Trang giáo dân tháng 04/2012: niềm vui Phục Sinh - Giêsu trong tôi - Giáo lý viên & tin mừng Phục Sinh - dấu chứng Phục Sinh
GIÁO DÂN
NIỀM VUI PHỤC SINH
Đức-An.
Tiếng hát vang lên bài Alleluia khiến tầng trời tinh tú xôn xao, trần thế bao con tim rộn rã. Không vui sao được, khi sự Phục Sinh của Đức Giêsu đã giải thoát cho con người khỏi xiềng xích của quỷ dữ và tội lỗi, và móng vuốt của tử thần. Với quyền năng của Thiên Chúa, Đức Kitô đã toàn thắng sự chết. Ngài đã khải hoàn trong vinh quang. Tuy nhiên, những sự việc xảy ra đó không phải cho Chúa, mà cho con người.
Ngược dòng lịch sử, nếu chúng ta được chứng kiến cuộc Tử Nạn và sự Phục Sinh của Đức Kitô, chúng ta mới cảm nhận được tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Thế mà, con người vẫn vô tình. Đôi khi còn nghĩ rằng: Thiên Chúa cần ta, chứ ta không cần Ngài. Thật quá ngạo mạn! Chính vì thế, đã bao lần Thiên Chúa muốn hủy diệt loài người, nhưng vì thương không nỡ. Sau cùng, để thể hiện tình thương đó, Thiên Chúa đã sai người Con Độc Nhất xuống thế mặc xác phàm của con người, rao giảng Tin Mừng để chứng minh tình thương của Thiên Chúa. Nhưng con người vẫn ngoan cố không chịu nhận, ngược lại còn tìm bắt Con Thiên Chúa là Đức Giêsu để giết.
Bởi thế, Đức Giêsu đã phải chịu một cái chết ô nhục sau khi bị những trận đòn dã man, rồi bị đóng đinh trên Thập Giá như một người trọng tội. Một cái chết đau thương, tủi nhục, mà trong lịch sử loài người chưa từng thấy. Dù thế, Đức Giêsu không kêu ca và chống đối một lời. Ngài luôn vâng theo Thánh Ý Chúa Cha để chu toàn chương trình Cứu Thế.
Đức Giêsu đã chết để phục hồi sự sống cho con người. Ngài đã chiến thắng tử thần bằng quyền năng của Thiên Chúa, “Ngài đã sống lại”. Thật vậy, nếu Ngài không sống lại, niềm tin Kitô sẽ trở nên vô nghĩa. Vì thế, sự Phục Sinh của Ngài là trung tâm điểm của niềm tin Kitô. Cuộc khổ nạn và sự Phục-Sinh của Đức Giêsu đã phục hồi nhân vị cho con người: “là con Thiên-Chúa”. Vị thế đó đã mất khi tổ tông ta phạm tội, nay được diễm phúc trở lại nguyên vị. Sự Phục Sinh của Đức Giêsu là một lời mời gọi, lại còn có sức lôi cuốn chúng ta vươn lên cao, để nhận rõ giá trị giới hạn của tiền bạc, danh vọng, quyền lực của trần thế, mà tìm tới giá trị vĩnh cửu trên Thiên Quốc.
Ngày nay, tuy con người ngày càng văn minh hơn, nhưng vẫn có nhiều bóng tối của sự chết như chiến tranh, đói khổ, phá thai, tự tử, si-da, khủng bố, tai nạn giao thông… Đó là những cái chết thể xác, nhưng nó đã ảnh hưởng lớn đến cái chết của linh hồn, của tình yêu trong lòng người. Cái chết đó sẽ thắng khi con người sống buông thả, tâm trạng buồn chán, thất vọng, ích kỷ.
Nhưng nếu chúng ta biết liên kết mật thiết với Đức Kitô “Ngài là sự sống”, chúng ta sẽ có thể thông truyền sự sống và niềm vui cho mọi người. Chúng ta hãy sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, khi người anh em chúng ta cần sự giúp đỡ, đến những nơi nhiều nước mắt cần được lau khô, và những tiếng kêu cứu cần được đáp ứng. Đó là chúng ta đem niềm vui Phục Sinh đến cho đồng loại vậy.
GIÊSU TRONG TÔI
Đã hơn hai ngàn năm rồi, có một con người mang tên là Giêsu, thành Nazareth. Ngài đã chết như bao con người, mà còn thê thảm hơn, Ngài đã chết cách nhục nhã giữa hai tên tử tội. Thế là hết, bao nhiêu mơ ước đã tiêu tan. Đâu rồi thần tượng trong tôi? Đâu rồi người tôi thương mến? Tôi thẩn thờ nhìn huyệt đá. Rồi cũng đến lúc tôi phải ra về, cùng với Mẹ của Ngài vì nắng chiều đã tắt. Không! Không phải thế! Mẹ thinh lặng, tôi lặng thinh, chẳng ai nói với ai điều chi cả, nhưng trong ánh mắt dường như hé lộ niềm cậy trông. Đêm về, mảnh trăng gầy treo trên không yếu ớt, sương đêm lành lạnh, nỗi cô đơn thêm đầy. Tôi nhớ Ngài, nhớ có lần Ngài đã nói: “Này chúng ta lên Giêrusalem, con Người sẽ bị nộp. Họ sẽ đánh đòn, giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.” Ngày chúng tôi nghe Ngài nói điều đó, chúng tôi kinh hoàng, sợ hãi, nhưng chẳng ai dám hỏi Ngài điều gì. Có phải chăng đây là lúc lời Ngài nói sẽ thành hiện thực?
“Người ta đã đem Thầy đi khỏi mộ!”Ngay từ sáng sớm các bà phụ nữ tất tả chạy về và nói như thế. Có thật không? Phêrô và tôi đã đi ra mộ. Phêrô vào và tôi cũng vào. Tôi thấy các khăn vải cuộn lại ngăn nắp và tôi tin. Lời Ngài báo trước đã thành sự thật. Tôi tin Ngài đã Phục Sinh! Lòng tôi ấm lên, bước chân thêm vững chãi, Phêrô trở về, tôi cũng thế.
Sau đó, nhiều lần chúng tôi đã được gặp Đấng Phục Sinh, đã có lần Thầy trò cùng ăn với nhau ở Biển Hồ Tibêria. Hôm nay, trong niềm tin tôi tuyên xưng: Đức Giêsu Kitô Phục Sinh là Cứu Chúa của tôi. Ngài là sự Bình An, là Hy Vọng và là Sự Sống trong tôi. Cho đến hôm nay, hơn hai ngàn năm qua rồi Ngài vẫn là Cứu Chúa, là Đấng Phục Sinh cho tôi, cho muôn ngàn thế hệ.
Allêluia! Allêluia! Vì Chúa Giêsu đã sống lại làm cho cuộc đời của chúng ta có một ý nghĩa. Việc Chúa Giêsu sống lại cho chúng ta biết đươc một sự thật quan trọng: Ngoài cuộc sống hôm nay còn có đời sau; ngoài hạnh phúc trần gian chóng qua còn có hạnh phúc vĩnh cửu. Trong niềm hân hoan chúng ta xướng lên: “Allêluia! Allêluia! Hãy Chúc Tụng và Cảm Tạ Tình Thương Thiên Chúa đến muôn ngàn đời”.
Thiên An
GIÁO LÝ VIÊN &
TIN MỪNG PHỤC SINH
Điểm qua một số nhân vật xuất hiện trong buổi sáng ngày Chúa Phục Sinh, ta bắt gặp một khuôn mặt khá quen thuộc trong Kinh Thánh, đó là Chị Maria Mađalêna. Có thể nói, chị là nữ giáo lý viên đầu tiên được Chúa Phục Sinh sai đi loan báo Tin Mừng cho các Tông Đồ.
1. Tại sao Chúa Giêsu lại chọn Maria Mađalêna làm người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh?Thưa, có thể vì ba lý do sau đây:
Thứ nhất: Maria Mađalêna là một người phụ nữ tội lỗi và yếu đuối. Kinh Thánh kể lại: Chị Mađalêna là người bị bảy quỷ ám. Đó chỉ là cách nói Chị là người tội lỗi. Thực vậy! Căn cứ vào việc Chúa Giêsu đuổi bảy quỷ ra khỏi tâm hồn Chị (Lc 8,2), đã có truyền thống cho rằng Maria Mađalêna là gái điếm trước khi Chị gặp Chúa Giêsu. Nhưng thực ra, chúng ta không biết gì về tội lỗi hoặc khiếm khuyết của Chị. Có thể đó chỉ là một thứ bệnh tật thể lý không giải thích được, một căn bệnh tâm thần, hoặc một điều gì đó thiếu sót nơi tâm hồn và thể xác của Chị.
Thứ hai: Maria Mađalêna là người có kinh nghiệm trở về với Chúa. Cuộc đời của Maria Mađalêna chắc có nhiều kỉ niệm buồn vui. Chị cũng có nhiều kỉ niệm với Chúa, trong đó có một kỷ niệm không bao giờ Chị quên được, đó là cái ngày Chúa kéo Chị ra khỏi vết nhơ tội lỗi. Ngày đó, Chị cảm nhận được tình yêu Chúa dành cho mình thật sâu lắng và mạnh mẽ. Đó là một tình yêu vừa mềm mỏng vừa dễ thương, có sức thu hút Chị trở về nẻo chính đường ngay. Nhưng đó cũng là một tình yêu rất nghiêm khắc và dứt khoát, buộc Chị phải quyết định ngay, không thể chần chờ, phải chỗi dậy và đi theo tiếng gọi trở về với Chúa. Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu sinh thì trên cây Thánh Giá, thì những kỷ niệm của Chúa dành cho Chị chợt bừng lên như một tia sáng cứu độ, buộc Chị phải nhìn lại con người thật của mình. Để rồi một lần nữa, đứng trước tình yêu cứu độ của Chúa, Chị đã phải cúi mình xuống vì quá thấm thía con người hèn hạ, tội lỗi của bản thân mình. Từ đó, Chị cảm nghiệm được thế nào là ơn trở về với Chúa.
Thứ ba: Maria Mađalêna là người rất nhiệt tâm, nhiệt tình với Chúa, sẵn sàng làm mọi sự theo ý Chúa. Cuộc đời của Maria Mađalêna đã được ghi dấu ấn đạo đức, khởi đi từ ơn tha thứ của Chúa Giêsu. Từ đó Chị đã trung thành đi theo Chúa và đồng hành với Chúa trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng (Lc 8,2-3). Chị luôn lắng nghe Lời Chúa và thực hiện những điều Chúa dạy bảo. Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, khi các môn đệ thân tín của Chúa bỏ chạy, thì Maria Mađalêna vẫn theo sát chân Chúa. Chị không hề sợ hãi. Chị đứng hiên ngang tuyên xưng đức tin, đức cậy và đức mến của mình ngay dưới chân Thánh Giá, cùng với Mẹ Maria và Thánh Gioan. Tình yêu mến sâu đậm của Chị còn được thể hiện rõ nét khi Chị đi ra mộ Chúa từ sáng sớm, để kiếm tìm Chúa, khao khát gặp gỡ Chúa, cho dù chính mắt Chị đã chứng kiến cái chết đau thương của Ngài. Chị đã thao thức kiếm tìm và đôn đáo chạy đi báo tin cho các môn đệ khi không tìm thấy Chúa. Dù không tìm thấy, Mađalêna vẫn không thất vọng, cứ kiên trì tìm kiếm. Chính vì thế, Chị là người đầu tiên được diễm phúc chứng kiến Chúa Phục Sinh và được Chúa sai đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các môn đệ của Ngài. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô nói: "Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, Ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: Tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết".
2. Người giáo lý viên ngày nay cũng mang dáng dấp của Maria Mađalêna.
Thứ nhất: Người giáo lý viên cũng mang đầy những tội lỗi, yếu đuối, bất toàn về mọi lãnh vực.Là hạt bụi, nên người giáo lý viên vẫn mang tính mỏng dòn, yếu đuối. Họ phải chống trả biết bao cơn cám dỗ mời mọc. Có những lúc họ như bị rơi vào cạm bẫy thế gian. Họ từng phạm sai lầm, vấp ngã. Họ bị ray rứt không nguôi về số phận mỏng dòn của mình, nên họ cũng tìm nhiều cách để tồn tại, hay để hưởng thụ cuộc sống mau qua với thời tuổi trẻ. Đó là dấu ấn khát vọng xưa kia còn sót lại của Ađam – Eva. Khao khát thực hiện bằng mọi cách, nên rất dễ bị dụ ngọt bởi loài rắn độc, và cuối cùng mang lấy hậu quả tội lỗi.
Thứ hai: Người giáo lý viên cũng được mời gọi sống “ơn trở về” với Chúa, bằng cầu nguyện và lãnh nhận các Bí Tích. Để có thể đến với Chúa cách dễ dàng, người giáo lý viên cần nhiều ơn Chúa trợ giúp qua việc cầu nguyện và năng lãnh nhận các Bí Tích. Họ phải thật lòng sám hối về những lỗi lầm của bản thân. Và họ phải bám vào Chúa để được nâng đỡ, được cứu vớt khỏi những cạm bẫy thế gian. Họ đã từng vấp ngã, nhưng nhờ tình thương và ân sủng của Chúa, họ luôn cố gắng đứng dậy mỗi ngày để làm mới lại cuộc đời.
Thứ ba: Người giáo lý viên cũng được mời gọi nhiệt tâm, nhiệt tình loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Giáo lý viên là người loan báo Tin Mừng qua việc giảng dạy giáo lý. Họ được mời gọi để giúp cho những người khác sống trưởng thành đức tin. Những người khác ở đây có thể là những người thân trong gia đình mình, các em thiếu nhi, giới trẻ, từ cá nhân đến cộng đoàn.
Như các môn đệ xưa, anh chị em giáo lý viên chúng ta hãy loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho tất cả mọi người xung quanh. Vì Chúa cần ta, như cần nhóm nhỏ các môn đệ của Chúa xưa vậy. Chúng ta như những nắm men trong bột. Nắm men có nhiệm vụ làm cho khối bột dậy men. Chúng ta có nhiệm vụ làm cho Tin Mừng Phục Sinh phát triển rộng khắp, vì giáo lý viên chính là nhóm môn đệ thời nay của Chúa Phục Sinh.
Ước gì khi chiêm ngắm Chị Maria Mađalêna trong bầu khí Phục Sinh, các giáo lý viên cảm thấy mình hãnh diện, vì có Chị Maria Mađalêna là người nữ giáo lý viên đầu tiên của Tin Mừng Phục Sinh. Đồng thời ta cũng nhận ra khuôn mặt của chính mình trong sứ mạng sống và loan báo Tin Mừng.
Maria Vũ Nguyễn Ánh Hương (Gx. Bình Lộc)
DẤU CHỨNG PHỤC SINH
Sự kiện một con người được sinh ra nơi cung lòng người phụ nữ bình thường, nhỏ bé và khiêm tốn, được đặt trong hang Belem lạnh lẽo, sống ẩn dật ba mươi năm nơi làng Nagiarét có cái chi hay đâu? (Ga 1, 46). Ba năm lăn lộn trên mảnh đất Do thái với sứ mạng loan báo Tin Mừng để cho mọi người tin và được ơn cứu độ. Thế rồi để cuối đời đang ở độ tuổi với bao sức sống, hoài bão, người thanh niên Giêsu bị bắt, bị tra tấn, bị sỉ nhục, bị mang đi đóng đinh và cuối cùng phải nằm chết trên cây thập giá với bao tình yêu thương nhân loại.
Nhưng sau cái chết, Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần để rồi lời Ngài loan báo khi đi rao giảng được ứng nghiệm “Con Người sẽ bị bắt và bị giết chết nhưng sau ba ngày Ngài sẽ sống lại” (Lc 9,22). Chúa đã sống lại, niềm tin phục sinh của con người vào Chúa hình như vẫn còn sự hồ nghi, không thể tin được, sự việc xảy ra chỉ có một không hai nơi trần gian này. Do đó khi Chúa Giêsu sống lại Ngài đã phải minh chứng cho nhiều người được biết và tin vào lời Ngài đã nói: “ Thầy đã trỗi dậy từ cõi chết”, bằng những dấu chứng để lại cho các phụ nữ, cho các tông đồ hầu củng cố đức tin cho các ông và rồi những ai đã tận mắt trông thấy sẽ đi kể lại cho mọi người biết giúp những ai tin thì được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Tôi xin được ghi nhận ba trong những dấu chứng mà Chúa đã khai mở cho các tông đồ sau khi Ngài từ cõi chết trỗi dậy.
1- Ngôi mộ trống.
Thánh Gioan Tông đồ đã tường tận kể lại việc những người phụ nữ ra mộ từ sáng sớm. Khi đến nơi, họ thấy tảng đá lấp cửa mộ đã được lăn ra và các bà tức tốc chạy về báo tin cho các tông đồ. Tông đồ Phêrô và Gioan đã vội vàng chạy ra mộ và thấy sự việc xảy ra y như lời các bà nói. ( Ga 20, 1-9). Nấm mộ là nơi cư ngụ của thân xác con người, là biểu hiện của sự chết. Nhưng hôm nay, ngôi mộ của Chúa Giêsu đã được khai thông, có nghĩa Chúa đã chiến thắng sự chết và trỗi dậy đúng như lời Người đã nói. Dấu chứng thứ nhất cho các tông đồ và cho chúng ta biết để tin rằng: Giêsu Nagiarét-Vua dân Do thái đã thật sự sống lại.
2- Thói quen của Chúa.
Sau sự kiện Chúa Giêsu người Nagiarét bị dân Do Thái giết chết có nhiều người đã thất vọng bỏ về quê, trong đó có hai môn đệ đang trên đường về quê làng Emmau là ông Clêôpát và một môn đệ khác. Hai ông thất thểu, buồn bã vừa đi vừa bàn tán về chuyện ông Giêsu vừa bị mang đi đóng đinh. Đúng lúc này Chúa Giêsu hiện đến và đồng hành với hai ông trên quãng đường dài. Cho đến lúc trời đã tối khi hai ông mời được người khách lạ cùng chung bàn, khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh, bẻ ra và trao cho hai ông. Lúc này mắt hai ông mới thật sự mở ra và nhận ra Chúa. Thói quen thường làm của Chúa Giêsu đã làm bừng tỉnh tâm trí hai ông, và hai ông đã xác nhận Chúa đã trỗi dậy. (Lc 24, 13-35)
Cùng đồng thể thức Người bẻ bánh và trao cho các ông, Thánh Gioan đã thuật lại rằng: Đang khi các môn đệ hì hục giặt lưới vì cả đêm các ông chẳng bắt được gì. Chúa Giêsu hiện đến bên bờ biển nơi các ông đang giặt lưới và nói: “ Các ông hãy thả lưới bên phải thuyền thì sẽ bắt được cá”. Các ông đã vâng lời Thầy con thả lưới. Mẻ cá lạ làm cho các ông ngạc nhiên. Thế rồi sau đó khi lên bờ các ông đã thấy Chúa ngồi đó có sẵn than hồng cá và bánh, rồi Người cầm lấy bánh và cá mà trao cho các ông. Cử chỉ hành động này của Chúa Giêsu đã được Ngài thực hiện nhiều lần trước khi Ngài chịu chết. Thói quen này Chúa vẫn giữ và đã làm ngay sau khi Ngài trỗi dậy từ cõi chết. Ngày hôm nay và cho mãi về sau nghi thức bẻ bánh vẫn được tiếp diễn, Bí tích Thánh Thể vẫn được cử hành trên bàn thờ, linh mục đại diện Chúa Kitô ở trần gian ban phát Mình và Máu Thánh Chúa cho mọi kitô hữu để minh chứng Ngài vẫn sống và vẫn đang ban phát của ăn thiêng liêng cho chúng ta. Giuêsu Nagiarét-vua dân Do Thái đã thật sự sống lại.
3- Những vết thương trên thân thể Chúa.
Khi các tông đồ vẫn còn lo sợ trốn trong một căn phòng nhỏ vì qua sự việc Chúa Giêsu bị người Do Thái bắt và mang đi đóng đinh. Giờ đây chắc những người Do Thái đó sẽ đi tìm những môn đệ để hành quyết giống như Thầy mình chăng? vì thế mà cửa các ông vẫn đóng kín. Chúa Giêsu hiện đến như một giấc mơ giữa ban ngày, các ông không thể tin vào mắt mình, “các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma”. ( Lc 24, 37). Chúa Giêsu đã phải trấn an họ “ Bình an cho các con”. Rồi sau đó Ngài cho các ông xem những dấu chứng trên thân thể mà Ngài đã chịu, những dấu đinh trên tay chân, dấu lưỡi đòng bị đâm thâu bên cạnh sườn. Gioan chỉ kể rằng: “Người cho các ông xem tay và và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa”. ( Ga 20, 20). Dấu chứng trên thân thể Người là thật, giờ đây Chúa hiện ra với các tông đồ cũng với con người thật. Dấu vết khi Ngài bị quân lính hành hạ thế nào thì giờ đây cũng còn y như vậy. Chúa chứng thực rằng Ngài đã sống lại- Giêsu Na-gia-rét- vua dân Do Thái đã thật sự sống lại.
Và còn, còn nhiều những dấu chứng mà Chúa đã tỏ ra cho các môn đệ ngày xưa, và ngày nay Chúa cũng bày tỏ cho bạn và tôi biết Ngài vẫn đang sống, sống bên cạnh bạn và tôi. Có thể nói rằng ơn gọi làm người và làm con Chúa mà bạn và tôi đang sống là dấu chứng tình yêu rõ nhất mà Chúa đã dành cho bạn và tôi. Chúa biết tôi yếu đuối, mỏng giòn, nên Ngài đã yêu thương tôi cách đặc biệt, Ngài hướng dẫn, nâng đỡ tôi qua các đấng bề trên, qua anh em, qua những biến cố trong cuộc sống, nhờ ơn Chúa giúp đỡ, tôi cộng tác với Chúa Thánh Thần nhà đào tạo số một, để Ngài thanh luyện tôi, huấn luyện tôi, giúp tôi biết tập luyện những nhân đức, đồng thời trong môi trường chủng viện tôi cố gắng tu luyện để trở thành một tông đồ thánh thiện, nhiệt thành như lòng Chúa mong ước.
Trong cuộc sống của chúng ta, chắc hẳn Chúa đã bày tỏ những dấu chứng để tỏ lộ lòng yêu thương mà Chúa đã dành cho chúng ta, việc còn lại là lòng tin của chúng ta dành cho Chúa. Niềm tin đó được thể hiện qua cách sống, qua những công việc chúng ta làm, những công việc đạo đức mà chúng ta làm trong một ngày sống.
Lạy Chúa, xin củng cố niềm tin cho chúng con nhất là trong thời đại này, thời đại khoa học càng phát triển thì niềm tin của con người dành cho Chúa càng bị đánh mất. Xin mở con mắt đức tin của chúng con, xin nâng đỡ và hướng dẫn chúng con, để qua tình yêu mà Chúa dành cho chúng con, chúng con nhận ra Chúa đã, đang và mãi yêu chúng con, từ đó chúng con biết xác tín rằng: Chúa Giêsu Nagiarét-vua dân Do Thái đã chết vì tội lỗi chúng con và đã sống lại thật, Ngài đang ở bên cạnh chúng con để dẫn đưa chúng con đến vinh quang đích thực trên quê trời.
Lạy Chúa, xin nâng đỡ lòng tin yếu kém của con. Amen.
Vs. Lê Đình



