô nhân lành. Tuần này, hai chị em Mátta và Maria. Chủ ý của phụng vụ là nêu câu hỏi: Liệu ai là kẻ lắng nghe Lời Chúa để được cứu rỗi: Maria hay Mátta, Pharisêu hay các môn đệ? Còn chúng ta, thuộc về hạng người nào?

Truyện hai chị em Mátta và Maria chỉ có trong Phúc Am Luca. Vậy đây là đặc điểm của ông và người ta chờ đợi trong đó nội dung quan trọng hoặc hòan cảnh gương tốt, việc tốt để noi theo. Thí dụ, chúng ta được học về hai mẫu người: phục vụ và lắng nghe Lời Chúa Giêsu nói, nói cách khác, hành động và cầu nguyện. Tác giả Philip Toynbee đưa ra nhận xét: ngày nay trong thế giới Công giáo, cứ 100 cô Mátta mới có một cô Maria. Vậy, câu chuyện chị em Mátta và Maria phải chăng là một lời cảnh tỉnh? Nhất là những linh hồn ưa chăm chỉ việc xác, nhếch nhác việc hồn. Câu chuyện người Samaritanô nhân hậu tóm lược lý tưởng bác ái Kitô giáo. Câu chuyện hai chị em Mátta trình bày cách sống ấy, tức thân tình với Thiên Chúa trước khi với tha nhân. Cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa đến trước việc họat động bên ngòai. Thực tế các họat động bên ngòai đối với người môn đệ đích thực là hiệu quả của cuộc sống nội tâm. Làm ngược lại là mắc mưu ma quỉ, kẻ luôn chủ trương phân tán linh hồn bằng những họat động vô bổ, rỗng tuếch. Liệu Lời Chúa dạy hôm nay có đựơc chúng ta lắng nghe? Liệu lời cầu nguyện kiểu Maria có giúp đỡ chúng ta đừng tránh sang bên kia đường mà đi? Như vậy, câu chuyện người Samaritanô và câu chuyện hai chị em cô Mátta liên kết chặt chẽ với nhau trong giáo lý của Phúc Am. Chúng chỉ có một nội dung: “First things first” (điều quan trọng ưu tiên hơn cái không quan trọng).

Thật vui thích cho Chúa biết bao khi được Mátta phục vụ chu đáo! (trong Phúc Am Luca, Mátta chỉ xuất hiện lần duy nhất này). Nhưng Chúa Giêsu lại hài lòng hơn khi Maria chỉ ngồi dưới chân mà nghe Lời Ngài giảng. Phong tục thời ấy, ngồi dưới chân ai được coi là môn sinh của người đó. Như vậy chứng tỏ Maria coi Chúa là Thầy, là ngôn sứ rao giảng Lời Thiên Chúa. Ngược lại, Phúc Am mô tả Mátta: “tất bật lo việc phục vụ”. Cô tỏ ra mình là bà chủ, lăng xăng việc tiếp đón. Rõ ràng một bên là môn đệ, một bên là chủ nhân đối với vị khách quí và thân tình. Thái độ của Mátta “tất bật” cho người ta cảm nghĩ Chúa Giêsu đã tới gần thành thánh, cô lo nhiều chuyện quá nên cảm thấy mình bị bỏ rơi! Tác giả Timothy Johnson giải thích thái độ của hai chị em như sau: từ “tất bật” trong ngôn ngữ gốc có nghĩa là “bồn chồn”, tức vướng mắc vào cuộc sống thế tục quá đáng, náo động nếp sống phẳng lặng hàng ngày, cho nên Chúa Giêsu khuyên chỉ cần một điều mà thôi. Nhiều người giải nghĩa điều cần là đĩa thức ăn hoặc chút ít cũng được. Johnson lại cho điều cần là lòng hiếu khách: chú ý đến sự hiện diện của khách là quan trọng, các thứ khác tuỳ tùng. Nếu vậy thì lựa chọn của Maria là chính xác, còn Mátta thì trệch đường. Maria chú ý vào đấng tiên tri trong nhà mình, tức sự tiếp đãi khách tốt hơn cả. Ngoài ra, cô còn “lắng nghe” lời khách nói. Vị khách nói toàn Lời Thiên Chúa. Phải chăng đó là điều cần thiết?

Dầu thế nào đi nữa, chúng ta ngày nay cũng phải tự hỏi: “Tôi đã tiếp đãi Chúa Giêsu ra sao? Liệu tôi mở lòng ra để đón nhận Ngài hay lăng xăng nhiều chuyện khác?” Cuộc sống hàng ngày cho chúng ta nhiều cơ hội gặp “khách”, đủ mọi loại, đủ mọi thứ. Liệu chúng ta lắng nghe họ hay chỉ biết huyên thuyên sự “thông thái” của mình? Bịt tai trước ý kiến khác: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Biết đâu vị khách đó lại từ thiên giới đem bình an và ơn cứu rỗi cho nhân loại! Biết đâu là bất cứ cá nhân nào mà sự hiện diện của họ phá tan những thành kiến, những sai lầm cố hữu của não trạng kiêu căng nơi chúng ta? Hàng ngàn, hàng vạn “khả năng” khác hữu ích cho cuộc sống tẻ nhạt này? Chẳng ai nói trước được? Cho nên thái độ kiêu căng là vô lý. Nhưng xưa nay chúng ta lại thường mắc phải.

Vậy, đúng đắn nhất là đức tin, kính trọng, cậy nhờ vào Thần khí của Chúa Giêsu cư ngụ trong mỗi linh hồn. Chú ý vào những điều chúng ta nghe được, xem thấy và suy tư về chúng. Giống như Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu, nghe Lời Người dạy bảo, bỏ dần độc tài, võ đoán, hoặc chỉ nghe tiếng nói quen thuộc của “phe ta”, cộng đoàn ta. Cái gì cũng hay nhất, đúng nhất. Nhiều khi trên thực tế, chỉ là lố bịch. Biết đâu những điều chúng ta nghe thấy, kinh nghiệm được lại là những kho báu cho cuộc sống riêng ta và cộng đoàn? Biết đâu mình đang tiếp rước, “chuyện trò” với một ngôn sứ Thiên Chúa gởi đến vì lợi ích chúng ta? Vậy trước khi bịt tai, đóng cửa, rút cầu thì hãy mở trái tim ra cho những mới lạ và thực hành lòng hiếu khách đối với tha nhân, người khác chính kiến với mình, với tu viện mình, với phe nhóm mình, và ngay cả tôn giáo mình. Lịch sử đã chứng minh, hàng ngàn hàng vạn lần người ta đã bỏ lỡ cơ hội tốt để canh tân, thăng tiến chỉ vì thái độ đóng cửa, rút cầu để rồi sau này, hối hận cũng vô ích.

Thiên Chúa kêu gọi chúng ta yêu mến và phục vụ Ngài, yêu mến và phục vụ tha nhân. Nhưng yêu mến phải là ưu tiên. Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân được diễn tả cách cụ thể bằng lời cầu nguyện. Cầu nguyện là dâng hiến cho Ngài lòng hiếu thảo của mình. Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta phải liên lỉ cầu nguyện, chứ không phải liên lỉ phục vụ. Chính vì thế mà Phúc Am mô tả Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Cha Ngài không ngừng, ngay cả trong giờ tử nạn. Thánh Thomas tiến sĩ đã đặt đời sống chiêm niệm lên trên đời sống hoạt động (xc Summa Theologica 2a2ae 179). Chẳng lẽ, chân lý đó sai? Hay não trạng ngày nay không còn chấp nhận, cho là cổ hủ, chậm tiến?

Cuộc đời, nhất là của các tu sĩ, linh mục, không có tình yêu thì quả trống rỗng, thê lương buồn thảm, thậm chí tự sát. Nhưng tình yêu trước hết là thi hành kết hiệp với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện. Vì vậy, Chúa Giêsu tuyên bố: “Hỡi những ai khó nhọc và gánh vác nặng nề, hãy đến cùng Ta. Hãy mang lấy ách của Ta, vì Ta khiêm nhường và dịu dàng trong lòng, bởi vì ách của Ta thì êm ái, gánh của Ta thì nhẹ nhàng”. Chẳng có ách nào, gánh nào lại nhẹ nhàng, êm ái, nếu không phải là ách của tình yêu. Cho nên, ý nghĩa của bài Phúc Am hôm nay thật sâu sắc và thấm thía: người ta phải yếu mến và phục vụ trong đường lối cân bằng. Đừng lấy cớ phục vụ để trốn tránh cầu nguyện, và cũng đừng vì cầu nguyện mà sao lãng phục vụ.

Bài đọc thứ hai, trích thư Côlôsê, chỉ rõ tính cân bằng ấy: “Thưa anh em, giờ đây, tôi vui mừng vì được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội thánh”. Những lời nói thật lạ lùng nếu chúng ta không nhìn theo hướng tình yêu mến Chúa Kitô. Đại ý, thánh nhân tuyên bố ngài phải kết hiệp với Đức Kitô trong đau khổ. Ngài mang lấy đau khổ của Chúa bằng những gian truân, khốn khó hiện tại. Vậy thì làm thế nào chúng ta kết hiệp với Chúa bằng nhung lụa, tiện nghi, vui chơi, ăn sung mặc sướng, nhà lầu xe hơi? Chẳng hoá ra xưa nay chúng ta chỉ là những tay lừa đảo? Rao giảng một đàng, ăn ở một nẻo, rồi đưa ra biện minh: Để phục vụ tốt hơn, hợp thời hơn. Đọc kỹ bài đọc hai, thánh Phaolô không hề nói như vậy: “Đó là tôi phải rao giảng Lời của Người cho trọn vẹn”. Tức rao giảng cả bằng đời sống khổ đau để bày tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho thiên hạ. Thánh nhân nhắc nhớ các tín hữu rằng, chúng ta phải kinh nghiệm những khổ đau mà Đức Kitô đã phải chịu trước khi Ngài Phục sinh. Chúng ta nên chịu đựng hy sinh hãm mình vì lợi ích của Hội thánh, vì công cuộc truyền giáo, rao giảng Tin mừng cho dân ngoại. Thánh Phaolô viết rõ: “Vì lợi ích cho thân thể Người”. Tại sao vậy? Cũng thánh nhân trả lời: Ngõ hầu việc rao giảng Lời Chúa được trọn vẹn. Không chi rõ ràng hơn!

Như vậy, chúng ta tự nguyện hy sinh hãm mình, hoặc bất cứ đau khổ, bách hại cỡ nào, đều trở nên việc công bố Tin Mừng bằng đời sống. Do đó, thánh nhân cảm nghiệm vui mừng khi chịu đau đớn. Hơn nữa, thánh Phaolô còn thêm: “Rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ”. Nhưng nay đang được tỏ bày qua đời sống của những con cái “thánh thiện” Giáo hội. Nghĩa là qua đời sống hy sinh, đau khổ, nhọc nhằn, khó khăn, vất vả, thiết thốn, các môn đệ mạc khải chính Chúa Kitô. Thánh Phaolô “vui mừng” trong gian nan vì ông thâm tín rằng mình đang phục vụ Đức Kitô trong thân thể Ngài là Hội thánh. Chúng ta cũng phải biết mình làm được như thánh nhân qua những khốn khó bản thân. Nếu không, chẳng có chi làm bằng chứng. Danh từ “impostor” (hàng nhái) ngày nay xuất hiện rất nhiều trong thương mại, chẳng lẽ không có trong các môn đệ rao giảng của Giáo hội? Đặt câu hỏi tức là trả lời rồi. Bởi lẽ, quyền lực ma quỉ vẫn còn đang đè nặng nhân loại, kể cả những linh hồn khao khát thánh thiện. Nếu không tỉnh thức, khắc bị lừa dối dễ dàng, với lý lẽ thật hợp pháp thí dụ: sức khoẻ tinh thần thể xác, truyền giáo hữu hiệu. Nhưng những môn đệ của Chúa Giêsu luôn có khí giới “ánh sáng” cầm sẵn trong tay, tức tinh thần tỉnh thức, ăn chay, cầu nguyện, thi hành bái ái của Đức Kitô. Vậy mà còn phải vất vả lắm mới đứng vững trong đường lối trung thành với ơn Chúa kêu gọi. Làm thế nào Triều đại Đức Kitô được công bố cho toàn thế giới? Chỉ có thể do các môn đệ được Thần khí của Ngài dẫn dắt, ban quyền năng và sự sống.

Bởi lẽ: “Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con tiến bước, là ánh sáng dẫn đường con đi”. Chúng ta thường đọc đi đọc lại lời ấy, nhưng có lẽ không hiểu thấu ý nghĩa, vì không đem Lời Chúa ra thực hành. Chỉ khi nào thực hành, mới có thể nắm bắt được được ý nghĩa, vì lúc ấy Lời Chúa mới thấm nhập xương cốt. Giống như thời thánh Phaolô, làm tín hữu lúc này không phải dễ, nhất là trong hoàn cảnh đảo điên hiện nay, với bao nhiêu tiếng nói trái ngược nhau. Người này bảo thế này mới là tinh thần Đức Kitô, kẻ khác nói: không phải, thế kia mới chính xác Phúc Am. Nhưng môn đệ của Chúa chỉ có một tinh thần, một người hướng dẫn: “Anh em không biết rằng Đức Kitô chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới được vinh hiển sao?” (Ga 16,26). Nguyện xin Thiên Chúa soi sáng chúng ta lượng định đúng đâu là công việc Mátta, đâu là công việc của Maria trong cuộc sống hàng ngày. Amen.

 

56. Đón nhận Chúa bằng cách nghe và thực hiện Lời Chúa--Lm Jude Siciliano, OP

(Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP)

Phúc âm theo thánh Luca hôm nay được trích ở phần thứ 4 trong lược đồ, có tên “Hành trình lên Jêrusalem” (9:51-19:28). Đoạn phúc âm về phần thứ 4 được trình bày từ chủ nhật thứ 13, khi Luca cho chúng ta biết là Chúa Giêsu “Quyết định lên Jêrusalem (9:51). Những câu chuyện trong phần thứ 4 này được trình bày trên đường đi; trong khi ấy những thánh sử khác không nói đến diễn trình này. Nhưng, việc đi lên Jêrusalem vẫn là tiêu chí chính của câu chuyện. Theo đó ngày hôm nay Chúa Giêsu nghỉ chân tại nhà bà Maria và Matta.

Trong khi soạn bài giảng này, có những vấn đề tôi phải thận trọng. Đây là câu chuyện chúng ta thường nghe, và nhiều người nghĩ rằng sẽ dể có những kết luận tức khắc. Chúng ta hãy thử nghe lại bài phúc âm này với một cảm nhận mới xem. Thử ví dụ chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh của bà Matta trong khung cảnh đang quá lo lắng đủ mọi thứ, bực mình vì làm quá nhiều việc, nên không có thì giờ nghĩ đến Chúa Giêsu. Ai cũng nghĩ câu chuyện ấy hẳn sẽ làm cho họ cảm thấy mình có lỗi, vì trong văn hoá chúng ta, nhiều người trong chúng ta tự coi mình giống như Matta, quá lo lắng công việc làm ăn. Nhưng, có thể là chúng ta không thể làm gì được vì đời sống quá bận rộn, tất bật với gia đình. Có cách nào để bà Matta nói lại cho chúng ta hiểu là làm sao sống được đời Kitô Hữu trong thế giới bận rộn này? Chúng ta sẽ cố gắng trong việc rao giảng thì dễ dàng hơn là làm cho người khác nhận biết mình có lỗi vì làm việc quá nhiều và lo lắng nhiều cho gia đình và bạn hữu.

Hãy tưởng tượng, một bà mẹ sống một mình nuôi con, hay một cặp vợ chồng trong một gia đình không khá giả, phải lo lắng bận rộn nuôi nấng gia đình. Khi họ nghe bài phúc âm hôm nay họ ao ước được có một đời sống khá giả, để ngồi dưới chân Chúa Giêsu nghe lời Chúa dạy. Chúng ta cũng không muốn loại những người làm ăn khó nhọc ra khỏi câu chuyện tin mừng ngày hôm nay. Các cha giảng nên trình bày hình ảnh bà Matta với sự cảm thông dành cho những chị em phụ nữ đang phải bận rộn việc nhà hay bận rộn về kế sinh nhai ngoài chợ. Các phụ nữ ấy hy sinh đời sống họ vì con cái hay các cháu. Có người là goá phụ, bà Matta có goá phụ hay không nhỉ?

Theo những con số thống kê hiện nay thì phụ nữ vẫn không có thu nhập cao bằng phái nam trong cùng một việc làm. Ngoài những việc làm ăn hàng ngày, phụ nữ còn làm việc tình nguyện trong nhà thờ để giúp những người khác trong cộng đoàn. Họ là những “người Samaritano tốt”, như Matta và Maria, đã nghe lời Chúa Giêsu giảng dạy và sống theo lời Chúa: Chúng ta đón nhận Chúa Giêsu, nghe lời Ngài dạy và chứng tỏ sự giúp đỡ của Kitô Hữu từng chỗ, và luôn cố gắng sống trở nên người thân cận như được mô tả trong dụ ngôn.

Nói về từ ngữ: có bản dịch tiếng Anh trình bày là bà Matta “đón tiếp” Chúa Giêsu vào nhà bà. Chính Chúa Giêsu và bà Matta là tâm điểm của câu chuyện. Trong câu chuyện này, bà Maria thực sự không nói gì. Bà Matta theo phong tục của những gia đình miền Trung đông đón tiếp người lữ khách. Chúng ta cũng thấy câu chuyện tương tự trong sách Sáng Thế về chuyện ông Abraham và bà Sara đón ba người lữ khách. Hãy để ý xem, chúng ta thấy ông Abraham hối hả bảo bà Sara làm bánh và nhanh nhẹn chạy ra tìm con bê cho người giúp việc làm thịt. Trong bài đọc thứ nhất có nhiều tất bật trong việc đón khách, và Abraham đâu có lợi lộc gì trong việc này. Ông chỉ làm theo phong tục của người Trung Đông thương làm để đón lữ khách. Bà Matta cũng theo thói quen đó. Cả hai câu chuyện đều có một điểm chung là tiếp đón lữ khách xa lạ như người bạn. Sự đón tiếp của Abraham và Sara đã được chúc phúc, vì Chúa đã thực hiện lời hứa là con cháu họ sẽ trở nên một dân tộc lớn lao (St 12:1-4).

Ráp hai câu chuyện trong sách Sáng Thế và trong phúc âm Luca với nhau như hai câu chuyện song song. Chúng ta hãy nhìn vào câu chuyện hai gia đình. Abraham và Sara sẽ được lời hứa có nhiều con cháu, nhưng sự thật con cháu họ là những con cháu thiêng liêng tin tưởng vào Thiên Chúa của Abraham và Sara, Thiên Chúa của lời giao ước, Thiên Chúa sẽ cùng đi với dân tộc Ngài trên con đường đức tin. Đối với Maria và Matta cũng vậy; chúng ta là những con cháu của họ chúng ta cũng cố gắng mở lòng, mở trí để nghe và chào đón họ vào trong đời sống chúng ta. Thường những lữ khách đó là người dân bình thường được chúng ta đưa lên để trở nên người ngang hàng với chúng ta. Thay vào đó, hàng tuần chúng ta được nghe những đoạn phúc âm của thánh Luca như chuyện bà Maria ngồi “dưới chân Chúa”; để nghe lời Chúa dạy dỗ. Đó chính là cách để “tiếp đón” Chúa vào trong đời sống chúng ta.

Chủ Nhật vừa qua chúng ta nghe câu chuyện về người Samaritano giúp người bị nạn (10:25-37). Trong câu chuyện đó chúng ta nên như bà Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu nghe Ngài dạy là phải đón tiếp người lữ khách là người cần được giúp đỡ. Thánh Luca không phải ngẫu nhiên mà đặt câu chuyện hôm nay liền kề theo câu chuyện tuần trước. Ông muốn chúng ta hãy tiếp tục nghe lời Chúa Giêsu dạy. Chúa Giêsu có những điều dạy chúng ta về sự sống để chúng ta cũng như người thông luật, hỏi Chúa Giêsu “Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (10:25). Thánh Luca dẫn đưa câu chuyện bà Maria và Matta để giúp chúng ta biết “đón tiếp Chúa Giêsu vào trong đời sống, lắng nghe lời Ngài dạy dỗ để biết thương yêu người thân cận và như thế chúng ta sẽ biết đi đến sự sống đời đời.”

Trả lời câu hỏi “Trong luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”của Chúa Giêsu. Người thông luật nói làm hai phần:- Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, - và yêu mến người thân cận như chính mình. Dụ ngôn “Người Samaritano nhân hậu” đã trả lời phần yêu mến người thân cận. Còn câu chuyện hôm nay nói về yêu mến Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và trí khôn, là chăm chú nghe lời Thiên Chúa dạy. Cả hau câu chuyện đều tiếp dẫn nhau. Trong dụ ngôn người “Samaritano” thấy người bị nạn vì kẻ cướp; còn bà Maria là người ngồi nghe Chúa dạy. Trong xã hội Do Thái vị thế nười phụ nữ không quan trọng và người Samaritano cũng thế, đối với người Do Thái họ là người ngoại. Hai giới người thấp hèn, một người Samaritano và một phụ nữ. Đây chính là hình ảnh cụ thể về những người mà Chúa Giêsu khen là họ nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành (8:21).

Bài phúc âm hôm nay gọi Đức Giêsu là Chúa đó là dấu hiệu sau ngày sống lại. Thánh Luca dùng từ “Chúa” để đặt bài phúc âm hôm nay vào hoàn cảnh các giáo hội tiên khởi. Đây là một câu chuyện về việc đón tiếp và lắng nghe lời Chúa sống lại giữa chúng ta. Cũng nên chú trọng đến từ “phục vụ” (diakonia) trong câu 40 để chỉ việc phục vụ trong giáo hội. Có sự bàn tán việc địa vị phụ nữ trong giáo hội tiên khởi. Và có thể có sự bàn tán “việc phụ nữ phục vụ” trong cộng đoàn như trong giáo hội chúng ta hôm nay. Trong thời thánh Luca, phụ nữ phục vụ nhiều việc, như việc giảng dạy, việc lãnh đạo, việc đọc phúc âm v.v… (Rm 16:1,3-5; 12:1; ICr 16:19; Phl 4:3).

Nhưng, các thơ thánh Phao-lo và các bài sách đọc hôm nay chúng ta có điều bất đồng ý kiến về địa vị của phụ nữ. Hình như có người muốn phụ nữ giữ địa vị phục tùng và ý kiến đó đi đôi với ý Chúa Giêsu nói về bà Maria. Luca trong câu chuyện diễn tả người phụ nữ yên lặng được “phần tốt hơn”. Vậy thánh Luca có ý muốn phụ nữ giữ địa vị yên lặng phải không? Tôi nghĩ quý cha có thể nhắc đến công việc các phụ nữ đã làm để đối chiếu với địa vị yên lặng của phụ nữ trong phúc âm. Chúng ta cũng nên để ý trong câu chuyện thánh Luca bà Maria ngồi dưới chân thầy, đó là nơi chỉ có phải nam. Chúa Giêsu không để phong tục tập quán thời đó hẹp hòi với những người muốn nghe lời Chúa dạy và muốn trở nên môn đệ của Ngài.

Địa vị của Matta là đón tiếp và phục vụ là việc rất quan trọng trong giáo hội như chúng ta đón tiếp Chúa là lữ khách và người cần được giúp đỡ. Trong giáo hội tiên khởi có rất nhiều tài năng cho các phụ nữ: có người như Maria, là đệ tử yên lặng lắng nghe lời Chúa Kitô dạy bảo; có người hoạt động. Cả hai người Maria và Matta, đều đón tiếp Chúa Kitô, mọi người đều nghe lời Chúa dạy và đều chứng tỏ tình yêu mến Thiên Chúa và phục vụ người thân cận.

Tôi nghĩ quý cha khi giảng nên khôn ngoan chỉ rõ cả phái nam và phái nữ đều có tài năng riêng để phục vụ kẻ khác. Tất cả Kitô Hữu đều được mời gọi để lắng nghe lời Chúa, và làm việc gì cho tất cả cộng đoàn cùng đến dự phụng vụ thánh thể hôm nay để nghe lời giảng dạy. Chúng ta cũng được gọi phục vụ người thân cận sau khi chúng ta nghe lời Chúa và trở về với đời sống bận rộn hàng ngày.

 

57. Ngàn năm một thuở--Đỗ Lực, OP

Phụ nữ luôn là đề tài “ăn khách” khắp nơi. Từ ngoài đời đến trong đạo, không bao giờ vắng bóng phụ nữ. Văn học Việt nam có Thúy Kiều và Thúy Vân. Tương tự, Tin Mừng cũng trình bày Mát-ta và Maria như hai mẫu điển hình cho những ai theo Chúa. Nhưng có lẽ hoàn cảnh đã khiến cho những phụ nữ đó khác nhau khá sâu xa.

Tương tự Thúy Kiều, Mát-ta rất đảm đang và linh hoạt. Từa tựa Thúy Vân, Maria không hề lên tiếng và hầu như bất động. Mặc dù hai chị em rất thương yêu nhau, nhưng vẫn có những khác biệt. Những khác biệt đó nổi cộm lên trong tiếng kêu oan của Mát-ta hôm nay. Chúa rất tài tình khi đứng ra bênh vực cho Maria, nhưng vẫn không làm phật lòng Mát-ta

NỖI LÒNG BIẾT NGỎ CÙNG AI

Cơ hội bằng vàng đã đến với gia đình Bêtania. Cả hai chị em Mát-ta và Maria đều yêu mến Chúa Giêsu. Cả hai đều tiếp đón Chúa Giêsu vào nhà. Cả hai đều phục vụ Chúa hết tình. Nhưng cả hai đều không hiểu nhau. Mát-ta nghĩ lối phục vụ của Maria thấp kém hơn mình. Trong ý chí phục vụ, nàng không nhận ra mình đã không thực sự quan tâm tới vị thượng khách. Cái khó không phải là nhận ra điểm xung khắc giữa việc Mát-ta tất bật phục vụ và việc Maria thảnh thơi lắng nghe Lời Chúa! Bên ngoài có vẻ như đối kháng và không thể hòa giải. Nhưng thực ra đó là khả năng cho đi và đón nhận.

Theo thứ hạng ưu tiên, Mát-ta thấy việc “ăn không ngồi rồi” của Maria quả thực là một bất công so với việc việc tất bật phục vụ Chúa của nàng. Khi cảm thấy áp lực bất công đã dâng lên tới cổ, Mát-ta không thể chịu đựng nổi nữa. Nàng tranh đấu. Nàng muốn nhờ Chúa giải quyết vấn đề. Chắc chắn Chúa sẽ đứng về phe mình và làm cho Maria thấy rõ sự bất công đó. Nàng nghĩ thế và lên tiếng xin Chúa xử kiện (Lc 10:40).

Nhưng thực tế không xảy ra như Mát-ta tưởng. Chúa đã đứng về phía Maria. Lý lẽ Chúa đưa ra sâu xa và vững chắc đến nỗi Mát-ta chỉ còn biết im lặng tiếp tục công việc phục vụ. Mát-ta đành để cho Maria ngồi yên. Có lẽ Mát-ta thấm thía vì nhớ lại Lời Chúa: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." (Mt 4:4; Ðnl 8:3) Lời Chúa đem lại sự sống đời đời, nên phải cao trọng hơn bữa ăn chỉ cung cấp sự sống tạm thời. Maria đã thấy được tất cả giá trị cao cả đó. Cô dành trọn thời giờ cho Chúa. Cô say mê uống từng Lời Chúa.

Chúa Giêsu không trách Mát-ta chỉ vì lo công việc bếp núc. Người chỉ đòi hỏi nàng phải biết sắp đặt lại thứ tự ưu tiên trong bậc thang giá trị. Việc phục vụ Chúa Kitô có thể chỉ làm mất thời giờ mà chẳng có chút gì hiến dâng cho Chúa. Ưu tiên số một phải là sống với Chúa, chứ không phải làm gì cho Chúa. Bởi thế, không những Maria không làm gì bất công, nhưng còn phải được xếp hạng ưu tiên nữa. Có lẽ Mát-ta đã thấy rõ điều đó và vui vẻ tiếp tục phục vụ theo cung cách riêng của mình.

Chắc chắn Chúa Giêsu quả quyết Mát-ta có lòng quảng đại khi đáp ứng nhu cầu ẩm thực của con người. Nàng đã thực hiện mối phúc lớn lao: “Cho thì có phúc hơn là nhận.” (Cv 20:35) Không phải vô tình thánh Luca đặt đoạn Tin Mừng hôm nay ngay sau dụ ngôn người Samari nhân hậu. Làm môn đệ Chúa Giêsu có nghĩa là quảng đại đáp ứng nhu cầu sinh sống căn bản nhất của những người cùng khổ. Ðó là điều chính Chúa Giêsu đã làm. Người Samari nhân hậu vẫn còn là một phần giáo lý cốt yếu.

Từ nhận xét về dụ ngôn người Samari nhân hậụ, đáng lý chúng ta phải ca ngợi Mát-ta vì thực tế nàng đã phục vụ Chúa. Thực ra, hành động của nàng không được ca tụng cũng chẳng bị lên án. Nhưng nàng bị đặt trước thách đố phải lưu ý đến thứ hạng ưu tiên trong quan điểm của mình. Toàn thể Tin Mừng không chỉ giới hạn trong việc phục vụ tha nhân, bất kể việc đó quan trọng tới mức nào. Làm môn đệ Chúa Kitô trước hết và trên hết là gắn bó thân tình với Chúa Giêsu. Phải có thời gian lắng nghe “Lời” (c. 39: số ít trong tiếng Hy lạp). Hiến dâng cho Chúa là “điều cần thiết duy nhất.” Mối tương quan này nằm trong việc phục vụ đầy yêu thương. Thế nhưng, nếu không đi đôi với cầu nguyện, việc quan tâm đến nhu cầu tha nhân không phải là tình yêu đích thực.

Ðó là lý do tại sao Chúa muốn Mát-ta thấy được sự thật về em mình: “Maria đã chọn phần tốt nhất.” (Lc 10:42) Phần tốt nhất đó chính là sự hiện diện của Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể. Người là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Thấy Người là thấy Chúa Cha (Ga 12:45; 14:9). Ðó là một hồng ân vĩ đại. Rõ ràng, nàng phải nhường bước cho em.

Thực ra, cả hai chị em đều hiếu khách. Mỗi người một cách. Nếu cả hai đều bận bịu cơm nước, lấy ai tiếp chuyện với Chúa? Cả hai thái độ bổ túc cho nhau để tạo nên một toàn thể, một sự khôn ngoan thâu tóm trong vài chữ của thánh Bênêđictô: cầu nguyện và lao động. Từ bao đời, rõ ràng đời sống Kitô hữu thống nhất nhờ sự hiện hữu và hành động, lời nói và thực hành.

Trong Kinh thánh, các giới răn và mối phúc minh xác đời sống tín hữu xây dựng trên thái độ và sự lựa chọn hiện tại. Chúa Giêsu dạy ta phân biệt điều thiết yếu không phải là lăn xả vào hành động và tự mãn với những hoạt động đó. Ðó chỉ là thứ phục vụ chính mình. Hạnh phúc là phục vụ anh em và lắng nghe Lời Thiên Chúa. Không có đối kháng và mâu thuẫn.

GẶP GỠ ÐỨC KITÔ

Nếu Mát-ta cứ lo phục vụ, có lẽ không bao giờ có vấn đề. Tại sao nàng phải nhìn sang Maria và nhờ Chúa hòa giải làm gì? Chính mối bận tâm này đã làm cho nàng đứng ngồi không yên. Dù Chúa đem cả một nguồn hồng ân vô cùng lớn lao đến nhà Bêtania, nhưng tâm hồn nàng vẫn hoàn toàn trống rỗng. Dù rất gần Chúa, nàng vẫn không gặp được Chúa ngay trong công việc hàng ngày của mình. (1) Khi không gặp gỡ Chúa, dĩ nhiên vấn đề sẽ nổi cộm trong tương quan và sinh hoạt với tha nhân.

Khi nào mọi khát vọng lắng xuống, chúng ta mới có thể dành hết thời giờ và tâm trí tập trung vào Chúa đang hiện diện trong sâu thẳm của lòng mình. Lúc đó, chúng ta mới có thể lắng nghe và thấy tất cả chiều kích sâu thẳm nhất của Lời Chúa. Ðạt tới mức độ này, chúng ta mới thực sự trân quý tất cả giá trị lớn lao trong việc sống với Chúa. Không có sự sống đích thực này, tất cả đều là những quay cuồng và bận tâm phi lý và vô ích. Chỉ cần sự hiện diện đầy ắp tình thương và ân sủng của Chúa, chúng ta sẽ thấy tất cả sự thật giải thoát và cảnh trời mới đất mới.

Tìm thấy Chúa là tìm được sự bình an trong tâm hồn. Khi đã chiêm ngắm Chúa, Maria không còn biết đến gì xảy ra chung quanh nữa. Những bận bịu và tiếng động thường ngày không tác động đến tâm hồn nàng, vì Lời Hằng Sống đã chiếm trọn con người nàng rồi. Nàng dùng trực giác nhạy bén để thấu cảm sâu xa sự thật tuyệt vời về Thiên Chúa tình yêu. Bước vào thế giới Thiên Chúa, nàng quên hết những thực tại trần gian, kể cả tương quan gia đình. Ðó là lý do tại sao nàng trở thành khó hiểu đối với Mát-ta. Thánh Nữ Têrêsa Avila giải thích: “Khi bất ngờ cảm thấy Thiên Chúa hiện diện, tôi có thể chắc chắn Người đang ngự trong tôi hay tôi hoàn toàn chìm ngập trong Người.” (2) Rõ ràng kinh nghiệm này đã minh họa lời Chúa khẳng định với Mát-ta về điều cần thiết duy nhất. Ðiều cần thiết duy nhất đó là bản tính Thiên Chúa. Chính vì muốn chúng ta tham dự vào bản tính Thiên Chúa, Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm trong lòng Trinh Nữ Maria để hiện diện giữa chúng ta. Người đã phải hy sinh trên Thánh giá và lưu lại trong Bí tích Thánh Thể để gặp gỡ chúng ta hằng ngày.

CƠ HỘI BẰNG VÀNG

Không một cuộc gặp gỡ đích thực nào với Chúa không đưa con người nhập cuộc với anh em. Qua gương Mát-ta và Maria, Chúa Giêsu đòi chúng ta phải học cách sống với Chúa trước khi hành động.

Nhờ kinh nghiệm riêng Chúa Giêsu biết những nhu cầu cơ bản của con người. Do truyền thống hiếu khách, Mát-ta đã quảng đại đáp ứng nhu cầu đó đúng lúc. Tuy nhiên, Chúa cũng biết con người còn có một nhu cầu sâu xa hơn mà thực phẩm, nhà cửa, sức khỏe không thể thỏa mãn được. Nhu cầu đó là khát mong gặp gỡ con người. Con người khát khao hiệp thông với tha nhân và xả thân cho anh em. Khát vọng sâu xa nhất của con người phần nào được thỏa mãn trong tình bằng hữu giữa con người với nhau. Cuối cùng, chỉ trong mối thân tình với Thiên Chúa, con người mới thỏa lòng ước mong đó. Thánh Augustine cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa và tâm hồn chúng con khắc khoải bồn chồn cho tới khi nghỉ yên trong Chúa.”

Làm sao hiểu được tấm lòng quảng đại của Mát-ta bổ túc cho tâm hồn Maria ao ước đích thân gặp gỡ Chúa? Muốn trả lời vấn nạn này, chúng ta cần phải theo đường lối Chúa Giêsu. Ðể diễn tả tình yêu, Chúa nuôi sống người đói khát, cứu chữa bệnh nhân và xua đuổi mọi loài ma quỷ. Cũng thế, tình yêu chúng ta phải nhập thể trong bất cứ vấn đề gì để đáp ứng nhu cầu tha nhân. Bởi vậy, những việc tốt chúng ta làm, như nấu nướng hay tranh đấu cho nhân quyền, trở thành một bí tích hay một dấu chỉ tình yêu hiến thân cho tha nhân một cách hữu hiệu.

Ai cũng biết Chúa Giêsu đã nhập thể và nhập thế. Nhưng hình như các môn đệ Chúa vẫn đang sống ngoài trần thế và chưa chịu nhập cuộc! Nhìn vào các dinh thự, người ta thấy những bóng áo đỏ, tím, đen đang loay hoay với trò chơi chữ nghĩa và những chương trình bác ái xã hội lớn nhỏ. Chúa Giêsu không bao giờ nhập cuộc nửa vời như vậy. Trái lại, Chúa trực diện với những người nắm quyền thời đó. Nhiều lần Người thách đố và lên án những bất công của bọn Pharisêu, Hêrôđê và quân thu thuế, dù biết họ sẽ giết chết mình. Có lẽ các quan chức GHVN còn ngại thò chân xuống đường để dấn thân với mọi người tranh đấu cho công bình xã hội. Có làm cả ngàn công cuộc bác ái cũng không bằng một lần tranh đấu chống lại bất công!

Lạy Chúa, xin sai Thần Khí đến GHVN! Amen.

đỗ lực 22.07.2007

----------------------------------------

1. x. Lời Chúa Cho Mọi Người 2006:1761.

2. The Life, 10:1.

 

58. “Chỉ một việc cần”--William Barclay

Trên đường hướng về Giêrusalem, cách thành Thánh ba cây số, Chúa Giêsu ghé lại Bêtania, nơi ở của Mácta, Maria và Lagiarô, một gia đình mà Ngài rất quen thân và vẫn thường lui về nghỉ ngơi trong những dịp thi hành chức vụ tại thủ đô. Không có nơi nào tính cách nhân loại mà Luca chủ trương phác hoạ được diễn tả trọn vẹn nơi đây, trong khung cảnh đầm ấm của gia đình, mà cũng khó gặp được một bức hoạ tâm lý sống động hơn. Có người tưởng tượng rằng Mácta là người khô khan nhưng cương nghị và đắc lực, còn Maria thì đôn hậu, đa cảm và lười. Thật ra cả hai chị em đều có những đức tính đáng khen, cả hai đều yêu kính Thày và ước ao làm vui lòng Thầy. Nhưng trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ, Mácta đã làm việc quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon lành. Còn Maria vì trực giác hơn được điều Chúa muốn nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Nàng biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, nàng phải để ý đến ý muốn của vị khách trước. Trong việc tiếp đãi Thầy, nàng đã làm được việc lớn hơn chị nàng.

“Mácta tất bật lo việc phục vụ.” Nàng bù đầu với nhiều công việc mình muốn làm. Một kẻ theo Chúa có thể cố gắng thái quá, đôi khi điều đó bị thúc đẩy do cảm giác tự tôn và kiêu hãnh. Điều đó đã khiến cho người ta cáu kỉnh như Mácta khi nàng chỉ trích em mình, làm giảm giá em mình trước mặt vị khách của cả hai, vì câu nàng nói với Chúa ngụ ý trách cả Chúa nữa: “Em con để con một mình phục vụ Thầy mà Thầy không quan tâm sao?”

Đáp lại Chúa tỏ lòng ưu ái bằng cách thân mật gọi tên nàng, nhưng trách nhẹ tinh thần của nàng và bày tỏ nguồn gốc của tinh thần ấy: “Mácta! Mácta! Chị băn khoăn lo lắng về nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã không chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.” Ý Ngài muốn nói: không cần phải một bữa ăn thịnh soạn, một và món cũng đủ rồi, nhưng có một điều cần thiết, điều ấy Maria đã chọn.

Chúng ta thử tìm hiểu những bài học nơi đây:

1) Nó bày tỏ sự va chạm giữa những tính tình khác biêt.

Có người thì tự nhiên hăng hái hoạt động, lại có người khác ưa trầm tĩnh. Thật khó cho một người năng nổ hiểu một người chỉ thích ngồi yên để trầm tư mặc tưởng, ngược lại người trầm tư mặc tưởng lại thường khinh dể những người cứ luôn tay luôn chân. Không có vấn đề phải trái ở đây, Thiên Chúa đã không dựng nên mọi người giống nhau. Thiên Chúa cần có những người như Maria, nhưng Ngài cũng cần những người như Mácta, và cả hai người đó đều phục vụ Chúa. Không ai được độc quyền phục vụ Chúa hay chủ trương rằng chỉ có cách mình phục vụ chính đáng.

Trong một cuộc lễ trọng, trên bàn thờ chưng đầy hoa nến, một cây nến được cắm giữa chậu hoa, đến cuối lễ, cây nến cháy hao dần và sức nóng toả ra làm các cánh hoa rũ rượi cụp xuống. Hoa than thở với nến! Chị và chúng em cùng phụng thờ Chúa, sao chị lại đốt rụi chúng em!

2) Nhưng ở đây còn có một bài học nữa: Bài học về một thứ lòng tốt sai lầm.

Hãy nghĩ đến chỗ Chúa Giêsu đang đi đến khi chuyện này xảy ra. Ngài đang trên đường đến Giê-ru-sa-lem. Toàn thể hồn xác Chúa đang lâm vào một cuộc chiến đấu nội tâm để làm cho ý muốn của Ngài hiệp nhất với ý muốn của Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu tới gia đình này, đó là một ngày trọng đại cho họ, để mừng ngày trọng đại này Mácta rất muốn thực hiện một điều tốt nhất gia đình có thể thực hiện. Vì thế nàng chạy ngược chạy xuôi, nấu nướng, và đó chính là điều Chúa Giêsu không muốn. Ngài chỉ muốn một điều là được yên tĩnh. Với hình ảnh thập giá ở trước mắt cùng một sự căng thẳng trong tâm hồn, Ngài đã rẽ bước về Bêtania để tìm một chỗ lặng lẽ nghỉ ngơi, dầu chỉ được một hai tiếng đồng hồ, để tránh xa đám quần chúng quá nôn nao đòi hỏi, và để có thể chia sẻ tâm tình với bạn thân để lòng vơi đi nỗi căng thẳng. Đó là điều Maria đã đem đến cho Ngài và đó cũng là điều mà Mácta vì lòng tốt đã làm hết sức để phá đi. “Chỉ một việc cần” câu ấy có thể có ý “Ta không muốn một bàn đầy thức ăn, Ta chỉ cần một món thật đơn giản.” Maria hiểu, còn Mácta thì không hiểu được. Đây là một trong những khó khăn của cuộc đời. Thường thì chúng ta muốn tử tế với mọi người, nhưng tử tế theo cách của chúng ta. Nếu cách thế của chúng ta không được thừa nhận, chúng ta cảm thấy dễ phận lòng tưởng rằng người ta không trọng mình.

Nếu chúng ta đang cố gắng ăn ở tốt với người khác, trước hết chúng ta phải hiểu ý của người mà mình muốn giúp đỡ, rồi chúng ta phải quên những chương trình của mình và chỉ nghĩ đến điều mà người đó đang cần.

Trong lịch sử nước Mỹ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln viết thư mời ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để thảo luận vài vấn đề. Ông bạn tới bạch cung và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ thông báo ông định công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Tổng thống ôn lại tất cả các lý lẽ bênh vực cho các đạo luật ấy và những lý lẽ phi bác lập trường đối nghịch. Ông lại đọc cả những bức thư và bài báo về vấn đề đó, trong đó có nhiều người trách ông chần chừ chưa phế bỏ chế độ nô lệ, lại có những bài chỉ trích vì ông có ý tiến hành việc ủng hộ chế độ nô lệ. Sau khi hăng hái nói một hồi lâu Lincoln bắt tay ông bạn già chúc ông ta bình an và tiễn ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến gì hết. Lincoln đã nói, đã chút bỏ những nỗi suy nghĩ đang đè nặng trong lòng ông, như vậy đầu óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: “Khi Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn.” Lincoln chỉ cần một người bạn thân biết nghe ông nói và hiểu lòng ông để ông trút bầu tâm sự của ông thôi.

Chúa Giêsu yêu thương Mácta và Mácta cũng yêu mến Chúa, thế nhưng khi Mácta tỏ lòng tốt, thì lại chỉ tốt theo cách của nàng, điều mà thực sự không tốt với Đấng mà tâm hồn đang khao khát sự yên tịnh, sự thân mật. Chúa Giêsu yêu Maria vì Maria yêu Chúa, Maria cũng hiểu biết Chúa nữa.

 

59. Một sự cần thiết

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta phân biệt hai loại cần thiết, đó là cần thiết tương đối và cần thiết tuyệt đối. Vậy thế nào là cần thiết tương đối và thế nào là cần thiết tuyệt đối?

Cứ chung mà nói, ai trong chúng ta cũng cần đến tiền bạc cũng như cơm ăn áo mặc. Vì thiếu nó, chúng ta không thể sống và nếu có sống, thì cũng sống trong cảnh cùng cực túng thiếu, sống không ra người. Bời đó, ai cũng chịu khó bươm chải, chạy ngược chạy xuôi, làm lụng vất vả, đổ mồ hôi xôi nước mắt để tìm tiền kiếm bạc. Cơm áo gạo tiền là nỗi lo lắng số một của chúng ta. Và trong bất kỳ phạm vi nào, thì vấn đề đầu tiên bao giờ cũng phải là vấn đề tiền đâu.

Một khi tiền bạc đã rủng rỉnh, người ta lại mơ ước đến quyền hành và thế lực, nhờ đó mà lên mặt với đời và để lại trong thời gian một chút danh giá, một chút tiếng tăm.

Đô đốc Byrd là một nhà thám hiểm Nam cực, vì không có đủ tiền, ông đã cho đăng báo và hứa rằng nếu ai giúp đỡ ông về phương diện tiền bạc, thì khi tìm thấy sông hoặc núi, ông sẽ lấy tên người ấy mà đặt cho. Tức thì nhiều người giàu có đã mang tiền đến giúp vì họ muốn cho tên tuổi của mình được tồn tại mãi với thời gian.

Một trường hợp khác, đó là Carnégie, ông vua thép ở Mỹ. Trong việc làm ăn, đã xảy ra một sự cạnh tranh giữa ông và Pullman, nhiều lúc đã đi tới chỗ va chạm và xích mích, thiệt hại cho cả đôi bên. Ngày kia, Carnégie đến giặp Pullman và nói:

- Tôi nghĩ cả hai chúng ta đều điên khùng. Vậy tôi xin đề nghị với ông, thay vì cạnh tranh, chúng ta hãy hợp tác với nhau.

Nói rồi, Carnégie kể ra những lợi ích to lớn do sự hợp tác đem lại. Cuối cùng Pullman chỉ hỏi một câu:

- Vậy ông tính đặt tên cho công ty là gì?

- Công ty Pullman chứ sao nữa.

Nghe vậy, Pullman đã mỉm cười, bắt tay và mời Carnégie ở lại dùng cơm tối.

Xem đó, chúng ta thấy đô đốc Byrd và Carnégie đã đánh trúng vào yếu điểm của nhiều người, đó là lòng ham mê danh vọng.

Thế nhưng, tiền bạc và danh vọng có thực sự là điều cần thiết tuyệt đối hay không? Chắc chắn là không. Vì khi phải đối đầu với cái chết, chúng ta sẽ chẳng mang theo được một chút gì sang thế giới bên kia:

- Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng,

Chết xuống âm phủ, chẳng mang được gì.

Với chúng ta thì khác, sự cần thiết tuyệt đối chính là phần rỗi linh hồn như lời Chúa đã phán:

- Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi chi.

Tự đời đời, Chúa chẳng cần đến chúng ta. Nếu không có vũ trụ và loài người, thì Chúa vẫn là Chúa. Ngài hoàn toàn đầy đủ và hạnh phúc. Sở dĩ Chúa dựng nên chúng ta là để chúng ta được chia sẻ phần hạnh phúc với Ngài.

Bởi vậy, nhiệm vụ của chúng ta là phải nhận biết và thờ phượng Ngài, hầu nhờ đó đạt được phần rỗi cho linh hồn.

Đúng thế, chúng ta được sinh ra bên ngoài là nhờ cha mẹ. Nhưng không cha mẹ nào dám xác quyết rằng tất cả đều do mình trao ban. Những sự vật rất tầm thường như khí trời, cơm gạo, rau cỏ để cho chúng ta được sống là do ai, nếu không phải là do bởi chính Thiên Chúa.

Vì thế, sự cần thiết tuyệt đối đó là nhận biết và thờ phượng Thiên Chúa. Nếu thiếu sót trong phạm vi này, chúng ta đã thiếu sót một chuyện rất quan trọng. Vì chỉ có vấn đề này mới thực sự là cần thiết.

Cavalière là một nữ tài tử nổi tiếng và gặp nhiều may mắn. Thế nhưng, theo lời cô, giữa những lời khen tặng cô vẫn cảm thấy trống vắng, khiến cho nhiều lần cô muốn đi tìm cái chết. Tự đáy lòng, cô luôn nghe như có tiếng nói:

-Hỡi Cavalière, có phải mi được sinh ra là để bám lấy những cái phù du giả tạo đó hay sao?

Một hôm, người ta không thấy bóng dáng cô ở Paris, kinh thành ánh sáng nữa. Cô đi tới một miền núi, sống âm thầm và cầu nguyện trong một nhà dòng. Hai năm trước khi qua đời, Robert de Pierre, một nhà báo, tìm đến nơi cô đang ở. Thấy cuộc sống quá lặng lẽ và quạnh hưu, nên đã nói:

- Sống như thế này thì có chi là sung sướng.

Nhưng cô đã trả lời:

- Sung sướng lắm chứ. Sung sướng gấp ngàn lần ở Paris. Vì nhờ đó, tôi được sống gần Chúa, được sống trong Chúa và được sống với Chúa. Đó chính là niềm hạnh phúc tuyệt vời của tôi.

Hãy nhận biết và thờ phượng Chúa, nhờ đó đạt tới cuộc sống vĩnh cửu, đó là sự cần thiết tuyệt đối mà mỗi người chúng ta phải chọn lựa, phải thực hiện giữa cuộc đời đầy huyên náo và bon chen.

 

60. Điểm dừng

Khi nói đến điểm dừng, tức là có chuyển động. Bởi nếu không bao giờ chuyển động thì đó không phải là điểm dừng, mà là điểm cố định, một điểm chết. Điểm dừng thì trước khi dừng đã chuyển động, và dừng để rồi sẽ chuyển động. Bởi lẽ, dừng mà không bao giờ chuyển động nữa thì cũng là điểm dừng chết.

Từ những điểm dừng trong đời.

Quan sát cuộc sống quanh ta, chúng ta sẽ bắt gặp được những điểm dừng. Có những điểm dừng chết chóc, nhưng cũng có những điểm dừng sống động. Có những điểm dừng mang đến tai họa, nhưng cũng có những điểm dừng mang lại niềm vui, một sự đổi mới, một sự cứu rỗi: đồng hồ đang chạy, ngưng đồng hồ chết; hạt giống gieo xuống đất rất cần để yên một thời gian nó mới nẩy mầm. Một người đang đi trong một cánh rừng, anh dừng lại quan sát xung quanh, sau đó quyết định đổi hướng đi vì biết mình đã lạc đường một điểm dừng cho sự đổi mới, một cái dừng giải thoát.

Trở lại bức tranh Tin Mừng hôm nay mà Luca phác họa cho chúng ta. Chúng ta cũng gặp được những điểm dừng: Chúa Giêsu và các môn đệ dừng chân ở nhà Mácta và Maria; Maria dừng chân dưới chân Chúa Giêsu; Mácta dừng chân bên chân Chúa Giêsu. Tất cả những điểm dừng đều có mục đích: Chúa Giêsu và các môn đệ nghỉ chân để tiếp tục hành trình lên Giêrusalem; Maria dừng bên chân Chúa để nghe Lời Chúa; Mácta dừng lại để cầu cứu Chúa, dường như muốn làm nũng, dường như muốn trách Chúa.

Qua điểm dừng của Mácta trong Phúc âm:

Cô Mácta bận rộn, rất bận rộn với công việc phục vụ bề bộn. Lòng mến Chúa, lòng hiếu khách của cô được thể hiện qua công việc, cô muốn làm những thức ăn ngon nhất, phục vụ chỗ nghỉ tốt nhất mà cô có thể dành cho Chúa và môn đệ của Ngài. Cô thật tốt bụng. Cô là chị lớn nên nặng trách nhiệm, cô đảm đang tháo vát và nhiều sáng kiến. Sáng kiến nhiều nên nhiều việc, và cuối cùng làm chẳng kham đành xin Chúa can thiệp.

Mácta phục vụ Chúa, điều đó thật tốt. Thế nhưng điều tốt xem ra bình thường đó lại có vấn đề. Vấn đề ở chỗ nào? Ở chỗ là cô không toàn tâm toàn ý phục vụ Chúa, vì cô còn bận tâm để ý đến người em, mà người em này hiện ra trong mắt cô với hình ảnh không mấy tốt đẹp đó là người trốn việc, biếng nhác, và do đó công việc của cô đã bề bộn lại càng bề bộn hơn, đã rối trí lại càng rối trí hơn, nhưng rất may cho cô là giữa lúc bế tắc đó cô còn biết dừng lại bên Chúa. Cái dừng lại đó cần thiết cho cô, ích lợi cho cô lắm, vì cô sẽ có người tiếp tay công việc, vừa khép sự chú ý của Chúa và mọi người về phía mình mà trước đó dường như không ai để ý tới, vừa giải tỏa được nỗi ấm ức trong lòng đối với cô em Maria. Mácta dừng lại để người khác khen mình, để tự khen mình, khen mình cũng là hạ giá người khác: “Em con để mình con phục vụ”. Phải chăng ý cô là: Con quá giỏi, còn em con nó vụng về chẳng biết làm gì, lại vô tâm quá. Một cái dừng để trách móc người khác, và cũng để trách Chúa: “Mà Thầy không để ý tới sao”. Cô trách khéo: sao con?. Một cái dừng để bắt người khác làm theo ý mình, làm như mình và cũng để lôi kéo Chúa về phe mình: “Xin Thầy bảo nó giúp con một tay”. Lấy uy của Chúa, dùng quyền của Chúa để bắt người khác phục vụ ý mình, làm như mình muốn.

Nhưng Chúa Giêsu tận dụng giây phút dừng lại ấy của Mácta để thức tỉnh cô. Sự thực thì Chúa có vô tâm với cô không? Thưa không, Chúa không vô tâm nhưng để ý tới cô, để ý nhiều nữa kìa, không những biết việc cô làm nhưng Chúa còn biết lòng dạ, suy nghĩ của cô: Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!” vì băn khoăn lo lắng nhiều chuyện đến nỗi dường như không còn biết điều gì khác nữa, cô đang ngủ mê trong công việc của mình nên Chúa phải thức tỉnh cô. Thức tỉnh trong yêu thương, Chúa gọi cô Kitô hữu phải một mà đến hai lần, như đánh thức người mê ngủ: “Mácta! Mácta ơi!...” thật êm ái và yêu thương. Sao mà cô không tỉnh thức được. “Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”. Một điểm dừng làm thay đổi nhận thức, làm đảo lộn những giá trị mà Mácta đã xây dựng trước đó, nó mang đến một sự đổi mới theo chiều kích thiêng liêng cần thiết cho sự cứu rỗi.

Câu trả lời của Chúa chắc chắn làm Mácta ngạc nhiên, giật mình vì ngoài sự phán đóan và tỉnh ngộ, có một cái nhìn mới, đón nhận những giá trị mới. Từ nay cô không phải lo lắng bởi lương thực vật chất, nhưng phải lo lắng cho lương thực thiêng liêng. Từ của ăn trần thế mau hư nát, Chúa hướng cô đến lương thực Nước Trời trường tồn. Từ lương thực nuôi sống thân xác phàm tục Chúa hướng cô đến lương thực linh hồn thiêng liêng Lương thực Nước Trời thì tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất đó chính là Lời Chúa, đó là ơn Chúa.

Đến điểm dừng của Kitô hữu trong cuộc sống;

Cuộc sống con người ngày nay hoạt động nhiều hơn tĩnh lặng, nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển vùn vụt, con người như bị cuốn hút vào vòng quay của nó đến nỗi dường như không có thời gian để thở, để thư giãn, để nghĩ ngơi…Người Kitô hữu trong hoạt động Tông đồ, hoạt động truyền giáo, bác ái từ thiện, dấn thân xã hội…dường như cũng bị ảnh hưởng của thời đại: Thế giới còn nhiều người chưa nhận biết Chúa, còn nhiều người nghèo đói, bệnh tật, gặp hoạn nạn, đau khổ…cho nên bổn phận, trách nhiệm của Giáo hội, của một Kitô hữu còn nặng nề, cần nhiều hoạt động cụ thể và thiết thực. Nhưng hoạt động Tông đồ, truyền giáo, bác ái của chúng ta có phản ánh tình yêu Của Thiên Chúa? Có là hoa quả của tình yêu Thiên Chúa? Hay chỉ để làm tăng uy tín, tăng giá trị, khuếch trương ảnh hưởng của chúng ta, kéo sự chú ý của người khác về phía mình, yêu cầu Chúa làm theo ý mình?

Chúa có thể mải mê công việc của Chúa mà không được quên đi chính Chúa. Chúng ta có thể loay hoay với công việc của cuộc sống, nhưng không được quên đi mục đích của cuộc sống. Cần có những điểm dừng trong cuộc sống để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh cho những hoạt động của chúng ta. Chiếc ly cần phải đứng yên mới có thể hứng lấy nguồn nước từ vòi rót xuống. Thiên Chúa không thể đổ vào tâm hồn chúng ta điều gì cả nếu trước đó đã bị đầy mọi sự rồi. Để phân phát tình yêu Thiên Chúa, ta cần phải có tình yêu Thiên Chúa tràn đầy nơi mình trước. Hoạt động Tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với anh em. Thế giới không thích thú gì khi gặp gỡ ta, những thế giới đang khao khát tình yêu Thiên Chúa, đang khao khát những gì Thiên Chúa muốn trao ban cho họ qua trung gian chúng ta.

Khi bị quay cuồng trong cuộc sống, nếu chúng ta biết dừng lại như Mácta và cầu cứu Chúa: “Chúa ơi! Con mệt quá”, lúc đó chúng ta sẽ được Chúa tiếp sức bằng Lời của Chúa, sẽ được Chúa chỉ cho chúng ta điều nào là quan trọng nhất, điều nào là phụ thuộc và qua đó ơn Chúa, tình yêu Chúa sẽ nuôi dưỡng và tiếp sức cho chúng ta. Chúng ta đừng quên chọn Chúa và Lời Chúa là phần tốt nhất cho đời mình. Hoạt động của chúng ta phải là hoa trái của tình yêu của Thiên Chúa. Cành sinh hoa kết quả không phải vì cành, nhưng vì cành biết kết hợp cùng cây.

Hành trình nào cũng cần có những điểm dừng, những điểm dừng ấy thật cần thiết để tiếp sức cho hành trình đạt đến đích. Hành trình về tiếp nhận ân sủng, tăng cường sức khỏe thiêng liêng, bồi bổ tâm linh cho hành trình đến đích. Gặp gỡ Chúa trong thinh lặng, cầu nguyện là cần thiết nhất để giao tiếp với Chúa, nghe tiếng Chúa và đón nhận ơn Chúa.

Thế nhưng liệu có thinh lặng cầu nguyện được trong thế giới ồn ào náo nhiệt, tràn ngập công việc này chăng?

Mẹ Têrêsa Calcuta, một nữ thánh giữa đời thường, mỗi ngày trước khi bước xuống “địa ngục Calcuta” để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đi vào “nhà hấp hối” để an ủi các kẻ liệt lào, các nữ tu của mẹ đã quì trước Thánh Thể một tiếng đồng hồ, để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ.

 

61. Việc cần

Truyện cổ tích Arập có kể lại câu chuyện: Một vị hoàng tử được vua cha gởi vào sa mạc để thụ huấn với một vị hiền triết. Vị hoàng tử này kinh ngạc về thái độ lạ thường của nhà hiền triết, suốt ngày không thèm nói lời nào với hoàng tử mà chỉ ra dấu cho hoàng tử hãy ngồi im bên cạnh mình.

Sau một tháng im lặng như vậy, hoàng tử bực mình hỏi:

- Thưa thầy, cha tôi gởi tôi đến đây để học cùng thầy, nhưng đã một tháng qua rồi mà tôi chưa học được gì cả?

Nhà hiền triết ôn tồn trả lời:

- Này hoàng tử trẻ tuổi của ta, nếu con không học quí trọng sự thinh lặng của ta thì con sẽ không thể nào quí trọng được những lời ta nói. Nếu con không học được bài học sống trong thinh lặng thì con sẽ không học được gì nữa cả.

Triết gia người Pháp ông Pascal đã nhận định về thời đại của ông như sau: “Sau khi đã quan sát cuộc sống của những người đồng thời trong một thời gian lâu, tôi có thể kết luận rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng gây phiền phức xáo trộn cho con người là vì con người không còn khả năng sống trong thinh lặng nữa”.

Ông Pascal đã sống xa chúng ta hơn ba thế kỷ, ông sống vào thế kỷ XVII bên Pháp. Căn bệnh của những thời đại ông vẫn còn là căn bệnh của những người hay nhiều người của thời đại hôm nay, đó là căn bệnh sợ im lặng, sợ sống trong thinh lặng. Nhìn qua những ồn ào, những bạn trẻ lúc nào cũng phải nghe nhạc, xem truyền hình, lúc nào cũng phải đùa chơi với bạn bè, chúng ta có thể hiểu được phần nào căn bệnh này còn tồn tại. Nhưng không phải là sự thinh lặng của cô đơn, của sự trống rỗng không có gì cả. Người Kitô không bao giờ sống trong thinh lặng cô đơn trống rỗng này, vì có sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời và ngay bên cạnh. Sự thinh lặng của người Kitô là sự thinh lặng có đầy Chúa, để được đồng hiện diện với Chúa, để được nhìn thấy Chúa và lắng nghe tiếng nói của Ngài.

Thử hỏi trong một ngày sống chúng ta dành ra được bao nhiêu giây phút thinh lặng có đầy Chúa này? Bao nhiêu giây phút chúng ta im lặng đến gặp Chúa trong Bí tích Thánh Thể? Bao nhiêu giây phút chúng ta im lặng để đọc Kinh Thánh, để lắng nghe Lời Chúa? Đây là điều tốt nhất mà Maria đã chọn như trong Phúc âm Chúa nhật hôm nay kể lại cho chúng ta.

Sự thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa, đó là sự thinh lặng có đầy Chúa. Không dừng lại ở sự thinh lặng, nhưng luôn đi trên con đường noi gương sống của Chúa, được hiện diện với Chúa, được đồng hóa với Ngài, được chia sẻ sứ mạng của Ngài. Đây là điều chúng ta nhận thấy nơi vị tông đồ Phaolô được nhắc lại nơi bài đọc II. Sống trong sự thinh lặng có đầy Chúa, thánh tông đồ Phaolô đã định nghĩa cuộc sống của mình như là một cuộc sống trong Chúa, sống đầy Chúa và sẵn sàng lãnh nhận những gì còn thiếu nơi cuộc thương khó của Ngài.

Cách nói còn thiếu nơi sự thương khó của Chúa không có nghĩa là sự thương khó của Chúa còn thiếu điều gì, nhưng muốn nói là sự thương khó của Chúa cần được chia sẻ, được sống trong cuộc đời của tông đồ Phaolô. Có sống trong thinh lặng đầy Chúa này chúng ta mới có đủ can đảm vác thập giá với Chúa, chia sẻ những đau khổ, hy sinh của Chúa trong những hy sinh đau khổ chúng ta đương đầu hằng ngày.

Tâm thức sống ồn ào là tâm thức của những kẻ trốn chạy khỏi cuộc sống. Sống trong thinh lặng có đầy Chúa như Maria ngày xưa và như Mẹ Maria im lặng bên cạnh Chúa cho đến dưới chân thập giá. Đó là thái độ tốt nhất để sống trọn vẹn cuộc sống đầy gian nan thử thách của chúng ta trong hoàn cảnh ngày nay.

Xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong thinh lặng đầy Chúa này, thinh lặng để lắng nghe, để có thêm sức mạnh của Chúa, để giữ vững đức tin, đức cậy và đức mến vào Chúa.

 

62. Chọn phần tốt nhất--Lm Bùi Quang Tuấn

Ngày kia, trong cuộc hành trình lên Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, Đức Giêsu được một gia đình tại làng Bêtania đón tiếp. Nhà gồm ba chị em: Matta, Maria và Lazarô. Matta là người chị cả, có lòng hiếu khách và rất mến mộ Đức Giêsu. Nên chi khi được vị khách quí này viếng thăm, cô đã đôn đáo, tận tình trổ tài để chiêu đãi Chúa một bữa.

Trong khi đó cô em là Maria lại trầm tĩnh hơn. Nàng mời Đức Giêsu vào nhà và ngồi bên chân Ngài tiếp chuyện. Tất nhiên việc này không lọt khỏi đôi mắt tinh tường, đảm đang, và chú ý đến hết mọi thứ của bà chị. Thế nên, đợi hồi lâu mà vẫn không thấy cô em xuống bếp giúp mình một tay, hầu tiếp đãi Thầy cho đàng hoàng, Matta đã cất tiếng nhờ Đức Giêsu trợ giúp: “Thưa Thầy, em tôi để tôi phục dịch một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em tôi giúp tôi với.” Đây phải chăng là lời than trách nhẹ nhàng, ngầm nói Maria là người cứng đầu, chị bảo khó nghe, nên phải nhờ Chúa dạy? Hay đây là chính lời “cầu nguyện” mà một người đang hoạt động tất bật cho Nước Chúa, nhưng thiếu nhân sự cộng tác, nên phải cầu Chúa can thiệp?

Dẫu sao thì Đức Giêsu đã không bảo cô em: “Thôi để lúc khác chúng ta nói chuyện tiếp. Bây giờ hãy đi giúp chị đi.” Trái lại Ngài đã khẳng định cho bà chị biết một giá trị ưu tiên trong cuộc sống: “Ngươi lo lắng xao xuyến về nhiều chuyện quá! Cần thì ít thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất rồi và sẽ không bị ai giựt mất.”

Mới nghe qua, e rằng có người thương cảm cho Matta: bận rộn phục dịch Chúa đã chẳng được tiếng khen hay lời khích lệ. Trong khi người kia chỉ ngồi một nơi, chẳng làm lụng gì cả mà lại được Chúa khen là “biết chọn phần tốt nhất.”

Phải chăng có một nghịch lý trong Tin Mừng của Đức Giêsu: cách đây không lâu, qua câu chuyện Người Samari Nhân Hậu, Ngài đã mở ra cho môn đệ con đường dấn thân hoạt động, hy sinh phục vụ tha nhân – “Hãy đi và làm như vậy” – thế mà bây giờ thì dường như Ngài lại đề cao việc tĩnh lặng và lắng nghe?

Điều đáng lưu ý là không phải Đức Giêsu khiển trách Matta, cũng chẳng phải Ngài thiếu quan tâm hay không đánh giá tốt việc làm của cô ấy. Trái lại Đức Giêsu muốn khuyên cô đừng quá bối rối lo lắng để trở thành một kẻ nô lệ cho công việc hay thành quả. Điều cần thiết nhất không phải là làm được gì cho Chúa nhưng là nhận được gì từ Chúa. Nhận nhiều hay ít để sau đó có thể trao ban cho tha nhân ít hay nhiều còn tùy thuộc thái độ người ta đón tiếp Chúa trong cuộc đời.

Có nhiều người quá hăng say hoạt động công ích xã hội mà quên đi đời sống nguyện cầu. Có lắm kẻ qua tích cực “giải phóng” anh em mà quên luôn Chúa. Như thế thì làm sao có thể thành công theo tinh thần của Phúc âm được. Vì như Đức Giêsu đã phán: “Không có Ta, các ngươi không làm được gì” cơ mà. Và Ngài cũng đã từng quả quyết: “Cũng như nhánh nho không thể tự mình sinh quả nếu không lưu lại với thân nho, thì các ngươi cũng vậy, nếu không lưu lại trong Ta.” (Ga 15:4)

Một vị linh mục đã viết: “Những hoạt động rầm rộ, những cuộc dấn thân vào đời mà không có sự liên hệ mật thiết với Chúa, không lấy sự cầu nguyện làm căn bản hỗ trợ, sẽ không đem lại ích lợi sâu xa và lâu bền. Có mến Chúa mới biết yêu người như Chúa đã yêu mến, có hiệp nhất với Chúa mới biết mở vòng tay lớn ôm lấy anh em.” Biết lấy Chúa làm căn bản của đời sống, biết tìm đến Ngài qua thinh lặng và nguyện cầu, người ta mới có được hướng đi đúng lối và sức mạnh cần thiết cho hành trình phục vụ Nước Trời.

Đó không chỉ là lối sống cần thiết đối với những người làm việc tông đồ, nhưng còn là “phần tốt nhất” mà mọi người phải có. Đã nhiều lần Đức Giêsu căn dặn các kẻ theo Ngài: đừng lo lắng thái quá về của ăn áo mặc, đừng bồn chồn xao xuyến về ngày mai, cũng đừng sợ hãi khi phải đứng trước bạo lực của trần gian... vì chỉ có một điều cần nhất thôi: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, cùng sự công chính của Người” (Mt 6:33)

Có lẽ lắm khi người ta cứ dễ mãi mê với công việc, chạy đôn đáo với đồng tiền, xôn xao lo lắng cho tương lai của chính mình hay con cái mà quên đi những giây phút tĩnh lặng ngồi bên chân Chúa, để lắng nghe và để nhận chân giá trị quan yếu của cuộc đời. Nhiều người lo làm việc tối ngày, đến nỗi “không có giờ” ngồi yên để đọc một đoạn Thánh kinh, hay đôi dòng sách báo đạo đức. Như thế làm sao trám khỏi tinh thần bị còm cõi và đời sống mất đi ý vị.

Giữa một cuộc sống ồn ào bon chen, phải cố gắng tìm cho chính mình những giây phút thinh lặng. Bình an và sức mạnh nội tâm được kín múc từ những khoảnh khắc nầy đây. Thomas Merton từng đoạn quyết: “Thinh lặng là nhu cầu căn bản cho mọi người muốn sống nhân tính của mình cách tốt đẹp nhất.” Vì chỉ trong thinh lặng người ta mới dễ ghi nhận sâu xa những nét đẹp ở nơi Tạo Hóa và nơi con người.

Lắm khi người ta cũng đa đoan đến nỗi chỉ biết đôn đáo kiếm tìm: kiếm cá, kiếm cơm, kiếm tình, kiếm bằng cấp, kiếm kiến thức... mà quên dừng lại để đắm nhìn vào vũ trụ thinh không, hầu khám phá cội nguồn hạnh phúc cuộc đời. Cội nguồn đó chính là Thiên Chúa. Thiếu Ngài đời người chỉ là một chuỗi tìm kiếm vô vọng. Có Ngài chẳng ai giựt mất được sự an vui của tâm hồn.

“Maria đã chọn phần tốt rồi, và sẽ không bị ai giựt mất.”

Chắc hẳn bạn chẳng bao giờ muốn tìm kiếm những thứ mà khi vừa có lại bị thế gian giựt mất!

 

63. Lắng nghe

Đoạn Tin Mừng thánh Luca kể lại câu chuyện tiếp đón Chúa Giêsu của hai chị em Marta và Maria tại nhà của họ ở làng Bêtania. Chúng ta thấy tất cả câu chuyện xoay quanh cách thức hai người tiếp đón Chúa, rồi tột đỉnh và kết thúc câu chuyện là nhận định của Chúa Giêsu về cách tiếp đón của mỗi người.

Trước hết, chúng ta thấy cả hai người đều tiếp đón Chúa, nhưng mỗi người một cách, mỗi người một vẻ: Marta thì bận rộn tíu tít, lo lắng lăng xăng nhiều việc. Còn Maria thì chỉ ngồi bên chân Chúa, tiếp chuyện Chúa và nghe Chúa giảng dạy. Cách tiếp đón nào làm hài lòng Chúa hay được Chúa yêu thích hơn? Đó là cách tiếp đón của cô Maria. Chính Chúa đã nhận định như thế: “Maria đã chọn phần tốt nhất”. Còn với cô Marta, Chúa nói: “Con lo lắng băn khoăn nhiều chuyện quá”. Thật ra, cả hai chị em đều hết lòng tiếp đón Chúa. Nhưng đối với Chúa: “Người ta sống không bằng cơm bánh mà thôi, nhưng còn bởi lời Thiên Chúa:, nghĩa là người ta không phải chỉ có sự sống như thực vật, động vật, mà còn phải có lẽ sống. Đối với chúng ta, lời Chúa cho chúng ta lẽ sống và đường sống. Vậy thì lời Chúa phải có vị trí ưu tiên, là vì phải nghe lời Chúa chúng ta mới có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của mình cho trung thực với lẽ sống và đường sống mà Thiên Chúa cho mình. Cô Maria đã làm đúng như thế. Đây là bài học thứ nhất chúng ta ghi nhận: Chúa muốn chúng ta, dù bận rộn công việc thế nào cũng phải biết dành thời giờ để lắng nghe và tìm hiểu lời Chúa.

Thực vậy, ai trong chúng ta cũng có nhiều việc phải làm. Đừng kể những người lười biếng hay những người chỉ muốn ăn không ngồi rồi, còn hầu hết chúng ta, nếu sống đúng vai trò và nhiệm vụ của mình, chúng ta đều thấy việc thì nhiều mà thời gian lại ít. Hai mươi bốn tiếng mỗi ngày hãy còn quá ngắn. Thời giờ lúc nào cũng chực chắp cánh bay đi, để lại công việc cứ tiếp nối nhau mãi, hoặc làm mãi mà không hết việc. Sống trong hoàn cảnh quá nhiều công việc như vậy, thì bài học nghỉ ngơi như cô Maria càng cần thiết cho chúng ta, chúng ta không thể để cho công việc lôi kéo mà quên mất mục đích chính của đời mình. Công việc làm ăn tay chân nghề nghiệp chỉ là phương tiện nuôi sống, là con thuyền đưa chúng ta về trời, chứ nó không thể là mục đích của đời chúng ta. Có lẽ Chúa chẳng hài lòng gì mà còn đau lòng nữa, khi thấy chúng ta quá bận rộn vào biết bao công việc, phí phạm bao nhiêu sức lực của tuổi đời, bao nhiêu thời gian quí giá, để lo cho những công việc không có giá trị trường cửu, để rồi kết thúc cuộc đời mình trong lo lắng, sợ hãi về số phận đời sau.

Như vậy, điều chúng ta cần ghi nhớ là chúng ta phải biết gặp gỡ Chúa trong hoạt động, trong việc làm. Nói cụ thể hơn, trong một ngày và trong hoạt động, chúng ta phải biết dành ra ít giây phút cho việc gặp gỡ Chúa. Thí dụ: một lúc im lặng, một khoảnh khắc nâng tâm hồn lên cao, một ít phút đọc Kinh Thánh, một ít phút để cầu nguyện, để tâm sự với Chúa và lắng nghe Chúa nói với tâm hồn mình. Nói tóm lại, chúng ta cần tìm ra ý nghĩa sâu xa những câu nhận định của Chúa Giêsu: “Chỉ có một chuyện cần mà thôi”, “Maria đã chọn phần tốt nhất”, nghĩa là cuộc đời của chúng ta, có nhiều điều phải lo lắng, có nhiều công việc phải làm, nhưng chúng ta phải biết khẳng định cái gì là ưu tiên, cái gì cần làm, cái gì phải làm trước. Đó là lắng nghe Lời Chúa, đó là cầu nguyện.

Đàng khác, bài Tin Mừng còn gợi cho chúng ta suy nghĩ thêm một vấn đề nữa, đó là câu nói của Marta: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao?”. Câu nói của Marta tỏ lộ phần nào thái độ phân bì ghen tị thường sẵn có trong lòng mọi người. Chúng ta biết: ghen tị là một trong bảy mối tội đầu, là tội nặng. Kẻ ghen tị rất tự cao, không muốn ai hơn mình. Mà nếu có ai hơn mình thì tỏ ra khó chịu, buồn rầu, chán nản, tức tối, oán ghét với những thành công của người khác… Có người chỉ ghen ghét một người nào đó trong một thời gian thôi. Nhưng có người ghen ghét suốt đời. Người ta ghen tị về đủ mặt: của cải, tài ba, nhan sắc, thành công, nhân đức… Thường những người ở trong cùng hoàn cảnh, cùng môi trường, cùng tình thân mới ghen ghét nhau, như bạn bè, chị em ghen nhau; nhà giáo, nghệ sĩ, hàng thịt, hàng cá ghen nhau. Rồi người lớn hay ghen tị nhiều hơn tuổi trẻ, vì tuổi trẻ còn đang ganh đua và có nhiều điểm phải vươn tới, rồi họ lại dễ bỏ qua, tha thứ. Cho nên, nếu có, thì chỉ là tạm thời. Còn người lớn ghen tị thường đưa đến oán thù, phá đổ.

Chẳng hạn, vua Saolê, khi thấy Đavid được dân chúng ca tụng là tài giỏi hơn vua, thì nhà vua ghen tức với Đavid, đến nỗi từ đó tìm đủ cách để giết Đavid, dù Đavid không có tội gì hết. Saolê ghen tị thật vô lý. Đavid là một tay tài giỏi, thắng trận trở về, xứng đáng được toàn dân ca tụng biết ơn. Còn Saolê, lẽ ra phải vui mừng vì Đavid đã đem phần thắng về cho mình, thì Saolê đã làm ngược lại là ghen tức và cay đắng trả thù. Đúng như câu nói: “Khi một người thắng trận trở về nhà, dù lòng đang vui cách mấy đi nữa, khi thấy có người khác hơn mình, thì niềm vui đó sẽ trở thành buồn bực và đau khổ”. Nếu như chúng ta ở trong trường hợp của Saolê, có lẽ chúng ta cũng ghen tức như Saolê. Chúng ta có thể cười người khác khi thấy họ ghen tị, và chúng ta cho đó là thái độ trẻ con. Nhưng chính chúng ta cũng nên phản tỉnh lại xem chúng ta có hơn trẻ con không? Khi thấy người khác đau khổ, chúng ta dễ chạnh lòng thương, an ủi giúp đỡ họ. Ngược lại, thử hỏi chúng ta có vui một cách thành thực khi anh em mình được may mắn thành công chăng? Thường thường chúng ta hay đi chia buồn hơn là chia vui. Chúng ta hãy nhớ: Ghen tị sinh ra nhiều tai hại: ghen tị thường đi đến chỗ nói hành, nói xấu, vu oan cáo vạ, bôi nhọ, xét đoán bừa bãi. Ghen tị làm đứt mất tình bác ái và gây nên nhiều gương mù gương xấu. Vì thế, bằng mọi giá chúng ta phải tốp lại cái thói ghen tị vô lối của mình.

Bài Tin Mừng cũng như những điều tìm hiểu trên đây nhắc nhở chúng ta suy nghĩ: Mỗi người chúng ta đã tiếp đón Chúa, gặp gỡ Chúa, lắng nghe lời Chúa như thế nào trong cuộc sống: theo kiểu của Marta hay Maria? Chúng ta có biết kết hợp giữa cầu nguyện và hoạt động trong cuộc sống để đáp ứng những đòi hỏi phát triển con người toàn diện không? Chúng ta có tự cho mình là đúng, công việc của mình là hay hơn cả, để rồi phủ nhận hoặc công kích người khác, công việc của người khác không? Trong khi có thể chính người đó mới đúng và công việc của họ mới đáng kể? Ước mong mỗi người hãy suy nghĩ và kiểm điểm để đổi mới hoặc bổ túc những gì còn sai lỗi hoặc thiếu sót trong đời sống đạo của mình.

 

64. Phần tốt nhất quyết định ý nghĩa cuộc sống--Lm Giuse Vũ Tiến Tặng

Bài đọc thứ nhất của Chúa Nhật hôm nay đề cập đến vấn đề đón tiếp. Abraham được Thiên Chúa viếng thăm dưới hình ảnh ba người khách. Ông đã thể hiện sự hiếu khách của mình trong việc làm tất cả bao nhiêu có thể để làm hài lòng những vị khách đặc biệt ấy. Trước tiên, ông lấy nước để cho họ rửa tay chân, tiếp đến sai đầy tờ làm thịt bê, và nói với vợ mình Sara lấy bột để làm bánh. Một sự tiếp đón hết sức chu đáo. Điều này đã làm hài lòng ba vị khách. Nhờ thế, gia đình ông được chúc lành và được đón nhận trước một tin vui là chừng này năm sau hai ông bà sẽ có được một cậu con trai mặc cho đang ở độ tuổi cao niên.

Tiếp đón là phần không thể thiếu trong việc xây dựng các mối tương giao trong nhân loại. Tất cả các việc chuẩn bị chu đáo như các món ăn, bày bố trang trí bàn ăn đẹp mắt, tạo bầu khí dễ chịu thân thiện…nhằm mục đích làm hài lòng người được mời. Một bữa ăn không dừng lại ở vấn đề thỏa mãn cơn đói khát, mà còn vươn tới nét đẹp văn hóa ẩm thực mà chúng ta biết mỗi miền và mỗi quốc gia đều có những món ăn đặc trưng riêng của mình. Bữa ăn giúp xây dựng tình bạn ngày thêm sâu đậm. Khi cùng nhau chia sẻ bữa ăn là muốn nói cho người đồng bàn biết họ là quan trọng, là muốn cho họ được sống một cách triển nở, là muốn xây dựng một tình bằng hữu chân thực. Cũng chính trong bầu khí của bữa ăn, người ta có thể mở lòng ra để lắng nghe và chia sẻ nhiều điều với người đồng bàn. Qua đó mỗi bên nhận được những hoa trái bổ ích và có được nhiều kiến thức cũng như hiểu biết nhau hơn.

Cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho Abraham và lòng hiếu khách của ông dành cho Ngài là điều cần thiết nhất trong cuộc sống của mỗi Kitô hữu. Điều này lại được Đức Giêsu một lần nữa khẳng định khi nói về sự chọn lựa giữa lắng nghe Chúa và bên kia là công việc. Tin Mừng Thánh Luca kể về cuộc thăm viếng của Đức Giêsu đối với ba chị em trong một gia đình tại Bêtania. Đây là một gia đình có mối liên hệ gần gũi với Ngài. Có thể nói nơi đây là điểm dừng chân sau những chặng đường rao giảng của Đức Giêsu. Ba chị em của gia đình tại Bêtania cũng còn được các sách Tin Mừng khác nói đến, như Tin Mừng theo thánh Gioan có kể về việc Đức Giêsu cho ông Lazarô chết bốn ngày và đã an táng trong huyệt mộ được sống lại. Trong cuộc viếng thăm đang nói ở trên, hai thái độ hoàn toàn khác nhau được thể hiện nơi Mát-ta và Maria. Trong khi cô chị Mát-ta tất bật bận rộn với công việc bếp núc, thì cô em Maria lại cứ ngồi bên chân Chúa để lắng nghe Ngài. Không những thế, cô em lại còn được Đức Giêsu khen là đã biết chọn phần nhất, đồng thời cô chị lại bị trách cứ là « lo lắng bối rối về nhiều chuyện » nữa.

Thực ra, hình ảnh lắng nghe Chúa của Maria và bận tâm nhiều việc của Mát-ta không thể tách rời. Đây chỉ là hai mặt của một vấn đề. Trước hết cần phải lắng nghe Chúa thì sau đó mới có thể bước đi đúng hướng, cũng như dẫn đến hành động để làm những việc cần làm. Điều quan trọng là biết dành thời gian cần thiết và có con tim nhạy bén để nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa. Đó chính là cuộc gặp gỡ mật thiết với Ngài trong cầu nguyện. Chỉ trong khung cảnh ấy người tín hữu mới có thể đón nhận thánh ý Chúa để rồi chấp nhận bỏ ý riêng của mình, để cuộc đời của mình được bước đi trong sự tín thác. Điều này khác hoàn toàn với việc xin Thiên Chúa thực hiện nơi cuộc đời của mình những tiêu chuẩn theo cái nhìn của người đời, và những gì mà chính bản thân muốn được như ý của mình vậy. Dành thời gian để lắng nghe Chúa nói, hơn là nói thật nhiều với Ngài, trở nên tối cần thiết và được coi như hơi thở của mỗi Kitô hữu.

Cuộc đời quanh ta vẫn tấp nập tiếp diễn hết ngày này tháng khác. Đôi khi, con người bị cuốn hút vào nhịp độ với áp lực thật cao dẫn đến cuộc sống bị mất quân bình. Tuy nhiên, có khi đạt được thành công lại là lúc người ta chủ quan cho rằng khả năng của mình quyết định yếu tố thành công ấy. Từ đó, sẽ làm cho ý nghĩa của cuộc đời mất đi điều chính yếu. Cuộc sống nhân loại được kết hợp bởi nhiều mảng khác nhau như vật chất, tinh thần, đời sống tâm linh, nghề nghiệp, gia đình, cộng đoàn, xã hội…Vượt lên trên tất cả, có Đấng là Chủ thể của thời gian và không gian, là nguyên lý tối hậu của muôn loài muôn vật. Nhờ Ngài mà chúng được tồn tại. Đấng đó chính là Thiên Chúa, Người cho chúng ta sự sống và chỉ cho mỗi người thấy ý nghĩa đích thực. Điều tất yếu, người tín hữu cần phải thiết lập mối mối tương quan chặt chẽ với Ngài, vì khi tách ra khỏi Ngài, con người sẽ trở nên hư vô. Như thế, mới thấy lời khuyên của Đức Giêsu hôm nay dành cho Mát-ta thật sâu sắc. Khi chọn phần tốt nhất là dành thời gian để nghe Chúa, thì các mảng khác trong cuộc sống của con người mới được triển nở và mới đạt tới như lòng Chúa mong muốn.

Mỗi Chúa Nhật, người tín hữu được quy tụ trong bầu khí bữa tiệc được chính Đức Giêsu dọn ra để cho chúng ta được bồi bổ sức mạnh và đời sống được thăng hoa. Ngài mời gọi chúng ta lắng nghe Lời Ngài và muốn chúng được đem ra thực hành nhằm trổ sinh hoa trái. Ngài cũng cho chúng ta thưởng thức lương thực là chính mình của Ngài, để cho đời sống đức tin chúng ta được củng cố và tăng triển không ngừng.

Xin cho chúng ta có tâm hồn lắng nghe Lời Chúa như Mẹ Maria, để trong mọi hoàn cảnh chúng ta biết gẫm suy Lời Chúa trước khi đem ra thực hành. Khi chọn phần tốt nhất chính là lúc thánh ý của Thiên Chúa được thực hiện nơi chúng ta và trong suốt cả cuộc đời.

 

65. Suy niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý:

1. Thử đặt ngược lại vấn đề: nếu cả Mácta cũng tiếp chuyện Đức Giêsu mà không có ai lo việc tiếp đãi Ngài, cụ thể là lo nước nôi tiếp khách và bữa ăn cho Ngài, thì có nên không? Ngài có hài lòng về cách tiếp đãi đó không?

2. Giữa hai chị em với nhau, thái độ của mỗi người có chỗ nào hay, chỗ nào dở? Mỗi người phải sửa đổi lại thái độ của mình thế nào cho hoàn hảo?

3. Bạn nghĩ gì về người năng cầu nguyện mà không năng hành động, hay năng hành động mà không năng cầu nguyện?

Suy tư gợi ý:

1. Hiếu khách phải là một đặc điểm của người Kitô hữu

Đức Giêsu đến làng Bê-ta-ni-a, nơi nhà Mácta và Maria, là những người rất mến mộ Ngài. Đây là một dịp tốt để hai chị em tỏ lòng yêu thương và quí mến Ngài. Tinh thần hiếu khách như hai chị em này là một trong những đặc điểm của người Á Đông, mà cũng phải là đặc điểm của mọi Kitô hữu, vì đó là một khía cạnh quan trọng và cụ thể của tình yêu thương vốn là nền tảng của Kitô giáo. Trong bài đọc I, A-bra-ham đã tỏ ra thật hiếu khách. Không ngờ lần này khách đến lại là sứ giả của Thiên Chúa. Nếu bình thường ông không hiếu khách, thì khi thiên sứ đến bất ngờ dưới dạng người thường, làm sao ông tỏ ra hiếu khách với các vị ấy được? Điều này giúp chúng ta ý thức lại: mọi người khách đến với gia đình ta đều là hình ảnh của Thiên Chúa, và phần nào là hiện thân của chính Đấng mà ta đang tôn thờ và muốn yêu mến hết lòng. Như thế, quí mến khách cũng là một cách tỏ lòng quí mến Chúa.

2. Cần có sự phân công hợp lý trong gia đình, trong tập thể

Để tiếp đón Ngài cho phải lẽ và làm hài lòng Ngài, phải có người tiếp chuyện Ngài, vì nếu để Ngài ngồi không một mình thì quả là bất lịch sự. Nhưng cũng phải có người lo chuyện nước nôi và những món ăn tiếp đãi khách chứ! Vì nếu tới bữa ăn mà để cho khách ra về bụng đói, hoặc cho khách ăn một bữa cơm quá thanh đạm, xoàng xĩnh, thì còn gì là quí mến khách nữa? Vì thế, hai chị em không ai nói với ai, đã tự phân công: một người hầu chuyện Ngài, một người lo chuyện phục vụ Ngài, điều ấy thật hợp lý. Nếu cả hai cùng tiếp chuyện Ngài, thì ai lo nấu ăn? Hay nếu cả hai đều lo nấu ăn, thì ai tiếp chuyện Ngài?

3. Cần quan tâm đến nhau và tìm cách làm cho nhau hạnh phúc

Ưu điểm của Mácta là tinh thần năng động, cô biểu lộ tình yêu và sự quí mến của mình bằng việc phục vụ, quan tâm tới nhu cầu cụ thể của người khác. Thật là một đức tính tốt! Nhưng điều không hay nơi Mácta là ganh tị với em: thấy em ngồi nói chuyện với Đức Giêsu, có vẻ nhàn nhã quá, để mình phải vất vả cực nhọc, thì đâm ra buồn phiền. Cô không thể dấu trong bụng sự tị nạnh đó, mà phải bộc lộ ra, đến độ có vẻ như trách móc Đức Giêsu: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!”. Có vẻ như cô cảm thấy không được ai chú ý tới, nhất là không ai biết tới sự khó nhọc của mình. Cái thiếu sót này rất đáng thông cảm vì tâm lý chung mọi người đều như vậy!

Cái hay của Maria là biểu lộ tình yêu và lòng quí mến của mình bằng cách chăm chú nghe và ghi nhận, học hỏi những điều hay từ Đức Giêsu. Điều này sẽ rất ích lợi cho cô, nhất là về mặt tâm linh. Nhưng cái thiếu sót của Maria là dành độc quyền nói chuyện với khách, mà không nghĩ gì tới sự khó nhọc vất vả của chị mình để tìm cách chia sẻ công việc với chị. Chẳng hạn, thỉnh thoảng cô có thể mời chị lên tiếp chuyện với Thầy và làm bếp thay thế chị một chút. Hai chị em thay phiên nhau, vừa tiếp Thầy, vừa lo chuyện phục vụ Thầy thì đẹp hơn biết mấy!

Trong cuộc sống chung của gia đình hay tập thể, nếu chúng ta biết quan tâm đến nhau, đến niềm vui, nỗi khổ, đến những nhu cầu, lo lắng, bận tâm của nhau, thì cuộc sống chung trở nên hạnh phúc biết bao! Sự quan tâm ấy thể hiện cụ thể tình yêu thương của ta đối với nhau. Nếu không có tình yêu thương, nếu ai cũng chỉ nghĩ đến mình, đến niềm vui và nỗi khổ, nhu cầu và lo lắng của mình, thì cuộc sống chung sẽ trở thành hỏa ngục.

4. Cần ưu tiên cho đời sống tâm linh.

Cách trả lời của Đức Giêsu: “Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”, khiến cho nhiều người nghĩ rằng Đức Giêsu đã coi việc tiếp chuyện Ngài là quan trọng và đẹp lòng Ngài hơn chuyện lo chăm sóc bữa ăn cho Ngài. Từ đó họ suy ra rằng việc cầu nguyện thì đáng quí và làm hài lòng Chúa hơn việc hoạt động. Nhưng ta thử đặt vấn đề: nếu cả hai chị em đều lo ngồi hầu chuyện Đức Giêsu, mà chẳng ai lo bữa ăn chu đáo cho Ngài, thì Ngài có hài lòng lắm không?

Là người hướng dẫn tâm linh, Ngài thấy đời sống tâm linh quan trọng hơn thể chất rất nhiều, nhân đó Ngài muốn, bằng câu nói trên, cho hai chị em một bài học: cần phải đặt nặng và lo cho đời sống tâm linh hơn thể chất. Tại sao? Vì người đời thường có khuynh hướng lãng quên đời sống tâm linh, mà chỉ chú tâm đến đời sống thể chất. Họ dành rất nhiều thì giờ và năng lực vào chuyện cơm ăn áo mặc, chuyện tiện nghi vật chất, chuyện quyền lực địa vị, chuyện tranh đua để hơn người khác, tóm lại là những chuyện liên quan đến đời sống tạm bợ ở trần gian. Đa số ít quan tâm, hoặc ít người quan tâm đầu tư cho đời sống tâm linh của mình, là điều chẳng những đem lại hạnh phúc thanh tao ở đời này, mà còn đem lại hạnh phúc lâu dài đời sau.

5. Cần có sự điều hòa và quân bình giữa tâm linh và thể chất, giữa cầu nguyện và hành động

Trong thực tế, hai khía cạnh của sự sống – tâm linh và thể chất – liên quan đến nhau, hỗ trợ nhau. Khía cạnh này tốt đẹp và lành mạnh thì cũng sẽ ảnh hưởng tốt đẹp lên khía cạnh kia. Tuy nhiên, quá quan tâm đến khía cạnh này thì sẽ bỏ bê đồng thời làm hại cho khía cạnh kia. Do đó, hai khía cạnh ấy của sự sống cần phải được quan tâm một cách điều hòa và quân bình: không nên quá quan tâm đến khía cạnh này mà bỏ bê khía cạnh kia, nhất là đối với giáo dân, là những người sống giữa trần gian.

Cũng tương tự như thế, cần phải có sự điều hòa và quân bình giữa sự cầu nguyện và hành động. Cầu nguyện nhiều mà không cảm thấy có sức mạnh nào thúc đẩy mình đi đến hành động thực tế, thì sự cầu nguyện ấy hẳn nhiên không phải là cầu nguyện đích thực, nghĩa là không thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Rất nhiều Kitô hữu hiện nay ở trong tình trạng này. Họ cảm thấy an tâm, tự cho mình là người đạo đức, chỉ vì họ đã dành rất nhiều thì giờ để cầu nguyện. Nhưng sự cầu nguyện của họ chẳng dẫn họ đến hành động để thể hiện cụ thể tình yêu thương mà đáng lẽ họ phải đạt được khi cầu nguyện đích thực. Vì thế, rất nhiều việc đáng lẽ họ nên làm hoặc phải làm, nhưng họ đã không làm. Và hiện nay cũng có nhiều nhà hướng dẫn tu đức chỉ hoặc quá nhấn mạnh đến cầu nguyện, mà không quan tâm hoặc không nhắc nhở gì đến bổn phận phải hành động.

Tuy nhiên, năng hành động mà không năng cầu nguyện thì ta dễ đi đến chỗ hành động chỉ vì lợi ích riêng của mình, chứ không phải vì Thiên Chúa hay tha nhân. Hành động như thế xét về mặt tâm linh thì không mấy giá trị và ít đem lại lợi ích thiêng liêng. Người hành động nhiều mà không cầu nguyện giống như người hành trình vào một vùng đất lạ, chỉ biết đi tới mà không biết phải lâu lâu dừng lại xem bản đồ để biết mình đang ở đâu, và biết phải đi đường nào để tới nơi mình muốn. Vì thế, có rất nhiều khả năng là họ sẽ lạc đường. Hoặc như người hành trình không biết dừng lại để ăn uống, hay để đổ xăng, hầu tiếp sức cho chính bản thân hoặc tiếp nhiên liệu cho phương tiện di chuyển. Họ sẽ không đủ sức và phương tiện để đi hết cuộc hành trình. Vậy, cầu nguyện và hành động đều rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu mà chúng ta cần phải thực hiện một cách quân bình và điều hòa trong cuộc sống.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, bất kỳ một nhân đức nào trong đời sống cũng đòi hỏi phải được bổ túc bằng một nhân đức đối nghịch với nó thì nhân đức ấy mới thật sự là nhân đức. Vì thế, xin hãy cho con ơn khôn ngoan và khiêm nhượng đi đôi với lòng can đảm, cho con hiền lành mà cương quyết, năng cầu nguyện nhưng dám hành động, v.v… Tóm lại, cho con vừa biết lắng nghe lời Chúa như Maria, nhưng cũng vừa biết săn tay lên để làm việc như Mácta. Amen.

 

66. Hoạt động và cầu nguyện--Gp Vĩnh Long

1. Dân gian có câu: “Khách tới nhà không gà thì vịt”, câu nói nầy thể hiện lòng hiếu khách của chủ nhà. Trong bài đọc I, cho thấy tổ phụ Abraham cũng rất hiếu khách, ông đang ngồi trong lều giữa trưa nóng, thì thấy bên ngoài có 3 người đàn ông. Ông vội vàng lấy bột làm bánh, bắt một con bê tốt nhất làm thịt để tiếp đãi họ. Những người nầy là sứ giả của Thiên Chúa. Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Mát-ta cũng thể hiện lòng hiếu khách của mình, chị lo dọn tiệc thết đãi Chúa, thế nhưng người em là Maria phục vụ Chúa bằng cách khác, ngồi nghe Chúa giảng dạy và được khen. Tại sao Chúa khen Maria? Và qua hình ảnh của Matha và Maria tiếp đón Chúa mỗi người mỗi cách, Chúa muốn dạy chúng ta điều gì?

2. Chắc hẳn không chỉ một mình Đức Giêsu ghé qua nhà chị em Mát-ta, Maria và Lagiarô (người đã chết và chôn được 4 ngày mà được Chúa cho sống lại), mà còn các tông đồ nữa. Việc chuẩn bị chỗ nghỉ ngơi và ăn uống cho ít là 13 người khách và 3 người nhà làm cho Mát-ta, người chị, người chủ nhà tất nhiên phải rất bận rộn. Cho nên chúng ta không lạ gì Mát-ta trách em mình không phụ giúp gì với mình! Dường như trách cả Chúa nữa là không biết nhắc Maria phụ với chị, mà chỉ ngồi nghe Chúa nói chuyện, trong khi gần tới bữa ăn rồi! Rõ ràng Mát-ta làm việc phải làm của người chủ nhà, thế nhưng Chúa không khen, mà Chúa còn bảo: “Mát-ta, Mát-ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá. Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất”(Lc 10,42). Câu nói này hẳn làm cho Mát-ta và cả chúng ta cũng phải suy nghĩ nữa!

3. Xét về phương diện xã hội, khách đến nhà chúng ta thường thấy có hai phương cách phục vụ. Phương cách giống như của Mát-ta: lo ăn, lo chỗ nghỉ cho khách. Theo cách nghĩ thông thường càng lo thức ăn thịnh soạn, chỗ nghỉ càng chu đáo chừng nào chứng tỏ mình càng trân trọng, quý mến khách. Phương cách giống của Maria: lắng nghe những điều chia sẻ của khách. Càng thâm giao, càng tri kỷ khi đến thăm nhau dường như cần có nhiều thời giờ để tâm sự, để chia sẻ nhau hơn là vấn đề ăn uống.

4. Xét về phương diện thiêng liêng, Mát-ta tiêu biểu cho người hoạt động, lo lắng về những nhu cầu vật chất. Còn Maria tiêu biểu cho những người lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện. Tuy việc hoạt động phục vụ không phải là không cần thiết, nhưng phải coi chừng kẻo chúng làm ta phân tâm mà không để ý đến điều quan trọng hơn đó là lắng nghe Lời Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nhắc lại lời Thiên Chúa dạy từ thời Cựu Ước: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4).

5. Hoạt động và cầu nguyện hai việc không thể tách rời nơi đời sống của người Kitô hữu, mà cần bổ túc cho nhau. Trong đó việc cầu nguyện phải làm nền tảng hoạt động cho đời sống của Kitô hữu. Thật vậy, ta hãy xem qua một vài lĩnh vực để thấy rõ:

- Nhờ gắng bó với Đấng Tối Cao làm cho người sống đúng với phẩm giá cao quý của mình hơn. Tháng 07 năm 2004, trung tâm nghiên cứu Howard thuộc Đại học Austin, Texas, Hoa Kỳ đã công bố kết quả nghiên cứu cho thấy giới thanh thiếu niên có đời sống tôn giáo mạnh thì vấn đề phạm pháp, vấn đề dục tính tiền hôn nhân, lạm dụng chất kích thích, phạm pháp đều giảm đáng kể.

- Nhờ cầu nguyện nên giải quyết những vấn đề trong cuộc sống được tốt hơn. Charles de Foucauld có phương cách giải quyết các vấn đề khó khăn như sau: (1) Thưa với Chúa những điều mình gặp phải. (2) Cầu nguyện (thinh lặng) lắng nghe Chúa hướng dẫn. (3) Đưa ra hướng để giải quyết vấn đề. Nhờ vậy mà ngài đã giải quyết thành công nhiều điều. Điều nầy ai trong chúng ta cũng có thể học hỏi để áp dùng cho đời sống của ta.

- Nhờ cầu nguyện nên việc phục vụ tha nhân được tốt hơn. Mẹ Têrêsa Calcutta và các nữ tu dòng của Mẹ dù bận rộn công việc hằng ngày như thế nào, nhưng luôn luôn dành thời giờ tham dự Thánh lễ, chầu Thánh Thể. Người ta ghi nhận rằng Mẹ Têrêsa luôn là người có mặt ở nhà nguyện sớm nhất!

6. Như vậy cầu nguyện và hoạt động là hai việc không thể tách rời nơi một Kitô hữu, giống như một đồng tiền phải có hai mặt. Có thể nói cầu nguyện như là phần chìm, nền móng, của tòa nhà; hoạt động như là phần trên của tòa nhà; toà nhà muốn vững phải nhờ móng chắc chắn. Nhờ cầu nguyện mới có thể phân định được những việc nên làm và không nên làm, nếu thế thì cầu nguyện còn có thể nói như tay lái của chiếc xe để dìu dắt cả chiếc xe đi đúng hướng, an toàn. Nhờ cầu nguyện mà chúng ta có thể phục vụ, cư xử với nhau theo tinh thần người con Chúa được tốt hơn.

Đừng tiếc gì một ít thời giờ đọc kinh hôm, kinh mai, xét mình hằng ngày, đừng tiếc gì phải dành một vài tiếng đồng hồ tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật... Đức Giêsu là mẫu gương cho cầu nguyện và hoạt động. Người muốn việc hoạt động của người tông đồ phải bắt nguồn từ sự cầu nguyện và cần có những giây phút nhìn lại việc mình làm, vậy hãy dành thời gian tâm sự với Chúa, như là Maria; để rồi mới có thể có được sức mạnh phục vụ Chúa và tha nhân như Mát-ta, cách bền bỉ.

 

67. Lắng nghe, đón nhận Lời Chúa là người khôn ngoan—Jos. Vin. Ngọc Biển SSP

Tin mừng Lc 10: 38-42: Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta thấy việc Đức Giêsu ghé thăm gia đình của Mát-ta. Nơi đây, Ngài nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt của hai chị em trong gia đình này.

Trong truyền thống Việt Nam, văn hoá ứng xử qua việc giao tiếp là quan trọng. Điều này đã được cha ông chúng ta rất đề cao. Qua việc đón tiếp khách, người ta đánh giá được sự hiếu khách hay thờ ơ của gia chủ; đồng thời nó cũng thể hiện sự văn minh và nền giáo dục của gia đình đó như thế nào!

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta thấy việc Đức Giêsu ghé thăm gia đình của Mát-ta. Nơi đây, Ngài nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt của hai chị em trong gia đình này. Hai cách đón tiếp khác nhau, nhưng đều thể hiện sự kính trọng, yêu mến mà hai cô dành cho Đức Giêsu. Tuy nhiên, kết quả lại khác nhau, bởi vì hệ tại ở hành vi lựa chọn.

1. Cần lắm một lựa chọn đúng đắn

Kinh nghiệm trong cuộc sống cho chúng ta thấy: có rất nhiều điều cần phải “lựa” và “chọn”. Khi còn nhỏ, cha mẹ lựa chọn cho con cái trường nào tốt để gửi vào học; khi lớn lên một chút, ta lựa chọn bạn để chơi, lựa chọn thầy để học; lựa chọn nghề để mưu sinh, lựa chọn người yêu để cưới; lựa chọn một cung cách, một lập trường, một lý tưởng để sống... Nhưng có lẽ điều cần thiết nhất vẫn là lựa chọn một chân lý để làm chủ đạo cho cuộc đời.

Như vậy, có biết bao điều cần phải lựa chọn. Lựa chọn cái tốt, tốt vừa, tốt hơn, hay tốt nhất? Đây chính là điều đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, đắn đo trước khi chọn.

Nếu lựa chọn trong đời thường là lọc ra những thứ không cần thiết và chọn cho mình những thứ cần dùng. Thì lựa chọn theo Kinh Thánh chính là lắng nghe tiếng Chúa và thực thi điều mình đã tiếp nhận.

Chọn lựa được coi là “đích đến” và “bánh lái” cho cuộc đời nếu lựa chọn đó là tốt, là đúng. Còn nếu lựa chọn sai thì sẽ bị tác hại khôn lường.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho chúng ta thấy: Mát-ta lựa chọn phục vụ Đức Giêsu qua việc nấu nướng để thiết đãi Ngài một bữa ăn thịnh soạn. Còn Maria thì lựa chọn việc ngồi để lắng nghe Đức Giêsu dạy bảo. Hai thái độ đều tốt. Một bề ngoài. Một bề trong. Nhưng giá trị thì lại khác nhau. Bởi vì Maria đã chọn phần tốt nhất, còn Mát-ta có thể đã chọn phần tốt hoặc tốt hơn chứ chưa phải là tốt nhất.

2. Lắng nghe và đón nhận Lời Chúa là người khôn ngoan

Thật vậy, lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành phải là điều quan trọng nhất, bởi vì: mọi sự sẽ qua đi, nhưng Lời Chúa vẫn luôn tồn tại.

Tác giả sách Isaia đã nhắc lại lời Đức Chúa phán với dân của Người như sau: “Giả như ngươi lưu ý đến mệnh lệnh của Ta, thì sự bình an của ngươi chan chứa như dòng sông, sự công chính của ngươi sẽ dạt dào như sóng biển, tên của ngươi sẽ chẳng bao giờ bị huỷ diệt, chẳng bao giờ bị xoá bỏ khỏi mắt Ta” (Is 48,18-19b).

Chính vì điều này mà cô Maria đã lựa chọn điều tốt nhất là được ở bên Đức Giêsu (x. Lc 10,42) và nghe lời Ngài dạy (x. Lc 10,39). Cô đã chọn cho mình phần phúc Nước Trời, bởi lẽ, Đức Giêsu chính là nội dung của Tin Mừng, là hiện thân của Nước Hằng Sống. Vì thế, có Đức Giêsu ở cùng là được cả Nước Trời. Nghe được Lời Ngài nói với mình và đem ra thực hành thì được ví như “… người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá " (Mt 7, 25).

Bởi vì, Đức Giêsu là kho tàng quý giá mà Thiên Chúa Cha đã đem trồng vào trong mảnh vườn nhân loại. Sống trong Ngài là được trở nên nghĩa thiết với Ngài và được Ngài yêu thương, để Ngài ở đâu, chúng ta cũng sẽ được ở đó với Ngài. Cô Maria trong bài Tin Mừng hôm nay đã hội đủ các yêu tố trên, nên cô đáng được Đức Giêsu khen là người có phúc khi nói: “Chỉ có một sự cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất".

3. Sứ điệp Lời Chúa

Giáo Hội được Đức Giêsu thiết lập để lưu truyền Lời Chúa cho con người. Lời đó là Lời Chân Lý, Lời Hằng Sống. Chính Lời Chúa đã nuôi sống Giáo Hội qua mọi thăng trầm của lịch sử. Vì thế, “Giáo Hội luôn tôn kính Lời Chúa như chính Thân Thể Ngài”.

Khi dành cho Lời Chúa một vị trí quan trọng và ngang hàng với chính Chúa như thế, Giáo Hội muốn xác tín niềm tin của mình vào sức mạnh vạn năng của Lời Chúa. Điều này đã được Công Đồng Vaticanô II khẳng định: “Lời Chúa có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (x. DV., số 21).

Nhưng, tiếc thay, vì quen lối sống đạo xưa kia, nên chúng ta nhiều khi chỉ thuộc kinh mà không mấy coi trọng Lời Chúa! ngược lại, nhiều gia đình lại coi cuốn Lời Chúa như một vật trang trí hay kính trọng theo kiểu “kính nhi viễn chi”.

Khi nói như thế, chúng ta không có ý phủ nhận lối sống đạo bình dân của cha ông, vì trên thực tế, đời sống đạo truyền thống này đã sinh ra cho Giáo Hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, và hôm nay, chúng ta được kế thừa niềm tin cũng nhờ cung cách sống đạo bình dân đó.

Tuy nhiên, chúng ta quên mất rằng, mọi lời Giáo Huấn hay Truyền Thống của Giáo Hội cũng như mọi lời kinh từ bao thế hệ đều được bắt nguồn và suy tư từ Lời Chúa. Nếu chúng ta am tường và hiểu biết Lời Chúa càng nhiều, thì đời sống đạo của chúng ta càng sống động và sâu sắc. Chính thánh Giêrônimô đã nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô”. Vì thế, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gợi lên cho chúng ta giá trị của Lời Chúa khi viết: “Đọc Lời Chúa không những để hiểu về Chúa mà còn để tìm hướng đi cho cuộc đời” (x. Thư Chung 1980, số 8).

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy chiêm ngắm hình ảnh, thái độ của Maria, nhất là hãy cảm nghiệm lời chúc phúc của Đức Giêsu dành cho cô, từ đó, rút ra cho mình một thái độ tích cực với Lời Chúa như:

Chăm chỉ đọc, suy gẫm Lời Chúa cách yêu mến; đồng thời biết thinh lặng, nhạy bén để khám phá ra sứ điệp của Lời Chúa và đem ra thực hành. Đây chính là thái độ của người khôn ngoan khi xây dựng ngôi nhà cuộc đời mình trên nền tảng Lời Chúa. Để mưa xa, bão táp, phong ba có dồn dập tư bề, thì nhà ấy vẫn vững vàng.

Ngược lại, nếu chỉ đọc Lời Chúa cách hời hợp, qua lần chiếu lệ, thì Lời Chúa không những không tác sinh trong tâm hồn, mà nhiều khi lại còn bị chúng ta bóp méo và uốn nắn theo thiển ý của chính mình. Từ đó, sinh ra lối sống đạo hình thức, hời hợt bên ngoài hay chỉ là người mang danh và đeo cái mác Công Giáo, chứ thực ra không phải là người mang Đạo trong mình.

Ước gì Lời Chúa khen ngợi cô Maria khi xưa vì đã biết chọn phần tốt nhất cũng là lời tác phúc cho mỗi chúng ta hôm nay.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con biết chọn Chúa làm lý tưởng và lẽ sống cho cuộc đời. Xin cho chúng con biết yêu mến và lắng nghe Lời Chúa bằng thái độ của người môn đệ. Và, xin cho chúng con biết đem Lời Chúa ra để thực hành trong cuộc sống hiện tại. Amen.

 

68. Lắng nghe Lời Chúa là điều tốt nhất--Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong truyền thống Việt Nam, văn hoá ứng xử qua việc giao tiếp là rất quan trọng, điều này đã được cha ông chúng ta rất đề cao. Qua việc đón tiếp khách, người ta đánh giá được sự hiếu khách hay không của gia chủ; đồng thời nó cũng thể hiện sự văn minh và nền giáo dục của gia đình đó như thế nào.

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta thấy việc Đức Giêsu ghé thăm gia đình của Mát-ta. Nơi đây, Ngài nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt của của hai chị em Mát-ta và Maria. Hai cách đón tiếp khác nhau, nhưng đều thể hiện sự kính trọng, yêu mến mà hai cô dành cho Đức Giêsu. Tuy nhiên, kết quả lại khác nhau, bởi vì hệ tại ở hành vi lựa chọn.

1. Cuộc đời là một sự lựa chọn không ngừng

Kinh nghiệm trong cuộc sống cho chúng ta thấy: có rất nhiều điều cần phải “lựa” và “chọn”. Khi còn nhỏ, cha mẹ lựa chọn cho con cái trường nào tốt để gửi con vào học; khi lớn lên một chút, ta lựa chọn bạn để chơi, lựa chọn thầy để học, lựa chọn nghề để mưu sinh, lựa chọn người yêu để cưới… Như vậy, có lẽ trong cuộc đời, chỉ có lần sinh ra và chết đi là ta không có quyền chọn lựa mà thôi, còn mọi trường hợp đều đòi ta phải có sự chọn lựa.

Có những lựa chọn tích cực và những lựa chọn tiêu cực. “Lựa chọn” trong đời thường là lọc ra những thứ không cần thiết và chọn cho mình những thứ cần dùng. Còn “lựa chọn” theo Kinh Thánh tức là nghe theo tiếng Chúa và thi hành hay là ngược lại.

Thật vậy, có biết bao điều cần phải lựa chọn. Lựa chọn cái tốt, tốt vừa, tốt hơn, hay tốt nhất? Đây chính là điều đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, đắn đo trước khi chọn.

Mỗi sự chọn lựa đều có giá của nó, và ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về chính ta qua sự chọn lựa của mình. Nếu lựa chọn đúng thì sẽ đem lại hạnh phục. Lựa chọn sai thì sẽ dẫn đến sự bất hạnh. Chọn lựa được coi là “đích đến” và “bánh lái” cho cuộc đời nếu lựa chọn đó là tốt, là đúng. Còn nếu lựa chọn sai thì sẽ bị tác dụng ngược lại. Lựa chọn là khởi đầu của một hành trình, thì sống sự lựa chọn đó là đi về đích điểm. Thật hạnh phúc cho những ai biết quyết định và lựa chọn đúng với thánh ý của Thiên Chúa.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho chúng ta thấy: Mát-ta lựa chọn phục vụ Chúa qua việc nấu nướng để thiết đãi Chúa một bữa ăn thịnh soạn. Maria thì lựa chọn việc ngồi để lắng nghe Chúa nói. Đây là tư thế và thái độ của người môn đệ trước vị tôn sư của mình… Nếu Mát-ta thể hiện lòng kính trọng và yêu mến Chúa qua việc nấu ăn, thì Maria cùng một lòng kính trọng và tình yêu mến Chúa như Mát-ta, nhưng Maria thì thể hiện cách khác là lắng nghe Lời Chúa. Hai công việc đều phát xuất từ lòng mến và được khởi đi từ sự kính trọng. Hai thái độ đều tốt. Một bề ngoài, một bề trong. Nhưng giá trị thì lại khác nhau. Hôm nay Chúa khen và nói Maria đã chọn phần tốt nhất, còn Mát-ta có thể đã chọn phần tốt hoặc tốt hơn chứ chưa phải là tốt nhất.

2. Lắng nghe lời Chúa là điều tốt nhất

Thật vậy, lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành phải là điều quan trọng nhất bởi vì: mọi sự sẽ qua đi, nhưng Lời Chúa vẫn luôn tồn tại.

Trong Cựu Ước, Chúa phán: “Giả như ngươi lưu ý đến mệnh lệnh của Ta, thì sự bình an của ngươi chan chứa như dòng sông, sự công chính của ngươi sẽ dạt dào như sóng biển, tên của ngươi sẽ chẳng bao giờ bị huỷ diệt, chẳng bao giờ bị xoá bỏ khỏi mắt Ta.” (Is 48,18-19b).

Sang thời Tân Ước, Kinh Thánh đã ca ngợi Mẹ là người luôn suy đi nghĩ lại Lời Chúa trong lòng (x. Lc 2,19.51). Vì thế, Đức Giêsu đã khen Mẹ trước mặt mọi người: “Mẹ và anh em tôi chính là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.” (Lc 8,21). “… Lời ấy chính là Tin Mừng đã được rao giảng cho anh em.” (1 Pr 1, 25; x. Is 40, 8). Lời ấy chính là Đức Kitô.

Trong cuốn Đắc nhân tâm, bà Carnegie đã viết: “Cách làm cho khách vui lòng nhất là lắng nghe khách nói, lắng nghe ước muốn, nguyện vọng, tâm tư của người khác. Như vậy, tỏ ra mình kính trọng, quan tâm đến người để hiểu biết, thông cảm, chia sẻ những tâm tình, những kiến thức, những yêu cầu thiết thực của người, quí hơn cả cơm ăn, áo mặc.”

Quả thật, thái độ của Maria thật thích hợp để làm vui lòng Chúa trong thời điểm này, bởi vì Chúa sắp lên Giêrusalem để chịu nạn chịu chết, nên việc lắng nghe để chia sẻ những tâm tư của Chúa và thi hành phải là điều quan trọng nhất. Maria đã lựa chọn điều tốt nhất là được ở bên Chúa, nghe lời Chúa dạy. Bà đã chọn cho mình phần phúc Nước Trời, bởi lẽ Đức Giêsu chính là nội dung của Tin Mừng, vì thế, loan báo Tin Mừng chính là giới thiệu về Đức Kitô cho con người và thế giới. Có Đức Giêsu là được cả Nước Trời. Nghe được Lời Chúa nói với mình và đem ra thực hành thì được ví như “người khôn xây nhà trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có thổi đến và lùa vào nhà đó, nhà đó vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên đá”. Đức Giêsu chính là kho tàng quý giá mà Thiên Chúa Cha đã đem trồng vào trong mảnh vườn nhân loại. Sống trong Ngài là được trở nên nghĩa thiết với Ngài và được Ngài yêu thương. Maria trong bài Tin Mừng hôm nay đã có được đầy đủ các yêu tố trên, nên cô đáng được Đức Giêsu khen là người có phúc: “Chỉ có một sự cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất.”

3. Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội và nơi mỗi chúng ta

Giáo Hội được sinh ra và sống bằng Lời Chúa. Vì thế, “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa”.

Khi dành cho Lời Chúa một vị trí quan trọng và ngang hàng với chính Chúa như thế, Giáo Hội muốn xác tín niềm tin của mình vào sức mạnh vạn năng của Lời ấy: “Lời Chúa có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội.” (x. DV, số 21).

Như vậy, trong mọi thời, Giáo Hội luôn mời gọi con cái của mình hãy siêng năng đọc Thánh Kinh, suy gẫm và đem ra thực hành cách sống động trong gia đình, lối xóm, giáo xứ và bất cứ môi trường nào... Thế nhưng, vì quen lối sống đạo xưa kia, nên chúng ta nhiều khi chỉ thuộc kinh và không mấy coi trọng Thánh Kinh. Khi nói như thế, chúng ta không có ý phủ nhận lối sống đạo bình dân của cha ông, vì trên thực tế, đời sống đạo truyền thống này đã sản sinh cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng và chúng ta ngày hôm nay được kế thừa niềm tin cũng nhờ cung cách sống đạo bình dân đó. Tuy nhiên, chúng ta quên mất rằng, mọi lời giáo huấn, truyền thống của Giáo Hội, mọi lời kinh từ bao thế hệ đều được khởi đi và suy tư từ Thánh Kinh mà ra. Nếu chúng ta am tường và hiểu biết Thánh Kinh càng nhiều, thì đời sống đạo của chúng ta càng sống động. Thật thế, Thánh Giêrônimô đã nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô.” Vì thế, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gợi lên cho chúng ta cách tiếp cận cụ thể với Thánh Kinh như sau: “Yêu mến Thánh Kinh không chỉ thể hiện qua việc phổ biến sách Thánh Kinh, mà còn là siêng năng đọc Lời Chúa trong đời sống và cho đời sống cụ thể của mình. Nói cách khác, đọc Lời Chúa không những để hiểu về Chúa mà còn để tìm hướng đi cho cuộc đời.” (x. Thư Chung 1980, số 8).

Như vậy, qua hình ảnh, thái độ của Maria, và nhất là được nghe lời chúc phúc của Đức Giêsu cho cô, mỗi người chúng ta hãy yêu mến Lời Chúa, chăm chỉ đọc Thánh Kinh, và nhất là đem Lời Chúa ra thực hành. Đây chính là điều cao trọng nhất để ta thể hiện lòng yêu mến Chúa trọn vẹn. Yêu mến Chúa mà không giữ Lời Chúa thì là người giữ đạo hình thức; giữ Lời Chúa như một luật lệ cứng ngắc, thậm chí chỉ giữ trong nhà thờ mà thôi. Nếu đời sống đạo của chúng ta đúng như vậy, thì chẳng khác gì người mang danh và đeo cái mác Công giáo, chứ thực ra không phải là người mang đạo trong mình.

Nhưng để nghe được tiếng Chúa muốn gì nơi chúng ta, chúng ta cần phải loại bỏ một số thứ không cần thiết, và phải kết hợp với Chúa trong thinh lặng nội tâm thực sự. Làm được như thế, tâm hồn chúng ta hoàn toàn thuộc về Chúa và để chúng ta dễ nhận ra tiếng Chúa trong Thánh Kinh, cuộc sống và qua lương tâm.

Mong thay, mỗi chúng ta biết chọn sao cho trọn. Chọn điều tốt sẽ dẫn đến kết quả tốt. chọn điều xấu ắt sẽ xấu. Nhưng trong tất cả mọi sự chọn lựa, Lời Chúa phải chiếm địa vị quan trọng nhất, và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống là làm cho Chúa được hiện tại hóa trong lời nói, cử chỉ, hành động của mỗi chúng ta. Có thế, Lời Chúa mới thực sự bén rễ sâu và sinh hoa kết quả trong đời sống đạo của chúng ta.

Ước gì Lời Chúa khen ngợi cô Maria khi xưa vì đã biết chọn phần tốt nhất cũng là lời tác phúc cho mỗi chúng ta khi chúng ta thành tâm đi tìm kiếm Chúa và yêu mến Chúa bằng việc lắng nghe và đem ra thực hành Lời ấy trong cuộc sống.

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết chọn Chúa làm chủ tể đời chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến và lắng nghe Lời Chúa bằng thái độ của người môn đệ. Và, xin cho chúng con biết đem Lời Chúa ra để thực hành trong cuộc sống hiện tại. Amen.

 

69. Matta và Maria--Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

1. Qua lịch sử của khoa chú giải, giai thoại này đã giải thích nhiều cách khác nhau. Chúng ta sẽ trình bày một vài cách giải thích theo thứ tự thời gian. Sau đó, cố gắng nắm vững ý nghĩa mà Lc muốn trình bày qua câu chuyện này. Cuối cùng sẽ đưa ra một vài kết luận.

2. Các cách chú giải trong truyền thống. Truyền thống không luôn cho chúng ta lối chú giải tổng quát, vì các tác giả đôi khi chỉ chú ý đến khía cạnh này hay khía cạnh kia của câu chuyện mà không nhìn đến toàn bộ của nó.

a/ Đây là một trường hợp điển hình của các cách xử dụng hạn chế câu chuyện như thế mà người ta hiểu phần đầu câu 42 như sau:”chỉ cần ít điều thôi”. “Matta lo lắng xôn xao nhiều chuyên quá": bà bận rộn lo phục dịch nhiều thứ. Chúa Giêsu trách bà điều đó, Ngài cần ít điều thôi. Đó là bài học dạy đơn giản và thanh đạm rất phù hợp với thói quen nghèo khó của Chúa Giêsu. Nhưng chắc hắn bài học của câu chuyện còn sâu xa hơn, vì sau khi phê bình Matta như thế, Chúa Giêsu còn nêu Maria như là mẫu gương phải noi theo.

b/ Cách chú giải của Origène đã có ảnh hưởng lớn trên truyền thống tu đức Hy lạp và latin.

“Người ta có thể chấp nhận là Matta tượng trưng cho đời hành động và Maria cho đời chiệm niệm. Mầu nhiệm tình yêu không còn đời sống hoạt động nữa, nếu lời dạy và huấn đức không đưa tới việc chiêm niệm: vì hoạt động và chiêm niệm không thể tách rời nhau”.

Ở đây, đối với Origène, hai chị em tượng trưng cho hai thái độ đạo đức mà một môn đệ trọn lành không thể tách rời: họ phải vừa là con người hoạt động vừa là con người chiêm niệm; nhưng hoạt động của họ phải qui hướng về chiêm niệm.

c/ Thánh Ambrosiô trình bày một lối chú giải tương tự, nhưng sát nghĩa hơn:

“Qua mẫu gương của Matta và Maria, nơi đây công việc của bà này ta thấy một sự tận tâm hoạt động, nơi kia một tâm hồn đạo đức biết lắng nghe lời Chúa; nếu phù hợp với đức tin thì thái độ có giá trị hơn các việc làm, như đã chép: “Maria đã chọn phần tốt hơn, sẽ không bị giật mất” - Vì thế chúng ta hãy chuyên lo chiếm hữu điều không ai có thể cất khỏi chúng ta được... Như Maria, anh chị em hãy hăng say khao khát sự khôn ngoan: đó là việc quan trọng và trọn hảo hơn. Chớ gì mối quan tâm mục vụ không làm cản trở việc tìm hiểu lời thần linh... Tuy vậy, người ta không chỉ trích Matta vì công việc tốt lành của bà; nhưng dù sao Maria được ưu đãi hơn vì đã biết chọn cho mình phần tuyệt hảo hơn”.

Như thế, đối với Ambrôsiô cũng như đối với Origène, hai chị em tượng trưng cho hai cách hoạt động phải luôn cùng hiện diện nơi người tín hữu.

d/ Thánh Augustino lưu tâm đến hình ảnh giáo hội hơn là giáo huấn tu đức:

“Matta tiếp đón Chúa trong nhà mình, ám chỉ giáo hội hiện nay đón Chúa trong lòng mình. Maria, em bà ngồi dưới chân của Chúa và nghe lời Ngài, ám chỉ cùng một giáo hội đó, nhưng trong một thế giới sắp đến, khi mà giáo hội hết phục vụ kẻ bần cùng mà chỉ vui hưởng sự khôn ngoan thôi. Thế nên Matta bận rộn lo phục vụ nhiều điều, vì giáo hội bây giờ đang thi hành các công việc ấy. Nếu bà than phiền vì em bà không chịu phụ giúp bà, thì ấy là cơ hội để lời Chúa chỉ cho thấy giáo hội này còn quá bận tâm lo lắng đến nhiều chuyện quá, trong lúc đó chỉ có một điều cần thôi mà người ta đạt được nhờ việc làm công phúc của giáo hội. Nhưng Chúa nói Maria đã chọn phần tốt hơn sẽ không bị mất: phần đó tốt vì nhờ nó mà người ta đạt đến mục đích và vì nó không bị lấy mất đi. Nhưng phần của việc làm, cho dù tốt, cũng sẽ bị mất đi, khi không còn sự bần cùng mà giáo hội từ trước đến nay đã phục vụ”.

Với thánh Augustinô, hai chị em biểu hiện hai giai đoạn nối tiếp nhau của giáo hội: chiến đấu và khải hoàn. Theo cách chú giải này thì câu chuyện Matta và Maria không còn mang tính cách huấn đức như với Origène và Ambrosiô nữa, nhưng là một lời hứa nhằm mục đích khơi dậy niềm hy vọng nơi các tín hữu.

e/ Thánh Cyrille thành Alexandtia đã nói nhiều lần về giai thoại này. Đôi khi Ngài theo cách chú giải của Origène mà chúng ta đã trích dẫn ở trên. Nhưng trong các bài giảng khác, Ngài đã rút ra từ câu chuyện này một bài học về cách thế tiếp đón những người mang lời Chúa đến. Với những ai tiếp đón họ, Ngài dặn dò (theo bản văn Syriaque trích trong các bài giảng của Ngài):

“Đừng bận tâm phục dịch nhiều quá, đừng kiếm gì hơn cái đang có, bàn ăn phải giản dị và nhiệm nhặt, thức ăn đơn giản và không thừa thãi”.

Đối với kẻ được mời, hãy trả lại những của cao quí:

“Đáp lại tặng phẩm vật chất, thì hãy đem lại tặng phẩm vĩnh cửu, đem tặng phẩm trên trời đáp đền tặng phẩm trần thế, đem của lâu bền mà trả những của chóng qua”.

Những lời huấn dụ này có thể đã được phát xuất do hoàn cảnh của tín hữu của thánh Cyrille; và nhất là bởi những sự lạm dụng của các thà tu lưu động. Ta không thể cho đó là tất cả tư tưởng của Cyrille về câu chuyện Matta và Maria được.

Trong mức độ nào các lối giải thích trên hợp với tư tưởng của phúc âm?

3. Tư tưởng của Luca

Để nhận rõ tư tưởng của Lc, trong sẵn có nhiều dữ kiện: văn mạch của câu chuyện, loại văn và cách xây dựng câu chuyện, những nét đặc điểm của nó, sau hết là những điểm giống với toàn bộ tác phẩm của Lc.

a/ Dữ kiện đầu tiên có thể soi sáng ý nghĩa Lc gán cho câu chuyện này là văn mạch. Vì không thể luôn luôn xác định được văn mạch, nên ông thường chỉ theo cách xếp đặt của các tài liệu mà ông thâu lượm được trong truyền thống; nhưng một đôi khi ông đã thay đổi cách sắp xếp để thực hiện một tác phẩm văn chương có thứ tự như nguyện vọng và quyết tâm của ông (Lc 1,3). Và đây là một trường hợp điển hình.

Trong phần kể lại việc Chúa Giêsu khởi sự lên Giêrusalem, mà ông muốn trình bày như là phần chính của sách phúc âm (9,51-19.28), trước hết Lc đã thu thập nhiều khía cạnh khác nhau về sứ mạng của các môn đệ (9,51-10,20) mà người ta thấy rải rác trong phúc âm Mt. Sau đó, ông trình bày cả một tuyển tập gồm các giáo huấn cho môn đệ nói về các đặc ân và những đòi hỏi trong bậc sống của họ (10,21-11,13): sự mạc khải của Chúa Con ban cho họ (10,21-24, những yếu tố này cũng có trong Mt 11,25-27 và 13,16-17); luật bác ái được giải thích qua dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu (10,25-37; mà phần đầu được xếp nơi Mt 22,34-40 và Mc 12,28-31); câu chuyện Matta và Maria chúng ta đang học đây (10,38-42); sau cùng, là một tuyển tập về các yếu tố liên quan đến việc cầu nguyện (11,1-13, tương ứng với hai đoạn song song ở Mt 6,9-13 và 7,7-11).

Nằm giữa toàn bộ các bài học tu đức căn bản đó, vị trí câu chuyện Matta và Maria gợi cho chúng ta biết Lc nhìn thấy nơi câu chuyện này một bài học quan trọng bậc nhất cho các môn đệ (một vài tác giả giả thiết cho rằng Lc đặt câu chuyện ở đây là để chuẩn bị cho giáo huấn của Chúa Giêsu về sự cầu nguyên). Nhưng nếu thế, sao ông còn viết câu nhập đề ở 11,1 làm gì? và nhất là câu chuyện Matta và Maria không nói đến việc cầu nguyện.

b/ Để làm sáng tỏ ý nghĩa bài học, ta phải đi từ bản văn: trước tiên hãy nghiên cứu loại văn và cách xây dựng câu chuyện. Dù 5 câu này làm nên một câu chuyện, Lc cũng không bận tâm như một sử gia hiện đại: ông không nói rõ nơi chốn, ngày tháng của biến cố. Ông tỏ ra vô tư như Mt và Mc trong khi trình bày hoàn cảnh của câu chuyện: suốt cuộc hành trình của Chúa Giêsu, ông không cung cấp một niên hiệu nào, ông chỉ kể tên Giericô (18,35 như Mt 20,29 và Mc 10,46) và Giêrusalem (11 lần) vì thành này là đích điểm của cuộc hành trình và là nơi hoàn tất mầu nhiệm con người Chúa Giêsu. Lc chỉ lưu tâm đến hành động và giáo huấn của Chúa Giêsu, nên không mấy bận tâm về thời gian.

Điều đáng ngạc nhiên là ông ghi lại tên của Matta và Maria. Đây là sự kiện hiếm có nơi ông, vì cũng như Mt và Mc, ông không nói đến tên những người đối thoại với Chúa Giêsu, ngoài 12 tông đồ ra (trừ Giakeu ở 19,2 và Cléopas ở 2,18) cũng không kể tên những người được ơn lạ (ông kể tên Giairo ở 8,40 như Mc 5,22 nhưng không nói đến Bartimée ở 18,35, khác với Mc 40,46). việc đề cập đến tên của hai chị em gợi yđ cho biết là Lc quan tâm đến họ ít nhiều. Sự đề cập này rất ăn khớp với mối quan tâm của Lc muốn làm nổi bật vai trò các người đàn bà trong cuộc sống của Chúa Giêsu và của giáo hội sơ khai.

Nhìn tổng quát, thì câu chuyện muốn kể lại cách Matta và Maria tiếp đón Chúa. Lời cuối của Thày, đối chiếu hai thái độ của họ làm nên cái “móc” của câu chuyện, là kết luận và là bài học mà Lc dạy độc giả.

c/ Tất cả các đặc điểm của một câu chuyện cũng nhắm chuẩn bị cho kết luận này, trước hết là hình ảnh của hai chị em. Maria “ngồi dưới chân Chúa” (c.39). Khi tặng cho Chúa Giêsu tước hiệu “Chúa” trong phúc âm của mình, Lc muốn làm nổi bật uy thế của Chúa Giêsu, thái độ của Maria đúng là thái độ của các môn đệ đứng trước thày mình (8,35; Cvsđ 22,3; Lc 7,38; 8,41; 17,16); bà lắng nghe lời chúa: đối với Lc đó là bổn phận đầu tiên của người môn đệ đích thật (6,47; 8,13; 15,21; 11,21). Ngược lại, Matta lăng xăng lo tiếp đón: là chủ nhà (c.38) bà nhất quyết lo bảo toàn cho Chúa Giêsu được phục dịch tối đa mà người nghèo nhất của xứ Palestine cũng phải lo cho khách trọ của họ (c.40). Trước bao việc phải làm đó, Matta lo lắng và bối rối nhiều (c.41). Lòng nhiệt thành này bày tỏ lòng kính trọng của bà đối với Chúa Giêsu (c.40), cũng như nguyện vọng muốpn dành cho Ngài một sự tiếp đón xứng đáng. Nhưng bà không hiểu được thái độ vô vi của em bà, không chịu góp phần vào công việc của bà: bà muốn lôi em mình ra khỏi thái độ lắng nghe Chúa Giêsu, để buộc em chuẩn bị nhà cửa và bữa ăn. Bà quá chắc chắn về phán đoán của mình đến nỗi với một thái độ trách móc, bà mời Chúa Giêsu cũng chia sẻ quan điểm: “Lạy Chúa, em con để con phục dịch một mình mà Chúa không để ý gì sao? Vậy xin Chúa bảo nó giúp con với” (c.40). Như thế, hai chị em xuất hiện như hai môn đệ vội vã đón tiếp thày mình, nhưng Maria chỉ lo nghe lời Thày, còn Matta lo dành cho Thày một sự tiếp đãi nồng hậu.

Câu trả lời của Chúa Giêsu là một lời phê phán về thái độ của Matta và Maria (41-42); Và Lc, khi gọi Ngài là “Chúa”, có ý làm nổi bật uy thế của Lời Ngài. Lời phê phán Matta đặt thành một vấn nạn cổ điển cho việc phân tích bản văn. Phần đầu ("con lo lắng xôn xao về nhiều chuyện") có trong tất cả các thủ bản Hy lạp; nhưng trong nhiều thủ bản Latin và Syriaque thì không có. Phần hai (c.42a) cũng không có trong bản dịch, cách chung người ta nhất trí cho rằng hai phần bị bỏ sót này, làm cho bản văn nặng nề cứng nhắc và mất đi nét tương phản giữa hai chị em là do việc tu sửa bản văn và yếu tố lưu truyền. Trong các bản văn chép tay (Hylạp), phần thứ hai này mang nhiều dạng thức khác biệt trong nhiều bản văn. Có hai dạng thức ngắn: “Chỉ cần ít điều thôi” (nơi một số bản văn) và “chỉ cần một điều thôi” (nơi đa số, mà phần đông là có giá trị). Người ta cũng gặp thấy một công thức dài hơn gồm tóm hai dạng thức trên: “chỉ cần ít điều, hay chỉ một điều thôi” - Dạng thức dài này được xác nhận do nhiều chứng nhân ưu tú, nhất là các người Alexandrie - dạng thức này được nhiều nhà phê bình xuất bản TƯ cũng như nhiều nhà chú giải nổi tiếng chấp thuận (đó là dạng thức mà BJ giữ lại). Ngược lại lời phê phán này, người ta có thể ủng hộ cho dạng thức ngắn thứ hai ("chỉ cần một điều thôi") được đa số chấp nhận cũng cần phải thêm rằng dạng thức này làm nổi bật nét tương phản (nhiều - một thôi) và dạng thức dài hình như là do sự dung hòa hai dạng thức ngắn. Vì thế chúng ta sẽ chấp nhận với các nhà chú giải nổi tiếng (như Merk, Aland, Zahn, Loisy, Schlatter, Schmid, Ellis...)rằng nguyên bản của phúc âm là:”Chỉ cần một điều thôi”.

Khi quở trách Matta lo lắng xôn xao “nhiều chuyện”, Chúa Giêsu lấy lại một đề tài đã được trình bày nhiều lần trong các lời giảng huấn của Ngài về sự lo lắng: khi kêu mời các vị truyền giáo chớ lo bênh vực mình trước tòa án của những người bắt bớ (12,11; Mt 10,19), môn đệ đừng quá lo lắng về thức ăn áo mặc (12,22-26; Mt 6,25-34). Khi đề cao cảnh giác tín đồ chống lại những mối lo âu của cuộc sống làm chết ngạt hạt giống Lời Chúa (8,14; Mt 13,22; Mc 4,19) và lòng trí nặng nề (21,34). Trong mỗi đoạn, sự lo lắng bị lên án vì làm người tín hữu quên mất điều chính yếu: là tuyên xưng đức tin vào Con Người, trong Lc 12,7-9 (Mt0,31-33, tìm kiếm Nước Thiên Chúa trong Lc 12,31 (Mt,33); đón nhận Lời, trong Lc 8,11-15 (Mt 13,18-23; Mc 4,13-20), trông đợi ngày của Con Người, trong Lc 21,34-36. Trong trường hợp của Matta, sự lo lắng bị lên án vì làm quên điều “cần thiết độc nhất”.

“Nhiều điều” mà Matta lo lắng, theo văn mạch là săn sóc tiếp khách, phục dịch vật chất cho Chúa Giêsu. Còn “điều cần thiết độc nhất” được minh định bởi thái độ của Maria là bỏ tất cả để nghe lời Chúa Giêsu, tượng trưng qua hai chị em: bà thì lo những việc vật chất để tiếp đón, bà kia lo lắng nghe lời Chúa. Chúa Giêsu nhận sự tiếp đón của Matta với lòng biết ơn, như Ngài nhận sự tiếp đón của các người biệt phái (7,36tt; 11,37; 14,1) hoặc xin Giakêu tiếp đón mình (19,5); Ngài còn coi việc nhận sự tiếp đón như một luật cho các kẻ được sai đi (9,4; 10,5-9); nên Ngài không thể lên án Matta vì sự tiếp đón nồng hậu của bà.

Nhưng với Chúa Giêsu, có một nấc thang giá trị; Ngài kết thúc câu chuyện bằng một lời ngợi khen và một lời hứa cho Maria: “cô đã chọn phần tốt nhất sẽ không bị ai giật mất”. Vì tiếng Hy lạp meris có nghĩa là “phần” được dùng nhiều lần trong bản LXX để chỉ một phần ăn trong bữa tiệc (Stk 43,34; 1S 1,4-5; 9,23; Ne 8,10.12; Est 9,19.22), nên người ta đã thấy ở đây một sự ám chỉ đến bữa ăn mà Matta lăng xăng chuẩn bị; nhưng ý nghĩa này không hợp chút nào với hoàn cảnh, nếu không nói là đảo ngược lại. Phần Maria đã chọn là lắng nghe lời Chúa; và tiếng meris ở đây có nghĩa thường thấy trong sách thánh kinh Hy lạp: “số phận”, “phần gia nghiệp” (Giop 20,29; 27,13; Hđ 2,10; 3,22; 5,17; 9,9; Km 2,9; Si 14,9; Is 17,14; 57,5; Giêr 13,25...). kiểu nói của Chúa Giêsu ở đây gợi lại lời xác quyết của nhà thánh vịnh: “Lạy Chúa phần con, con đã nói, là tuân giữ lời Chúa” (Tv 119,57). Thày Giêsu kết thúc bằng cách hứa với Maria là sự chọn lựa của bà sẽ không bị thất vọng: ai ưa thích Lời Chúa, sẽ không bao giờ bị tước đoạt. Đó chính là bài học của câu chuyện: người môn đệ phải lắng nghe lời thày; Lời đó không bao giờ thiếu cho họ.

d/ Có nhiều nét đặc điểm xác nhận tầm quan trọng mà Lc gán cho bài học này, trước hết là địa vị mà ông dành cho việc nghe lời Chúa trong toàn bộ tác phẩm của ông. Mt và Mc trình bày cùng một tư tưởng ấy trong lời giải thích dụ ngôn hạt giống (Mt 13,19-23; Mc 4,14-20; Lc 8,11.15; Mt 7,14-26), nhưng Lc là người duy nhất xác định rõ việc tiếp đón lời Chúa Giêsu như là lắng nghe Lời của Thiên Chúa vậy (5,1; 8,11.21; 11,28); và sách Cvsđ của ông cũng hoàn toàn qui hướng về lời ấy ("lời” 10lần; “lời Thiên Chúa” ít nhất 10 lần; “lời của Chúa” ít nhất là 7 lần...). Đối với thánh sử đã từng chia sẻ sứ mạng của Phaolô, việc nghe lời Chúa là điều cần thiết độc nhất.

Câu chuyện thiết lập 7 phó tế trong Cvsđ 6,1-6 đặt ra nhiều vấn đề lịch sử tế nhị: những người Hy hóa (Hellenistes) là ai? Thực ra nhiệm vụ nguyên thủy của 7 vị đó là nhiệm vụ gì?...Nhưng dù sao thì tư tưởng của Lc đã quá rõ ràng và nhắc lại cho ta câu chuyện Matta và Maria. Vì trước những lời than phiền của người “Hy hóa”, nhóm 12 tự thấy họ phải chọn lựa giữa việc rao giảng Lời của Thiên Chúa và việc phục vụ bàn ăn. Bấy giờ họ quyết định việc uỷ thác việc phục dịch này cho 7 người có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan. Còn họ chỉ chuyên tâm lo cầu nguyện và phục vụ Lời. Câu chuyện Matta và Maria xác nhận ưu thế của việc lắng nghe lời hơn việc phục vụ tiếp khách; câu chuyện trong Cvsđ cũng đặt việc phục vụ rao giảng việc phục vụ bàn ăn. Nhưng cả hai việc phục vụ này, đều được nhìn nhận và trong cả hai trường hợp, Lời được lắng nghe hay được rao giảng xuất hiện như giá trị tối cao. Rất có thể là Lc đã cảm thấy và muốn có một liên hệ giữa hai câu chuyện mà chỉ mình ông ghi lại.

e/ Sau khi đã nghiên cứu xong bản văn của Lc, chúng ta có thể rút tỉa một vài kết luận:

- Lc cố gắng trình bày một qui luật sống cho các môn đệ. Tính cách vô tư không quan tâm đến các dữ kiện “lịch sử” của câu chuyện nhất là về ngày tháng và nơi chốn, cũng như tính cách long trọng mà ông mặc cho Lời Chúa Giêsu ở phần cuối đã chứng minh điều đó.

- Qui luật này là phải dành ưu tiên tuyệt đối cho việc lắng nghe Lời Chúa trong đức tin. Điểm này nổi bật qua thái độ nghịch giữa hai chị em, qua lời khen ngợi bà Maria, qua tầm quan trọng dành cho Lời trong suốt tác phẩm của Lc.

- Matta không phải bị khiển trách vì thái độ hiếu khách là tiếp đón trong đức tin và đức mến và sẽ là một điều kiện thuận lợi cho việc rao giảng Tin mừng; nhưng vì đã quá băn khoăn lo lắng đến vật chất khiến bà quên mất điều cần thiết duy nhất.

Nếu so sánh các kết luận này với giải thích của các nhà chú giải xưa kể trên, ta thấy các kết luận này không khác mấy với bài chú giải của thánh Ambrôsiô. Cũng không đối nghịch với tư tưởng của Origène, khi ông nghĩ: hành động không được tách rời với chiêm niệm (nhưng phải mặc cho nó môt ý nghĩa đặc biệt Kitô giáo là thông hiểu trong đức tin để phục vụ Nước Chúa; chớ không giản lược nó vào cách suy gẫm thuần túy kiểu nhà tu). Kiểu ám dụ của Augustinô và nghĩa thực tiễn của Cyrille dĩ nhiên là đi quá xa tư tưởng của Lc; nhưng đó chỉ là những áp dụng cụ thể vào hoàn cảnh, nên thật là sai lầm và bất công khi cho đó là toàn bộ quan điểm của hai ngài; vì thật ra hai Ngài cũng nhấn mạnh nhiều đến việc tiếp đón lời Chúa.

KẾT LUẬN

Sau khi đã cố gắng theo dõi ý nghĩa mà truyền thống Kitô giáo đã gán cho câu chuyện Matta và Maria, ta không thể tự hào là đã giải quyết hết mọi vấn đề mà bản văn sâu sắc này đặt ra. Ít ra là suốt dòng lịch sử của khoa chú giải, câu chuyện hai chị em mời gọi các tín hữu suy nghĩ về cách tiếp đón Chúa Giêsu: một sự tiếp đón được diễn tả cho mọi lứa tuổi bằng việc tiếp đón đại lượng, nhưng chỉ thỏa mãn cho việc Chúa đến khi sự tiếp đón ấy hướng về Lời Ngài và sau cùng về mầu nhiệm của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Hai chị em Matta và Maria đón tiếp Chúa Giêsu, nhưng mỗi người một cách Matta rối rít chuẩn bị bữa ăn, nhưng quá băn khoăn nên không thể chú ý tới Chúa Giêsu mà bà tiếp đón. Cách tiếp đãi của bà được Chúa Giêsu ưa thích, tuy vậy Chúa Giêsu thích thái độ của Maria hơn. Bà này tiếp đón Chúa bằng cách ngồi dưới chân Chúa Giêsu trong tư thế của người môn đệ đứng trước Thày mình; bà lắng nghe lời Ngài. Việc lắng nghe đó, được nhắc tới ở đây mà không được khai triển chút nào, giả thiết phải có một thái độ chú ý và sẵn sàng hoàn toàn đối với con người của Chúa đang nói: Maria học sống nơi Ngài. Nhanh hơn thiếu phụ xứ Samaria (Gio 4,10), bà nhận ra “hồng ân của Thiên Chúa” nơi người lữ khách qua đường và thông hiệp với Ngài. Đối với chúng ta cũng thế, đón tiếp ai đó: Chúa Giêsu hoặc người Chúa sai tới (Mt 10,40), là trước tiên để cho họ nói, là lãnh nhận nơi họ tất cả những gì họ ban cho chúng ta.

2. Matta vất vả nhiều, bà thấy bà có công trạng. Và muốn người ta chú ý tới bà nhiều hơn, để ca tụng, thương xót và giúp đỡ: “Lạy Chúa, em con để con phục dịch một mình mà Chúa không quan tâm sao? Xin Chúa nói nó giúp con” (c.40). Một cách tài tình, Matta muốn Chúa Giêsu và em bà lệ thuộc vào sự tận tâm của bà. Lạy Chúa, Chúa không thấy, Chúa không thích những gì con làm cho Chúa sao? Lẽ ra Chúa nên tỏ ra biết ơn những lao nhọc của con, đừng để con làm việc một mình chớ! Dù sao cũng là việc phục vụ Chúa mà? Cái phản ứng tự nhiên của Matta thường cũng là phản ứng của chúng ta. Chúng ta tìm cách làm tăng giá trị của mình trước mặt người khác bằng cách trưng bày những hoạt động của chúng ta. Như người biệt phái, chúng ta treo bảng công chính của chúng ta trước mặt mọi người để họ chú ý. Chúng ta đòi hỏi được trọng đãi như là món nợ người khác phải trả cho chúng ta. Chúng ta muốn lãnh ngay “phần thưởng của chúng ta” mà đánh mất phần thưởng mà Cha trên trời dành cho chúng ta (Mt 6,1-3). Việc chúng ta phục vụ người khác vẫn còn là cách để thống trị họ, để khoe khoang so sánh chúng ta với họ, và còn để cho họ mang tâm trạng tội lỗi. Đối với Maria, Maria tự đặt mình đúng như cách người biệt phái đối với người thu thuế (Lc 18,8-14): “tất cả những gì mà bà làm cho Chúa Giêsu đều cố ý làm nổi bật ưu thế của bà trên người em và bó buộc bà này phải bắt chước “gương tốt” của mình. Nhiều lần chúng ta cũng làm như vậy, nhất là khi tưởng rằng mình ra sức làm việc cho Chúa và ao ước Ngài cho mình phải lẽ hơn một Maria nào đó. Có lẽ cũng có một chút ghen tương trong thái độ cư xử của chúng ta: chúng ta đòi hỏi người khác phục vụ Chúa Kitô theo cách chúng ta, dưới sự điều khiển của chúng ta; chúng ta không chịu cho người khác làm cho Chúa quên để ý đến chúng ta hoặc được Chúa tiếp xúc thân mật. Một cách tự nhiên, chúng ta đem Chúa Giêsu về với chúng ta. Chúng ta sợ mất ân huệ của Ngài, mất tình thương riêng của Ngài nếu người khác cũng đến được với Ngài.

3. Chúa Giêsu kêu mời Matta và mỗi người chúng ta đang mang tâm trạng như là: “Chỉ một điều cần thôi": hãy cởi bỏ những băn khoăn lo lắng và cao vọng cho mình xứng đáng được hưởng thứ ân huệ của Ta, bắt Ta lệ thuộc vào việc thiện của con, con hãy đến trình diện Ta với đôi tay trống rỗng. Rồi “hãy chọn phần tốt hơn": là lời Ta mà con đang đói.

4. “Phần tốt hơn” mà Maria được hưởng “sẽ không bị lấy mất”. Không phải vì bà có công trạng hay là thái độ “chiêm niệm” của bà trội hơn “hoạt động” của bà chị, theo như một vài trường phái tu đức giải thích; nhưng bà đã quay về với Lời của Chúa Giêsu, với sự hiện diện đầy ân sủng của Chúa.

 

70. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

MATTA VÀ MARIA

Trình thuật đưa độc giả vào đề tài tình yêu Chúa cũng nhắc đến đoạn Chúa Giêsu đi đường và xin chỗ trú ngụ. Bà chủ nhà và người con gợi nhớ tới, đối với ai biết Tin Mừng thứ tư, hai người chị của Ladarô ở Bêtania (Ga 11;12,1-8). Nhưng trong trình thuật của Luca còn ghi lại là những người xa lạ mà theo lôgich1 thì ngược lại là những người kia ở mãi Giêrusalem. Maria không có gì để đồng hoá được với Maria Magđala cả (8,2; 24,10).

Sự tương phản giữa hai chị em trước hết là ở việc được trình bày Maria như một đệ tử hoàn hảo, ngồi dưới chân Thầy để đón nhận giáo huấn Ngài. Ngồi là tư thế cổ điển (x.8,35; Cv 22,3); truyền thống lại đã chẳng nói: Ước gì nhà con là nhà hội họp cho các hiền nhân, hãy níu lấy bụi đất ở chân họ và uống lấy lời của họ cho đã khát! (Misnha, Abot 1,4). Có điều không ổn ở đây nói tới một phụ nữ! Khi một Kinh sư nổi tiếng ở cuối thế kỷ thứ nhất dám nói: “Dạy cho con gái mình luật thì như dạy nó sống truỵ lạc” (Misnha, Sota 3,4), thì Chúa Giêsu lại khuyến khích một phụ nữ theo giáo huấn của mình. Thái độ của cô chủ nhà thì khỏi cần khách sáo: cô tất bật lo việc phục vụ –điều đó rất phù hợp với vai trò các phụ nữ- môn đệ ở 8,3. Nhất là cô muốn người em cũng phải phục vụ như cô: cô còn xác tín rằng Chúa không thể nào không đồng ý với cách thẩm định giá trị của riêng cô (c.40).

Ngoài tiếng gọi “Chúa!” –tước hiệu “Chúa” ở đây được Luca dùng hai lần. Như lời tuyên tín của cộng đoàn Kitô hữu đối với Đấng Phục Sinh (x. Cv 2,36), chính Chúa ở đây cần can thiệp trong Giáo Hội Người, bởi vấn đề được nêu lên luôn luôn có tính cách thời sự. Ở Cv 6,2-4, ta sẽ gặp được một đối nghịch tương tự giữa phục vụ Lời Chúa và phục vụ bàn ăn. Ngoài chuyện nêu lên việc phục vụ bàn ăn; vấn đề là nhìn nhận có một tầm mức quan trọng khác nhau giữa hai việc: Chúa trách cô chủ nhà về sự băn khoăn lo lắng của cô là điều trái ngược với tâm trạng của người tín hữu đích thực (12,25-26) và, khi cô cho việc phục vụ bàn ăn là ưu tiên, Ngài bênh vực cô Maria đã đặt việc nghe lời Ngài lên trước mọi quan tâm khác. Như thế, làm môn đệ Chúa Giêsu, chính là chọn điều cần duy nhất. Thực ra, đó không phải chính là yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực… sao? Khi trình bày câu chuyện như ông đã làm từ câu 25, đó chính là điều mà Luca muốn gợi lên cho độc giả của mình.

Có cần xác định thêm là một phụ nữ có thể là môn đệ đúng hệt với danh nghĩa ấy như một nam nhân và không bị giới hạn vào việc phục vụ bàn ăn chăng? Chắc chắn rồi… Khẳng định theo đó “phần tốt này sẽ không bị lấy đi” lại không chói tai đối với nhiều Kitô hữu là những người, như Matta, lấy làm khó chịu khi phải chấp nhận để một người phụ nữ nghe Lời và phục vụ Lời sao?.

 

71. Chú giải của Noel Quesson

Trong khi thầy trò đi đường, Đức Giêsu vào làng kia.

Chúng ta chớ quên đang cùng với Đức Giêsu trên “con đường” nào.

Vẫn luôn luôn là chính lộ lên Giêrusalem mà Luca dành nhiều chươg để thuật lại. Không dưới mười chương dài (Lc 9,51 đến 19,28). Như chúng ta đã thấy trong Chúa nhật thứ mườl ba thường niên, ngay sau khi Đức Giêsu được thật sự nhận biết là Đấng Mêsia, Người quyết tâm lên đường đến Giêrusalem (Lc 9,51). Kế đó, trong Chúa nhật thứ mười bốn, chúng ta chứng kiến sứ vụ của bảy mươi hai môn đệ (Lc 1ọ,l-20). Chúa nhật vừa qua, chúng ta đã ở trên con đường đến Giêrikhô, cách Giêrusalem ba mươi kilômét để lắng nghe dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc 10,25-37). Hôm nay chúng ta dừng lại trong một ngôi làng không được nêu tên, nhưng đó là làng Bêtania, cách trung tâm thủ đô ba kilômét. Dọc đường, Luca cho chúng ta thấy Đức Giêsu nói chuyện với các bạn hữu của Người rất lâu, có lẽ để chuẩn bị họ vào thời điểm mà Người sẽ chỉ còn ở với họ không bao lâu nữa. Điều này nói lên sự quan trọng của các tình huống và lời nói cắm mốc trên con đường lên Giêrusalem đó.

Chúng ta sắp tham dự vào một cảnh thể hiện lòng, hiếu khách đầy sự dịu dàng.

Chúng ta còn nhớ Người ta không muốn tiếp đón Người, trong một ngôi làng ở Samari. Hôm nay, Đức Giêsu tìm được một gia đình hiếu khách. Chúng ta vui mừng vì biết rằng không phải lúc nào Đức Giêsu cũng bị xua đuổi, không phải lúc nào Người cũng đi lang thang không nới trú ẩn... và có lúc Người cũng dừng lại ở nhà các bạn hữu Người để nghỉ ngơi, để ngồi nói chuyện... để sử dụng thời gian... và thời gian của tình bằng hữu không phải là thời gian đánh mất!

Ở đầu dốc, bên cạnh con đường đầy bụi có ngôi nhà mà Người quen biết. Bên cạnh cửa sổ có đặt lưới sắt, một cây táo đầy hoa (bây giờ là mùa xuân và lễ Vượt qua gần đến) tỏa hương thơm ngát. Đức Giêsu gõ cửa. Cửa mở ra. “Chào! ôi, vui biết mấy, nào mời Thầy vào!”

Có một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên là Maria

Đó là hai chị em. Họ có một em trai là Ladarô.

Các sách Tin Mừng nói về họ ba lần, trong những cảnh ở đó tính khí của họ đã được điển hình hóa và giống nhau trong mỗi câu chuyện. Mácta, một người hoạt động. Maria, một người trầm lặng. Thánh Gioan trong một câu ngắn ngủi đã kể lại: “Đức Giêsu quý mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô” (Ga 11,5). Và trong dịp gia đình họ có đám tang, Gioan- thuật lại cho chúng ta rằng Đức Giêsu đã khóc. Một lần khác, người ta thấy Mácta đang phục vụ một bữa ăn, còn cô Maria “cứ ngồi bên chân Chúa” (Ga 12,2-3). Như thế, Đức Giêsu đã có những người bạn gái Tuần lễ cuối cùng trước khi chết, chiều nào Người cũng trở về nhà họ (Mt 2 1,7 -26,2; Mc 11,11; Ga 11,1-18-12,1; Lc 19,29).

Vậy thì ít nhất đó là một nơi mà Đức Giêsu có thể đề cao sự dịu dàng của tình bằng hữu.

Trong sách Khải Huyền, Gioan sẽ sử dụng hình ảnh ấy để nói về đời sống của Người Kitô hữu: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà Người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20).

Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ.

Ôi! Một bức tranh thánh kỳ diệu! Phải ở yên thật lâu trong sự im lặng để nhìn ngắm cảnh tượng ấy, hình ảnh ấy. Ví dụ như, hãy thử tưởng tướng mình có mặt trong phòng tiệc ấy. Hãy thử hình dung lại các động tác, cử chỉ, âm thanh, mùi vị, màu sắc, những lúc im lặng, những khuôn mặt và những tấm lòng.

Đức Giêsu nói chuyện với cô Maria ngồi bên chân Chúa... cô lắng nghe. Hai người cùng nhau nói điều gì? Giọng nói của Người như thế nào? Người kể lại cho cô dụ ngôn người Samari tốt lành chăng? Người giải thích lại các mối phúc thật cho cô chăng? Người là Đức Giêsu đã không mệt mỏi nói với cô Người quan niệm thế nào về các suối nguồn của hạnh phúc thật? Bản thân tôi, tôi thích nghĩ rằng Đức Giêsu nói nhỏ với Maria những lời tâm sự về cái chết và sự sống lại của Người.

Người lên Giêrusalem là vì việc đó! Nó chiếm trọn tâm hồn Người. Đã nhiều lần, Người thử chia sẻ sự lo lắng của Người với các môn đệ nhưng xem ra họ không hiểu. Với Maria, cô có hiểu không? Về câu chuyện tâm sự đó, há chẳng có một sự đồng cảm mầu nhiệm và tuyệt vời của tình bạn cởi mở đó sao.” Dẫu sao, nhờ Máccô và Gioan, chúng ta biết rằng người phụ nữ trực cảm này đã hiểu rõ hơn những người khác mầu nhiệm cái chết, sự mai táng và sự sống lại của Đức Giêsu. Đức Giêsu sẽ trở lại Bêtania trong nhà cô những ngày trước lễ Vượt qua, và một cách dịu dàng, Maria sẽ thực hiện trước một cách ướp xác bằng dầu thơm cho Người.

Các phụ nữ sẽ không thể thực hiện việc ướp xác ấy khi họ muốn đến ngôi mộ “ngày đầu tiên trong tuần” để làm việc đó, bởi vì họ sẽ thấy ngôi mộ trống. Nhưng Maria đã làm việc đó rồi, với sự tinh tế tuyệt diệu của cô! Và Đức Giêsu sẽ hiểu điều đó: “Điều gì làm được thì cô ấy đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng (Mc 14,8). Cô ấy giữ lại dầu thơm này cho ngày mai táng Thầy; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”(Ga 12,7-8).

Cô tiến lại mà nói: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!”

Sự can thiệp này của Mácta làm nổi bật sự khác nhau hoàn toàn của hai chị em. Trước khi nghe câu trả lời của Đức Giêsu, chúng ta phải thán phục Mácta không nên đánh giá thấp cô chị. Ở đây không có sự đối lập giữa Mácta và Maria. Mácta thì hữu ích. Sự phục vụ của cô là cần thiết. Đức Giêsu cũng được tôn vinh vì đã đem trọn tình yêu “phục vụ” những người khác... “Nào những kẻ Cha Ta phúc phúc hãy đến. Vì xưa Ta đói, các người đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống” (Mt 25,34).

Lạy Chúa, con xin dâng cho Chúa những công việc nội trợ đa đoan rất khiêm hạ, đầy ắp yêu chuộng của vô số các phụ nữ trên toàn thế giới, trong mọi nền văn minh.

Chúa đáp

Chúng ta không thể không nhận thấy sự trang trọng khi Luca dùng danh xưng “Đức Chúa” ba lần. “Đức Chúa” chỉ Đức Kitô trong vinh quang sau Phục sinh. Điều đó chỉ cho chúng ta thấy rằng cảnh tượng không chỉ nhằm kể lại một giai thoại lịch sử dù rất thú vị mà một lần nữa, chúng ta đứng trước một “mạc khải”. Đấng sắp nói chính là Đức Chúa Vinh hiển. Người sắp nói một điều quan trọng và phải được chúng ta tiếp nhận “trong đức tin”. Vả lại, toàn bộ câu chuyện trên đây rất dung dị, nhưng lại dẫn đến lời tuyên bố sau đây:

Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!

Hẳn người ta có thể mong đợi Đức Giêsu kêu gọi Maria phải ngoan ngoãn như chị cô. Trong nhiều tình huống. Đức Giêsu đã yêu cầu chúng ta phải “phục vụ”, phải yêu thương. Rõ ràng, câu trả lời của Người đã được đặt vào một bình diện khác.

Đức Giêsu nhận thấy rằng Mácta lo lắng và “giao động” quá nhiều. Đây là một đề tài được Người ưa thích. Người đã nói rằng “những lo lắng về đời sống! có thể bóp nghẹt Lời Chúa đã được gieo vào lòng người (Lc 8, 14). Người sẽ yêu cầu các tông đồ không nên lo lắng về của ăn và của mặc (Lc 12,22-26). Người sẽ khuyến cáo các thừa sai chớ lo lắng phải biện hộ như thế nào khi họ bị kết tội trước các toà án (Lc 12,11). Người sẽ nói rằng chớ để “lòng mình ra nặng nề vì lo lắng sự đời” trong lúc chờ đợi Con Người lại đến” (Lc 21,34). Đức Giêsu nói: “Bạn ơi! Chớ quên điều chủ yếu!”

Đức Giêsu không lên án Mácta vì công việc của cô cũng như nhiệt tình tiếp đón tích cực... nhưng vì sự căng thẳng, sự giao động thái quá mà dường như cô đặt vào công việc.. Rõ ràng là một sự bực bội nào đó làm cho chúng ta co quắp lại với chính mình.

Chúng ta hãy tiếp nhận lời lời gọi của Chúa cho chúng ta biết phải chậm lại đôi chút. Lúc nào chúng ta cũng chạy, phi nước đại, cũng bận trăm công nghìn việc. Thời gian nghỉ hè lẽ ra phải trở thành thời gian để tìm lại sự, quân bình của chúng ta hơn để “sống” thay vì để chạy! Đức Giêsu nói: Bạn ơi! Ta nói lại với bạn điều này, bạn chớ quên điều chính yếu.

Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi

Vậy “chuyện cần thiết duy nhất” ấy là gì?

Đó là làm điều Maria đã làm “Ngồi bên chân Chúamà nghe lời Người dạy”. Khi khẳng định đó là điều cần thiết duy nhất của con người. Bằng một phương thế triệt để và mạnh mẽ, Đức Giêsu đã thực hiện một mạc khải. Vâng, Lời Chúa phải được ưu tiên hơn mọi lo lắng trần gian khác Đức Giêsu cũng đã đưa ra càng một yêu sách trong những dịp khác. “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” (Lc 4,4). “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34) Đức Giêsu nói: Bạn ơi! Bạn chớ quên điều chính yếu.

Vậy quả thật Đức Giêsu không đánh giá thấp sự “phục vụ” mà Mácta đem lại khi bận rộn với việc “nội trợ và bếp núc”. Nhưng để “đi theo Đức Giêsu” thì ngay cả những gì có giá trị nhân bản nhất cũng phải buông bỏ (Lc 5,11-18,22-9,61). Hãy lắng nghe Lời Chúa! Đó là bổn phận đầu tiên của con người, của Kitô hữu. Đức Giêsu nói đó là sự cần thiết duy nhất, tuyệt đối, triệt để. Và đây không phải là lần đầu tiên cũng không phải là lần cuối cùng mà Đức Giêsu khẳng định điều đó. Không lắng nghe Lời chính là xây dựng nhà mình trên cát (Lc 6,47-49). Lắng nghe Lời chính là trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc chân thật và duy nhất của Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu không phải vì Mẹ là Mẹ Người, mà vì Mẹ đã “'lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 1 1,27-28).

Vả lại khác với các Thánh sử khác, rõ ràng Luca đã đồng hóa lời của Đức Giêsu với “Lời của Thiên Chúa” (Lc 5,1-8-11-21-11,28).

Lòng chúng ta yêu thích lắng nghe Lời như thế nào? Có phải đó là “phần tốt nhất” hàng ngày của chúng ta? Chúng ta có những ưu tiên sao? Điều nào là điều chính yếu?

 

72. Matta và Maria--R. Gutzwiller

Ta chỉ có thể hiểu dễ dàng những lời Chúa nói với Matta khi đặt chúng vào trong mối tương quan mật thiết với chủ đề ‘lên đường’. ‘Lên đường’ không có nghĩa là dửng dưng với những cái thuộc về vật chất hay những lo toan trần thế.

Đây không có vấn đề đối nghịch giữa đời chiêm niệm và đời hoạt động, mà chính là giá trị và sự hài hoà đúng đắn giữa hai đời sống đó. Chúng ta không nên đắm mình vào chủ nghĩa duy hoạt mà hãy biết sử dụng những giây phút trầm tư thinh lặng, hoàn toàn kết hợp với Thiên Chúa -dĩ nhiên là không tìm kiếm, ước ao an nhàn thanh thản nhưng chính là kín múc ở đó một năng lực mới để phục vụ con người. Vì sống là ‘lữ hành’ là ‘đi’ nên con người phải dành cho đời mình những lúc ‘dừng chân đứng lại’, ‘nghỉ ngơi lại sức’ định lại hướng đi, dò lại bước đường đã qua để có thể vững bước tiếp tục cuộc hành trình và ra đi phấn khởi hơn.

Hoạt động phải được xen kẽ bằng chiêm niệm và chiêm niệm phải chứa chan cuộc sống và triển nở trong việc làm. Trong Tổng yếu giáo lý, Th. Tôma nhấn mạnh rằng việc giảng dạy và soi sáng những người khác thì quan trọng hơn là chỉ có sự hiểu biết thông suốt nội tâm thôi.

Dĩ nhiên chúng phải bắt nguồn nơi việc chiêm niệm nhưng thay vì khư khư giữ lấy cho mình, chúng ta phải thông truyền sự hiểu biết và thông suốt nội tâm ấy cho tha nhân. Chỉ có tác động hợp nhất với Thiên Chúa và sự hợp nhất với Ngài triển nở ra việc làm, mới cấu thành một mối toàn vẹn, sự trọn hảo tối cao….

Những lời Chúa nói với Matta, là một cảnh tỉnh chống lại thứ hoạt động ồn ào, giả tạo, quá khích tức là thứ hoạt động không hề hay biết đến dành cho những khoảnh khắc để cầu nguyện, hay ít là những lời nguyện tắt, không để ý gì đến tiếng Chúa mời gọi trong cái thinh lặng và dần dà để mình bị tha hoá, thác loạn.

Còn việc Chúa khen cô Maria không có nghĩa là Ngài bảo chúng ta phải chuyên tâm chiêm niệm mà thôi, để thấy rõ điều này, chúng ta hãy xem gương của Đức Giêsu; Như vậy, việc Ngài khen cô Maria chẳng qua là Ngài nói đến tinh thần sẵn sàng và tỉnh thức để sống trọn vẹn và tích cực cho Chúa, vào lúc mà Ngài muốn nói với tâm hồn ta một cách đặc biệt.

Lên đường có nghĩa là đi về với Chúa, tức là luôn hướng nhìn về Ngài và hằng lắng nghe Lời Ngài. Như thế không phải là dừng laị và nghỉ ngơi trong việc chiêm niệm, mà chính là để tiếp tục cuộc hành trình kết hợp với Chúa đích thực. ‘Chiêm niệm trong hành động’ hiệp nhất với Thiên Chúa trong công việc, phục vụ con người là dấu đích xác cho thấy việc phục vụ Thiên Chúa. Việc phục vụ ấy chỉ có thể có đối với những ai biết dành những khoảnh khắc cầu nguyện đặc biệt, thuộc trọn về Chúa để có thể hiến thân trọn vẹn phục vụ con người hơn. Đó là thái độ Đức Giêsu đã sống. Theo Chúa Kitô giả thiết một thái độ tương tự như thế.

 

73. Chú giải của Fiches Dominicales

TRÊN ĐƯỜNG LÊN GIÊRUSALEM, ĐỨC GIÊSU DỪNG CHÂN TẠI NHÀ CỦA MÁCTA VÀ MARIA.

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Dừng chân trên đường lên Giêrusalem

“Trên đường” lên Giêrusalem “cùng với các môn đệ”, Đức Giêsu vào một làng kia. Người được “một phụ nữ tên là Mácta” mời vào nhà, Người thực thi điều đã dạy các môn đệ: “Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” (Tin Mừng Chúa nhật XIV).

Trình thuật về câu chuyện này tiếp liền với Dụ ngôn người Samaria nhân hậu, mà ta vừa đọc trong Chúa nhật trước, tạo nên một kết cấu hai mặt, một bộ tranh gồm hai bức. Như vậy nếu có ai nêu bản văn Tin Mừng này như lý lẽ làm chứng rằng đời chiêm niệm cao trọng hơn đời hoạt động, thì mạch văn mà Luca sử đụng sẽ thuyết phục họ từ bỏ ý định đó. Nếu sự việc hôm nay soi tỏ giới răn yêu mến Thiên Chúa, thì tấm gương của người Samaria nhân hậu cũng soi tỏ tuyệt vời giới răn thương người thân cận. Nó tỏ cho thấy, người môn đệ lắng nghe Lời Chúa sẽ đi đến những kết luận thực hành nào.

2. Hai hình thức đón tiếp của Đức Giêsu bổ túc lẫn nhau.

Chân dung hai chị em Mácta và Maria mà Luca phác họa nêu bật hai thái độ, hai cách đón tiếp Đức Giêsu trái ngược nhau.

- Mácta có mặt khắp nơi trong trình thuật vắn vỏi này. Trước hết, cô có mặt bằng sáng kiến của mình, Mácta mời Chúa vào nhà mình. Rồi cô có mặt bằng sự tất bật lo việc phục vụ. Và sau cùng, cô có mặt bằng vẻ bối rối xin Chúa can thiệp.

- Còn về Maria, cô luôn im lặng. “Cô ngồi bên chân Chúa” trong tư thế một đồ đệ thực thụ (Lc 7,38 và 8,35) “cô lắng nghe lời Chúa dạy”.

Cấu trúc văn chương cũng rất gợi ý. Trong khi Maria hướng cái nhìn về Chúa (ngồi dưới chân, nghe lời Chúa) thì Mácta là người mời Chúa nên thực sự cô phải bận tâm đến việc phục vụ. Mácta tất bật lo lắng nhiều chuyện quá, đến độ muốn “lấy đi” phần tốt nhất mà cô em đã chọn.

3. Thái độ lăng xăng không được lấn lướt thái độ lắng nghe.

Trước phản ứng tức tối của Mácta: “Em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao?”, câu trả lời của Đức Giêsu là đỉnh cao của trình thuật này. Ở đây, khi trách Mácta lo lắng và lăng xăng, Đức Giêsu nhắc lại đề tài đã nói nhiều trong Tin Mừng thứ ba: Khi Người mời gọi các nhà truyền giáo không nên lo lắng biện hộ cho mình trước tòa án của kẻ bách hại (11, 12); khi Người khuyên nhủ các môn đệ đừng quá lo về của ăn, áo mặc (12,22-26); khi Người cảnh giác những kẻ theo Người đừng để những “lo lắng về cuộc sống” bóp nghẹt hạt giống Lời Chúa (8,14).

Tuy Đức Giêsu chấp nhận lòng hiếu khách của Mácta với lòng biết ơn, và đánh giá đúng mức những cố gắng cô thực hiện để tiếp khách cho tốt đẹp, nhưng dù sao Người cũng muốn cô khám phá một điều còn quan trọng hơn, một điều khẩn thiết bậc nhất và duy nhất, mà cô liều mình quên mất: đó là lắng nghe Lời Chúa. Và, vì đã bỏ tất cả để chỉ giữ “một chuyện cần thiết”, mà Maria, em cô, đã tỏ mình là một môn đệ gương mẫu hoàn hảo nhất.

R. Meynet chú giải thêm: Mácta tiếp đón Đức Giêsu vào nhà. Chúa vừa bước vào, thì cô đã bỏ người đó, để lo trăm nghìn chuyện. Vịn cớ phục vụ Người, cô tất bật, cô lo lắng mọi sự chỉ trừ Chúa ra. Việc phục vụ của cô lấn lướt cả vị khách của cô. Cô lăng xăng, lo lắng, sợ rằng mình không tiếp đãi đúng mức với vị khách quí. Về phần Maria, cô giữ một thái độ xứng hợp nhất, ngồi bên chân Đức Giêsu, trong tư thế của người môn đệ. Cô không làm gì, không nói gì, cô chỉ ngồi và nghe. Cô đã quên tất cả mọi sư, ngoài Chúa. Cô quên chính mình. Cô dành cả con mắt, lỗ tai để nhìn và nghe lời Người. Cô cũng đón tiếp Đức Giêsu hơn ai hết, với phong cách tốt nhất. Nhìn cô, người ta dám nói rằng: chính cô được Người tiếp đón mới đúng. (Sđd, tr.125).

Chúa nhật vừa qua, khi đọc Dụ ngôn người Samaria nhân hậu, ta học biết rằng con đường lên Giêrusalem, theo chân Đức Giêsu, phải đi qua tình yêu thương người thân cận, đó mới là giới luật vượt trội mọi giới luật. Hôm nay, ta học biết thêm rằng con đường này không thể tách rời con đường lắng nghe lời Thiên Chúa.

BÀI ĐỌC THÊM:

1. Lắng nghe lời Chúa: thái độ tất yếu của người môn đệ.

Tiếp nối câu chuyện về người Samaria nhân hậu, câu chuyện về Macta và Maria trong Tin Mừng được trình bày trong bối cảnh của giới luật yêu mến Thiên Chúa, và câu chuyện cho ta thấy người môn đệ đón nhận Lời Chúa sẽ rút ra những kết luận thực tiễn nào.

Đặt thái độ của Mácta và Maria đối chọi nhau và nghĩ rằng chỉ có một phía đúng, là quá vội vàng. Maria lắng nghe lời Chúa, còn Mácta tất bật lo phục vụ Chúa. Mỗi cô mỗi cách, họ đều muốn giữ chân Chúa nghỉ lại, trên đường lên Giêrusalem. Cô này bằng cách phục vụ, thì làm tất cả những gì có thể làm cho Người; cô kia bằng cách lắng nghe lời Chúa, thì cố gắng ghi nhớ lời Người, lời của Thiên Chúa.

Trong cuộc sống của người môn đệ. có lúc “tất bật”, và có lúc “lắng nghe”. Tuy nhiên, không thể có hoạt động tốt nếu không lắng nghe tốt. Maria đã thành công khi tạo cho mình thái độ không thể thiếu của một môn đệ: là ngồi dưới chân Đức Giêsu, cô quên mọi sự khác, để toàn tâm chú ý vào Chúa và lời Người... nhưng sau đó, có lẽ cô sẽ là một tông đồ hoạt động vì Thầy mình.

Hết mọi tín hữu đều phải chọn lắng nghe. Trước hết, chính vì có biết lắng nghe lời Chúa một cách sâu sắc các môn đệ mới có thể đổi mới thế giới.

2. Maria và người Samaria nhân hậu: hai thái độ cùng minh họa huấn lệnh kép về yêu mến Thiên Chúa và yêu người thân cận

Chính trong dụ ngôn người Samaria nhân hậu, ta thấy thái độ bổ xung cho thái độ của Maria. Một người gặp một nạn nhân bị thương nằm ở vệ đường. Ông săn sóc, đưa về quán trọ và xuất tiền túi để trả mọi chi phí. Người này thực thi giới luật thứ hai là “Ngươi hãy yêu người thân cận như chính mình “. Đây là dung mạo đẹp đẽ của người Kitô hữu mà Luca đặt đối diện với một dung mạo đẹp đẽ khác là Maria.

Thay vì đặt thái độ của người hao tốn sức lực để phục vụ anh em đối nghịch với thái độ của người ngồi dưới chân Đức Giêsu để nghe lời Người, hai trình thuật này bảo ra rằng Đức Giêsu phê chuẩn cả hai thái độ. Đúng là cả hai cùng minh họa Lề Luật. “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi... Ngươi phải yêu người thân cận”. Ta phải phân biệt hai giới luật này như hai lối sống được đề ra. Tuy nhiên, nếu phân biệt là điều cần thì không phải để tách biệt hoặc đối nghịch nhau. Hai giới luật này chỉ là một. Trong cuộc sống cụ thể của người tín hữu, nếu người ấy không nỗ lực nối kết hai giới răn ấy với nhau, thì đời sống của người ấy sẽ ra sao? Cầu nguyện ư, đúng, nhưng là để giúp đỡ và phục vụ. Đào sâu ý nghĩa của việc phục vụ trong lúc cầu nguyện. Giáo Hội sẽ ra sao, nếu Giáo Hội chỉ có chiêm niệm? Giáo Hội sẽ ra sao, nếu Giáo Hội chỉ gồm những tín hữu tự cho là “hoạt động?” Dĩ nhiên, là tùy theo tính khí và lịch sử của từng người, người này thì cảm thấy thích hợp hơn với đời sống nghiêng về chiêm niệm, người kia thích hợp hơn với đời sống hướng về hoạt động.

Tuy nhiên, dựa trên lời Đức Giêsu khen người Samaria nhân hậu, thì tất cả những ai tận hiến hoặc nghiêng về cầu nguyện, cần phải nhớ rằng phục vụ con người có tầm quan trọng rất lớn. Phần họ, họ cũng phải sống ơn gọi cầu nguyện của mình như là một việc phục vụ con người. Và người ta thấy có những đan viện mở cửa cơ sở, nhà thờ, cộng đoàn của mình để tiếp đón những người hoạt động ngoài xã hội đến bồi dưỡng trong cầu nguyện, tĩnh tâm và trong thinh lặng của chiêm niệm.

Nhưng dựa trên lời Đức Giêsu khen ngợi Maria, những ai sống ơn gọi được coi là hoạt động, phải coi đó như lời mời gọi họ tiên liệu một thời gian xả hơi trong thời biểu của mình, xóa đi trong nhật ký công việc một số trang, để có được một lúc đến ngồi dưới chân Đức Giêsu.

Đối với nhóm người này cũng như với nhóm người kia, việc tiên liệu những giờ phút bổ túc cho nhau như thế, sẽ cho phép họ nhận thức được rằng cuộc sống của họ không đơn thuần phó thác mặc cho sự tự phát của tính tình, nhưng cuộc sống phải được thực hiện như một lời đáp lại tiếng Chúa gọi.

 

74. Người khách muốn gì?--Lm FX. Vũ Phan Long

“Phần duy nhất cần thiết” của đời môn đệ Đức Giêsu là: lắng nghe giáo huấn của Người, và là để cho Người tiếp tục hướng dẫn.

1.- NGỮ CẢNH

Chúng ta vẫn đang ở trong chuyến đi lên Giêrusalem. Vì có lý để nghĩ rằng hai chị em Mácta và Maria chính là những nhân vật của Ga 11,1tt, tức ở Bêtania, gần Giêrusalem, chúng ta phải tự hỏi tại sao tác giả Luca lại đặt truyện này ở đây, vì đến lúc này truyện vẫn gần với Galilê hơn Giêrusalem. Hơn nữa, ngài lại bỏ tên Bêtania đi, mà chẳng lẽ ngài lại không biết? Như thế, hẳn ngài có ý gì đó khi đặt truyện này ở đây chứ không phải ở chỗ khác (chẳng hạn ở ch. 19 hoặc 20). Chúng ta xem truyện này liên hệ với các bản văn trước thế nào. Maria được mô tả như người “lắng nghe lời” Đức Giêsu. Đức Giêsu công bố rằng chính việc “lắng nghe lời” này sẽ không bị lấy mất. Trước đó, Đức Giêsu mới nói đến quan hệ sâu sắc, duy nhất, Người có với Chúa Cha (10,22). Quan hệ này được nói đến vì nó liên hệ đến các môn đệ Đức Giêsu: họ được chúc phúc bởi vì họ được Người mạc khải Chúa Cha cho; họ được nghe và thấy những điều Người biết về Chúa Cha. Như thế, các môn đệ có một đặc quyền lớn lao là được thấy và nghe những điều mà thậm chí các ngôn sứ và các vua chúa ước ao hết sức mà không được. Ở đây, tác giả Lc nhắc lại đặc quyền đó. Ngài mô tả Maria trong tư thế tốt đẹp nhất: lắng nghe lời dạy của Đức Giêsu. Khi lắng nghe Người, Maria nghe Người mạc khải về Chúa Cha. Chính vì thế, tác giả đã nhắc lại động từ “lắng nghe” (cc. 24.39) như để nối kết các ý tưởng của hai đoạn văn.

Sau đó, Lc trình bày cuộc đối thoại về “điều răn lớn” (10,25-37), với câu kết: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (c. 37). Mục đích của ngài khi bố trí truyện Mácta-Maria ở đây là để nêu bật tầm quan trọng tối hậu của giáo huấn của Đức Giêsu trong Lc 10,25-37: giáo huấn này là một mạc khải mà “các vua chúa và ngôn sứ” không được đón nhận.

Truyện Mácta-Maria cũng có thể được đặt ở đây để điều chỉnh một sự hiểu lầm có thể có đối với dụ ngôn Người Samari nhân hậu. Ông này đã “chạnh lòng thương” (esplanchnisthê): vậy, hành vi luân lý của chúng ta rất có thể được hướng dẫn bởi các tình cảm của con người! Lc muốn sửa lại: chính giáo huấn của Đức Giêsu mới điều hành hành vi luân lý.

2.- BỐ CỤC

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Khung cảnh và các nhân vật (10,38-40a);

2) Đối thoại giữa Mácta và Đức Giêsu (10,40b-42).

3.- VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

- một làng kia (38): Trong TM III, làng này không có tên (x. 9,56). Cứ theo bản văn, “làng” này còn gần Galilê hơn là Giêrusalem. Theo Ga 11,1; 12,1-3, ta biết rằng Mácta và Maria, hai chi của Ladarô, ở tại Bêtania, một làng gần Giêrusalem.

- Maria (39): Cô này cũng được xác định là em gái của Mácta trong Ga 11,1. Không được đồng hóa cô này với Maria Mácđala ở 8,2.

- ngồi bên chân Chúa (39): Đây là tư thế của người môn đệ đang lắng nghe (x. 8,35).

- Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi (42): dịch sát: “Chỉ cần một điều mà thôi”. Lời Đức Giêsu đáp lại yêu cầu của Mácta dường như lúc đầu nhằm trấn an cô, bằng cách bảo cô rằng cô chỉ cần dọn một món thôi. Nhưng khi nghe trọn câu nói của Đức Giêsu, ta mới hiểu ra rằng “một điều” không chỉ là “một món” mà còn có ý nghĩa khác. “Một điều” đây chính là “phần tốt nhất” (= lắng nghe lời Chúa). Và Đấng là thành phần của “phần tốt nhất” ấy bảo đảm là Maria sẽ không bị lấy mất.

4.- Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN

* Khung cảnh và các nhân vật (38-40a)

Chúng ta vẫn đang ở trong chuyến đi lên Giêrusalem. Đức Giêsu đã dừng lại tại một làng kia (hẳn là Bêtania?), để thăm gia đình những người bạn thân. Cô chủ Mácta đón Người vào và tất bật phục vụ. Còn cô em Maria thì cứ bình thản ngồi bên chân Đức Giêsu mà nghe Người giảng dạy. Theo truyền thống của các kinh sư, chỉ phái nam mới được ban cho những lời giảng dạy và những huấn thị; các phụ nữ bị loại ra bên ngoài. Nhưng Đức Giêsu nhìn nhận các phụ nữ có cùng một phẩm giá như phái nam, nên Người ngỏ lời cả với phụ nữ. Ở đây tác giả đã không ngần ngại mô tả một người nữ như là môn đệ ngồi bên chân Đức Giêsu. Thái độ của Đức Giêsu khiến chúng ta nhớ đến Cn 31,26.

* Đối thoại giữa Mácta và Đức Giêsu (40b-42)

Bấy giờ Mácta mới lên tiếng nhận định về Maria và về bản thân mình. Lời trách của cô có lý, vì hoàn cảnh quá rõ: một người khách quí vừa đến nhà. Phải làm mọi sự để đón tiếp người ấy cho chu đáo; thật ra còn cả đoàn môn đệ của Đức Giêsu nữa! Nhà chỉ có hai chị em; thế mà Maria cứ để cho chị phải xoay sở một mình. Mácta có lý khi yêu cầu em giúp mình.

Mácta có lý, nếu vấn đề là phải tiếp đãi người khách cho tươm tất. Nhưng nhận định của Đức Giêsu khiến chúng ta phải tự hỏi: vấn đề phải chăng là như thế? Người khách phải chăng chỉ muốn được tiếp đãi ân cần chu đáo? Đối với Người, điều gì quan trọng nhất? Những câu hỏi này, Mácta không hề đặt ra cho mình. Ngay từ đầu, hầu như là do thói quen, cô tưởng là mình biết tình thế cần cái gì. Không hề tự hỏi là người khách thật sự muốn gì, cô áp đặt cho người khách ấy điều cô nghĩ là hợp lý hơn, cần thiết hơn, vào lúc này. Chắc chắn Mácta có hảo ý. Nhưng cô không mấy quan tâm đến các sở thích và ý hướng của người khách. Đức Giêsu giúp cô hiểu rằng trước tiên Người không muốn được đón tiếp, nhưng muốn một điều quan trọng hơn nhiều.

Maria lắng nghe Ngài. Đây là điều duy nhất cần thiết và là điều luôn luôn đúng: lắng nghe Chúa. Đức Giêsu đến nhà Mácta và Maria trước hết không phải để được đón tiếp, nhưng là để được lắng nghe. Với tất cả thiện chí, Mácta đã sao nhãng ý muốn này của Đức Giêsu. Chỉ có Maria là đã gắn bó với điều Đức Giêsu muốn. Trước hết, Người muốn cống hiến, chứ không muốn đón nhận. Trước hết, Người không muốn có một sinh hoạt chuyên chăm cần cù, qua đó người ta chứng tỏ người ta luôn biết điều gì là đúng và điều gì phải làm; nhưng Người muốn người ta suy nghĩ và ở yên để lắng nghe, suy tư và để cho Đấng khác nói với mình điều thật sự quan trọng và điều thật sự mình phải làm.

+ Kết luận

Khi viết 10,38-42, tác giả Lc không hề muốn phân biệt giữa đời sống tu trì chiêm niệm và đời sống tu trì hoạt động, cũng không hề coi thường việc phục vụ người khác. Ngài chỉ muốn nhấn mạnh đến “phần duy nhất cần thiết” là: làm môn đệ Đức Giêsu, là lắng nghe giáo huấn của Người, để Người tiếp tục hướng dẫn.

Nhìn lại ngữ cảnh rộng, chúng ta có thể cho rằng Lc đặt bản văn 10,38-42 ở đây nhắm nêu bật giáo huấn của Đức Giêsu ở 10,25-37 (Điều răn lớn) như là đáng để mọi người lưu ý, như là thuộc về “điều duy nhất cần thiết”, và như mạc khải về Chúa Cha, Đấng mà không ai biết như Đức Giêsu, đồng thời để dạy rằng động lực của mọi hành vi luân lý Kitô hữu phải tuyệt đối là giáo huấn của Đức Giêsu.

5.- GỢI Ý SUY NIỆM

1. Đối với Mácta, tiếp khách là chuyện quan trọng nhất. Thường thường chúng ta gặp nguy cơ bị thu hút bởi mối bận tâm đối với các nhu cầu vật chất, đối với đồ ăn thức uống, chuyện ăn mặc, nhà cửa trú ngụ, những tiện nghi, và chúng ta dùng hết năng lực và thì giờ cho những chuyện ấy. Dĩ nhiên, cần phải quan tâm đến những điều ấy. Nhưng cũng phải thấy rằng chỉ lo chừng ấy chuyện thì chưa đủ. Phải có một bậc thang các giá trị để đi theo.

2. Các Kitô hữu cần thường xuyên xét lại hệ thống các xác tín và các thói quen của mình để sẵn sàng điều chỉnh. Người tín hữu cần được thanh thoát, không bị ràng buộc bởi những thói quen cá nhân, khuynh hướng hưởng thụ, mức sống. Không phải chỉ đơn giản chấp nhận những gì môi trường chung quanh coi là thông thường, cần thiết và đúng đắn, là đã đủ. Người Kitô hữu còn cần phải suy nghĩ về những gì là thật sự cần thiết và đúng đắn. Đức Giêsu đặt việc lắng nghe lời Người vào chỗ nhất. Như thế, Kitô hữu chúng ta cần có một thời gian yên tĩnh và suy tư để cầu nguyện. Chúng ta cần phải thường xuyên lắng nghe Đức Giêsu và để Người chỉ đường. Khi đó, chúng ta không được tránh né cố gắng và thậm chí đau khổ để có thể tái định hướng và thay đổi.

3. Trong đời sống chung (cộng đoàn tu trì, gia đình, giáo xứ…), cần biết thường xuyên đặt câu hỏi: “Những người khác đang muốn gì? Họ đang cần gì, ngoài những của cải vật chất?”. Khi đó, hẳn là ta sẽ thấy rằng những người ấy đang đặc biệt cần được chúng ta quan tâm và cần có thì giờ của chúng ta. Các em bé không chỉ cần được ăn cái gì mà thôi. Các cha mẹ phải có giờ cho chúng, để chơi với chúng, để trả lời những câu hỏi của chúng, để giúp chúng kể những kinh nghiệm của chúng. Những người già cũng muốn xin chúng ta có thì giờ cho họ, muốn chúng ta lắng nghe họ, chúng ta hiệp thông vào các suy tư, các mối bận tâm, và cả những kỷ niệm của họ. Những người thợ trong một hãng xưởng không chỉ cần một đồng lương hậu hĩ; họ cũng cần được quan tâm và nhìn nhận, cần một lời khen và một lời nói nhân ái. Giúp đỡ về vật chất mà thôi thì chưa thỏa mãn được nhu cầu số m