Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 8)

CANH TÂN ĐỜI SỐNG LINH MỤC

THEO GƯƠNG THÁNH PHAO-LÔ

(dựa theo cuốn “Linh mục một vài năm sau, suy gẫm về tác vụ linh mục”

 của ĐHY Carlo Maria Martini)

 

Dẫn nhập

Trong các bài sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau suy tư và chiêm niệm về đề tài “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”. Tuy là những bài suy niệm dành riêng cho linh mục, nhưng cũng hữu ích để canh tân đời sống thiêng liêng cho bất cứ ai muốn đọc và suy niệm.

Chúng ta cùng suy gẫm sách Công Vụ Tông Đồ, chương 20, câu 17-38. Đây là “di chúc mục vụ” của thánh Phao-lô. Trong bản văn trên, thánh Tông Đồ nói với các kỳ mục Ê-phê-sô về kinh nghiệm ngài đã trải qua trong 3 năm sống với họ: kinh nghiệm về con người, về đời sống linh mục và về mục vụ.

Nhờ tìm hiểu và suy gẫm về “Di chúc mục vụ” của thánh Phaolô do ĐHY Martini triển khai trong cuốn: “Linh mục một vài năm sau…Suy gẫm về tác vụ linh mục”, chúng ta có thể “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”

                                                                                 Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

 

 

BÀI TÁM

GẮN BÓ VỚI ĐỨC KITÔ VÀ VỚI GIÁO HỘI

 

Bây giờ chúng ta suy nghĩ về những hoàn cảnh đặc biệt cần tỉnh thức. Dựa vào những  khích lệ của thánh Phao-lô, chúng ta đặt một số câu hỏi sau: a/ Các kỳ mục Ê-phê-sô, chịu trách nhiệm về cộng đoàn, phải tỉnh thức lo cho ai? b/ Vì lý do gì họ phải tỉnh thức? c/ Và tỉnh thức thế nào?

 

1. Các kỳ mục Ê-phê-sô phải tỉnh thức lo cho ai?

“Hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên”

Thánh Phaolô không khuyên các kỳ mục lo cho chính mình hoặc chỉ lo cho đoàn chiên. Ngài không quá lý tưởng: cứ săn sóc bản thân và đoàn chiên sẽ được gìn giữ cẩn thận, hoặc cứ săn sóc đoàn chiên thật tốt và như thế, anh em đã săn sóc chính mình. Biện chứng ở đây không thể đảo ngược: mình và đoàn chiên. Một linh mục không cầu nguyện, không có thời gian đọc và lo lắng cho đời sống thiêng liêng của mình, không thể viện dẫn lý do là phải lo cho đoàn chiên. Làm như vậy, người ấy chỉ canh thức cho đoàn chiên mà không canh thức cho chính mình. Ngược lại, linh mục cũng không thể không quan tâm đến đoàn chiên vì phải dành cả ngày để cầu nguyện, đọc Kinh Thánh hay học thần học. Làm như vậy, linh mục chỉ canh thức cho mình mà không cho đoàn chiên. Hai thực tại song hành vói nhau, làm phong phú lẫn nhau và bổ túc cho nhau nhưng không bao giờ lẫn lộn với nhau. Chúng ta dễ mắc lỗi khi muốn tìm phương pháp giải quyết khác bằng cách loại bỏ tính lưỡng cực mà thánh Phao-lô nhấn mạnh. Chúng ta phải chấp nhận nó và kiên nhẫn sống với nó trong lúc vẫn đi tìm sự quân bình đúng đắn. Đó là cách thế duy nhất: chúng ta phục vụ cộng đoàn khi săn sóc chính mình và ngược lại, chúng ta sẽ săn sóc chính chúng ta khi phục vụ cộng đoàn. Hãy cẩn thận lo cho chính mình và đoàn chiên (c.28): hãy tỉnh thức lo cho chính chúng ta và đồng thời lo cho những người Chúa trao phó cho chúng ta.

 

Trong bài đọc KINH SÁCH Thứ hai tuần XXIV TN, thánh Augustinô nói về bổn phận đúp này. Thánh nhân nói các mục tử là những người được Chúa thương đặt vào vị trí coi sóc đoàn chiên, chứ không vì công trạng của các ngài. Vì thế, thánh nhân nhấn mạnh đến bổn phận vừa phải lo cho mình là một Ki-tô hữu, vừa phải lo cho đoàn chiên vì là người đứng đầu. Thánh nhân viết: “Có nhiều người Ki-tô hữu mà không phải là người đứng đầu: họ đến với Thiên Chúa qua một con đường có khi dễ dàng hơn và có lẽ thuận lợi hơn, vì mang ít hành lý hơn. Còn chúng tôi, nguyên một chuyện là Ki-tô hữu, chúng tôi đã phải trả lẽ với Thiên Chúa về đời sống của mình rồi, huống chi chúng tôi lại là người đứng đầu, nên còn phải trả lẽ với Thiên Chúa về công việc quản lý của mình nữa”.

 

2. Tại sao phải tỉnh thức?

Có hai lý do thúc đẩy thánh Phaolô khuyên phải tỉnh thức. Lý do thứ nhất là tầm quan trọng của chỗ mà Thiên Chúa chỉ định cho các kỳ mục: anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình (c. 28). Ở đây, rõ ràng thánh Phao-lô qui chiếu về cuộc khổ nạn và cái chết cứu độ của Chúa Giêsu, về tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã dấn thân đến chết vì chúng ta, vì đoàn chiên mà giữa đoàn chiên đó Chúa Thánh Thần đã đặt các kỳ mục. Chỗ của các kỳ mục là vị trí lãnh đạo để chăm lo cho đoàn chiên Thiên Chúa Ba Ngôi đã trao phó cho họ.

 

Lý do thứ hai là những hiểm hoạ cận kề, hiểm hoạ đó là những sai lạc xuất hiện trong cộng đoàn: Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào giữa anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng (c.29-30). Sự ra đi mà thánh Phao-lô ám chỉ ở đây có lẽ là cái chết của ngài, một sự ra đi không bao giờ trở lại. Động từ đột nhập nhấn mạnh đến giây phút hiện tại và những sói dữ không tha cho đoàn chiên. Ở đây, thánh Phao-lô hình như sợ rằng những con sói khủng khiếp đó không chỉ tấn công các kỳ mục, là những người chín chắn và được chuẩn bị tốt hơn, mà còn tấn công những tín hữu đơn sơ và yếu đuối nữa. Sự cảnh báo rất nghiêm trọng được thánh Tông đồ nhấn mạnh: giữa anh em. Như vậy, sẽ có những sự tấn công đến từ bên ngoài; có những người sẽ đến làm cho anh em đau khổ. Nhưng từ giữa anh em, sẽ xuất hiệt những người nói những điều xấu xa: từ giữa anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc.

 

Theo bản văn, có thể giả thiết rằng có hai loại người giảng dạy sự sai lạc. Trước hết là những tiến sĩ giả, là những người học thức, có khả năng diễn tả theo một biện chứng lôi cuốn. Họ lôi kéo sự chú ý, khơi gợi mối quan tâm và tò mò; quần chúng nghe họ. Kế đó là những người lãnh đạo giả: đó là những người có tư cách và có khả năng ăn nói; họ có khuynh hướng thống trị và thi hành quyền lực tinh thần trên người khác. Bản năng này còn nguy hiểm hơn bản năng thống trị về mặt vật chất; nó suy đồi và tinh tế hơn.

 

Có thể nói, sau những lạc quan và tin tưởng trong những lá thư đầu tiên, vào cuối đời, thánh Tông đồ trở nên bất an và lo âu khi thừa nhận sự hiện diện của lầm lạc đang tàn phá vườn nho ngài đã bỏ bao nhiêu công lao trồng tỉa, vun xới. Những lời cảnh báo của thánh Phaolô không chỉ nói với các kỳ mục Ê-phê-sô ngày xưa, mà còn nói với chúng ta ngày nay vì ngài viết cho Giáo Hội thuộc mọi thời.

 

Còn chúng ta thì sao? 

a. Trước hết, lời cảnh báo của thánh Phaolô nhắc chúng ta phải coi chừng chính mình, đừng để mình ngày một xa rời chỗ Chúa đã chỉ định cho ta là lo cho đoàn chiên Chúa đã trao phó cho chúng ta. Chúng ta xa rời chỗ Chúa chỉ định cho chúng ta khi thay vì chăm sóc đoàn chiên, chúng ta chỉ lo chăm sóc mình, gia đình mình, những người thân của mình. Tiên tri Ê-dê-ki-el đã tuyên sấm hạch tội các mục tử chăn dắt Is-ra-el như sau:

 

Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: Hỡi con người, hãy tuyên sấm hạch tội các mục tử chăn dắt Ít-ra-en, hãy tuyên sấm. Hãy nói với chúng, với các mục tử đó: ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, chúng tán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi. Chiên của Ta tản mác trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm. Vì thế, hỡi các mục tử, hãy nghe lời ĐỨC CHÚA. Ta lấy mạng sống Ta mà thề - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng -, bởi chiên của Ta bị cướp phá và biến thành mồi cho mọi dã thú vì thiếu mục tử, bởi các mục tử chỉ biết lo cho mình mà không chăn dắt đàn chiên của Ta, nên hỡi các mục tử, hãy nghe lời ĐỨC CHÚA: ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Đây Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta ; Ta sẽ không để chúng chăn dắt chiên, và các mục tử sẽ không còn lo cho mình. Ta sẽ giải thoát các chiên của Ta khỏi miệng chúng, để chiên của Ta không còn làm mồi cho chúng nữa. Quả thật, ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm” (Ed 37, 1-11).

 

Chúng ta cũng xa rời chỗ Chúa chỉ định cho chúng ta khi thay vì lo cho đoàn chiên được tăng trưởng đời sống thiêng liêng, chúng ta lại quá lo xây dựng cơ sở vật chất, thường xuyên đi vắng, lơ là với bổn phận ban các bí tích, nhất là thánh lễ, giải tội, xức dầu; nhiều khi chỉ làm chiếu lệ, cho qua, rất ít tâm tình đạo đức. Ngoài ra, chúng ta cũng xa rời chỗ Chúa chỉ định cho chúng ta khi thay vì quan tâm yêu thương từng con chiên trong đàn, chúng ta lại chỉ quan tâm, yêu thương đặc biệt một số rất ít, còn đại đa số thì hầu như dửng dưng (*Nhiều khi chúng ta nói về những người bỏ đạo, lạc đạo trong giáo xứ như ai đó không liên quan tới mình), v.v.

 

b. Lời cảnh báo của thánh Phaolô cũng nhắc chúng ta phải coi chừng một điều khác, đó là mỗi người chúng ta đều có thể trở nên một tiến sĩ giả, một lãnh đạo giả, muốn thống trị thay vì phục vụ, lôi kéo người khác về mình và dùng người khác như dụng cụ để biểu lộ sự kiêu căng, hoặc nâng cao uy tín, ảnh hưởng, hoặc giành phần đúng, phần phải cho mình. Kế đó, bản văn của thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu hơn về những giáo lý trái ngược với đức tin chân thật. Các nhà chú giải đã đưa ra nhiều giả thuyết, hầu như tất cả đều được gợi lên từ những ám chỉ của các lá thư viết trong tù. Những lá thư viết cho các tín hữu Ê-phê-sô và Cô-lô-sê cung cấp những yếu tố về các sai lầm lan tràn ở Ê-phê-sô và Tiểu Á. Nhưng các lá thư của thánh Gioan cũng gợi lên những chủ đề sai lạc đó, và vị tông đồ này đưa ra những đe doạ và cảnh báo rõ ràng về chúng. Ngoài ra, trong văn chương ki-tô giáo cổ, người ta còn tham khảo các lá thư của thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a và của thánh I-rê-nê. Các lá thư này là một nguồn kiến thức rất quí giá, và chúng ta sững sờ bởi rất nhiều người lạc giáo và những giáo lý sai lạc hiện diện vào thời đó.

 

Linh mục là người lãnh đạo cộng đoàn, được nhận lãnh đặc ân biết tổng hợp. Nên các ngài phải quan tâm đến mọi sự, phải bảo vệ chính mình và đoàn chiên, loại trừ mọi sai lạc ngay từ đầu.

 

3. Tỉnh thức đề phòng thế nào?

Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ (c. 31). Thánh Tông đồ dặn dò nên tình thức luôn và ai nấy đều phải tỉnh thức. Tỉnh thức đề phòng cách nào?

 

a. Tỉnh thức tuân giữ kỷ luật đời sống

Để giúp hiểu rõ hơn sự khích lệ cuối cùng của diễn từ Mi-lê-tô, chúng ta nhờ đến hai bản văn cổ cũng chứa đựng những “lệnh truyền” cho các kỳ mục. “Trong khi chờ tôi đến, hãy chuyên cần đọc Sách Thánh trong các buổi họp, chuyên cần khuyên nhủ và dạy dỗ. Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên anhAnh hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong lời giảng dạy; hãy kiên trì trong việc đó. Vì làm như vậy, anh sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy” (1 Tm 4, 13-16).  Và chúng ta có thể diễn dịch cụ thể: hãy chuyên cần suy gẫm mỗi ngày, đặc biệt là đọc Sách Thánh; hãy lưu tâm đến việc linh hướng, xưng tội, và những giây phút thinh lặng sa mạc… nghĩa là hãy tuân giữ kỳ luật đời sống linh mục. Đừng quên rằng đời sống thiêng liêng là thức ăn nuôi sống sự phân định sáng suốt. Ở đây, chúng ta để ý tới 3 từ thánh Phao-lô dùng: thận trọng, kiên trì và chuyên cần. Ba từ này diễn tả sự quan trọng của việc rèn luyện đời sống thiêng liêng để có thể tỉnh thức đề phòng. Đề phòng điều gì?

 

- Trước hết là đề phòng chủ trương sống bình thường. Có lẽ khá nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng: “Tôi không có tham vọng. Tôi chỉ muốn sống như một người bình thường”. Nếu hiểu đây là chủ trương không quá tìm kiếm danh vọng, địa vị, uy tín; không ham muốn hư danh thái quá thì rất tốt. Tuy nhiên, nếu đó là chủ trương sống bình thường, vừa đủ trong đời sống thiêng liêng và phục vụ thì không tốt chút nào. Vì sao? Bởi vì không mấy chốc, chủ trương sống bình thường sẽ thoái hoá, lôi kéo chúng ta đi xuống, làm chúng ta sống tầm thường, trì trệ, tệ hại. Ai cũng biết, con đường của đời sống thiêng liêng và phục vụ giống như lội dòng nước ngược. Không nỗ lực tiến tới lập tức sẽ bị đẩy lùi. Không thể có sự an nhàn, nghỉ ngơi, bình thường ở đây. Bởi đó, chúng ta cần không ngừng nỗ lực vượt khỏi chính mình, vượt khỏi những cái bình thường, vừa đủ. Có vậy, chúng ta mới tiến bước trên con đường thánh thiện và phục vụ như Đức Ki-tô.

 

- Kế đó là đề phịng thĩi kiêu căng. Não trạng kiêu căng đó hình thành và thể hiện thế nào? Trước hết phải kể đến ý thức tiềm ẩn, nhưng rất sâu xa, cho mình thuộc về một tầng lớp ưu tú, có một địa vị, uy thế đặc biệt, thuộc về thế giới thần linh, thiêng liêng, vượt xa trên những gì thuộc lãnh vực trần thế. Ý thức sâu xa này cộng hưởng với một nguyên mẫu tiềm tàng từ xa xưa của hàng giáo sĩ: Giáo Hội là mẹ, linh mục là cha, giáo dân là con cái. Bị những sức mạnh tâm lý này trói buộc, linh mục chúng ta dễ đồng hoá mình với căn tính linh mục một cách thái quá mà quên đi căn tính nền tảng: mình cũng là một kitô hữu như những kitô hữu khác nhờ bí tích rửa tội. Vì thế, nhiều khi chúng ta đòi phải được kính trọng, phải được vâng nghe cách đặc biệt. Bất cứ ai làm trái ý, kẻ đó đáng bị lên án. Hơn nữa, chúng ta sẽ cho mình quyền xét xử người khác mà không ai có quyền góp ý hay nhận xét về mình. Nguy hiểm hơn, chúng ta sẽ ngày càng qui hướng mọi người và mọi sự về mình, trong khi đúng ra, là tông đồ, mục tử thay mặt Chúa, chúng ta phải qui hướng, phải dẫn đưa người khác đến với Ngài. Cuối cùng, sự tự cao thường gắn liền với tự ái, nên chúng ta rất dễ bị tổn thương, rất dễ đi đến ganh tị. Ý thức tự cao thuộc tầng lớp ưu tú của hàng ngũ linh mục có thể càng phát triển theo năm tháng và chức vụ trong Giáo Hội. Nếu không có sự phân định thường xuyên nhờ ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta dễ đi đến sự đánh giá sai lạc về bản thân, về bề trên, về anh em linh mục và giáo dân. Những đánh giá sai lạc đó, thường theo hướng vị kỷ và đề cao bản thân, nên dễ qui lỗi cho người khác, để rồi cảm thấy mình bị cư xử tàn tệ, bất công và rơi vào tâm trạng chán nản, cay đắng, chua chát, thất vọng và buông xuôi[1].

 

Tất cả những sức mạnh tâm lý trên có khi hoạt động trên tầng ý thức, có khi trong tiềm thức. Tuy không phải bao giờ chúng cũng điều khiển mọi thái độ và cách hành xử của chúng ta, nhưng tác động và ảnh hưởng của chúng quả là không nhỏ, nhất là khi chúng ta lơ là, không nhận ra và không thường xuyên luyện tập đức khiêm nhường, sự từ bỏ và phục vụ cách nhưng không vì tình yêu đối với Chúa và mọi người.

 

b. Gắn bó với Đức Ki-tô và Giáo Hội.

Ngoài ra, thánh Phao-lô còn tha thiết khuyên Ti-mô-thê-ô: Trước mặt Thiên Chúa và Đức Ki-tô Giê-su, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vương quyền, tôi tha thiết khuyên anh: hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường. Phần anh, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh” (2 Tm 4, 1-5). Những lời này giải thích cho sự khích lệ của thánh Phaolô trong bản văn công vụ tông đồ chúng ta đang suy gẫm. Thánh Phaolô đưa ra rất nhiều lời khuyên trong những lần khích lệ đặc biệt. Chúng ta có thể diễn dịch như sau: các sai lạc – ít là ở mầm mống – xuất hiện vào mọi thời và trong mọi văn hoá; bởi đó, quan trọng là gắn bó mật thiết với Đức Kitô và Giáo Hội. Đó là hai qui chiếu nền tảng để luôn trung thành với ơn gọi phục vụ trong chức linh mục, ngoài phương thế giữ kỷ luật đời sống linh mục. Chúng ta đừng để mình bị loá mắt hay lạc đường bởi những diễn từ bề ngoài có vẻ đạo đức, nhưng ít chính đáng, nông cạn và lạc hướng.

 

- Gắn bó với Đức Kitô. Một điều hoàn toàn có tính quyết định, đó là biết tỉnh thức bằng tình yêu tha thiết, trong cầu nguyện cá nhân liên lỉ, trong thờ lạy. Nhờ đó, chúng ta có một cảm quan thuộc về Đức Kitô. Sự an ủi khi cầu nguyện giúp chúng ta nếm trải cảm quan đó.  Luôn tập trung vào Đức Kitô là phương thuốc tốt nhất chữa trị những hình thức trung gian giả tạo hoặc thêm thắt thái quá. Lectio divina sẽ giúp chúng ta điều đó và hỗ trợ chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu trong biệt tính (singularité) và viên mãn của thiên tính ngụ trong Người một cách hữu hình. Thiên Chúa được ban cho chúng ta trong Chúa Giêsu và chỉ Thiên Chúa là đủ cho chúng ta.

 

- Gắn bó với Giáo Hội. Chúng ta phải yêu mến Giáo Hội địa phương, thành phần của Giáo Hội hoàn vũ, cộng đoàn của chúng ta, linh mục đoàn của chúng ta. Thánh Phaolô khích lệ chúng ta tránh xa những người loè đôi mắt chúng ta để lôi kéo chúng ta theo những con đường cứu độ khác và đi trệch đường xa Giáo Hội. Thánh Tông Đồ mời gọi chúng ta sẵn lòng đón nhận mọi nâng đỡ mà Giáo Hội đề nghị. Hãy yêu mến sự hiệp thông của linh mục đoàn trong tính mộc mạc của nó, bởi vì đó là sự hiệp thông vững chắc và lâu bền, có khả năng nuôi dưỡng đời sống ta thường xuyên.

 

Sự hiệp thông này nhắc chúng ta về tình huynh đệ thiêng liêng trong linh mục đoàn. Chúng ta cần luôn quan tâm đến nhau và cầu nguyện cho nhau. Sống yêu thương nhau chân thành, biểu lộ qua sự khiêm tốn, tôn trọng nhau, như lời thánh Phaolô: “Thương mến nhau với tình huynh đệ. Coi người khác trọng hơn mình” (Rm 13, 10); qua sự kiên nhẫn chịu đựng lẫn nhau, và sẵn sàng góp ý cho nhau cách tế nhị nhưng thẳng thắn; qua sự bao dung, độ lượng và cố làm hết sức để giúp nhau có cơ hội và thời gian sửa đổi. Cố tránh mọi thành kiến; dẹp bỏ tính tự ái, và nhất là không bao giờ giận ghét, thù hằn anh em; tuyệt đối không khi nào tìm trách trả thù, triệt hạ vì người anh em đó không hợp với ta, hoặc chống đối ta.

 

Đây là những nhắc nhở quan trọng, bởi vì thánh Phaolô xác quyết rằng không chỉ phẩm chất tốt của phục vụ là đủ, mà còn phải là người của Giáo Hội, qua tình thương yêu huynh đệ trong linh mục đoàn; và là người của Đức Ki-tô qua mối tương quan đích thực với Ngài.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin đến trợ giúp chúng con. Amen.

Câu hỏi gợi ý:

1. Là linh mục, người lãnh đạo cộng đoàn, tôi có ý thức chỗ Chúa chỉ định cho tôi không? Tôi có dành hết thời giở, sức lực và tâm hồn để lo đoàn chiên không?

2. Là Ki-tô hữu, tôi có lo cho chính mình sống thánh thiện nhờ tuân giữ các giới răn, nhất là giới răn yêu thương, và nhờ việc tham gia phục vụ cộng đoàn không?

3. Tôi đang an nhàn trong cái bình thường đã trở nên tầm thường, trì trệ của đời sống mục vụ tông đồ hay tôi luôn nỗ lực vượt lên để đời sống thiêng liêng và phục vụ tông đồ của tôi ngày một tăng trưởng?

4. Tôi có khiêm tốn sẵn sàng đón nhận những góp ý xây dựng của người khác không?

5. Tôi có cảm quan nhạy bén, sâu xa, mạnh mẽ mình là người của Giáo Hội, của linh mục đoàn giáo phận và của Đức Ki-tô chưa? Nếu chưa, thì tại sao và tôi cần làm gì?

 


[1] Trong cuốn “Những lá thư viết từ sa mạc”, ở chương 15 “cuộc nổi loạn của những người tốt bụng”, Carlo Carretto viết: “Việc tôi chọn chỗ rốt hết trong ơn gọi thực ra không có ý nghĩa gì hết. Điều đáng nói là mỗi ngày trong đời tôi, tôi cố gắng ở lại trong chỗ rốt hết ấy”. Carlô nhắc đến “căn bệnh cho mình là nạn nhân” ví dụ, trong một gia đình, mọi gánh nặng đều đè lên vai người mẹ. Người mẹ hi sinh mọi sự cho chồng con. Nhưng quả tim người mẹ đó có thể dần dần phát triển một khối u của căn bệnh “cho mình là nạn nhân” và đến một lúc bà gào lên: “Đủ rồi! Cho đến nay tôi đã phục vụ các người như một tên đầy tớ, thế mà các người không nhận ra!... Những điều đó xảy ra trong một cộng đoàn thì  cơn giông tố càng lớn mạnh hơn nhiều… Rất hiếm khi trong cuộc đời dài lâu, trong rừng rậm nơi chúng ta vật lộn, chúng ta lại không là nạn nhân của một người khác và phải hứng chịu một hành động bất lương, một cú đá, thậm chí một phát súng nữa. Lúc đó, gập người dưới sức nặng của bất công hoặc nằm dài trên giường với nỗi đau khổ của mình, chúng ta bắt đầu nếm những thú vui của nạn nhân chủ nghĩa…” Anh Carlo nhắc đến Thiên Chúa hiến dâng con của Ngài là Đức Giêsu Kitô như một lễ vật. Đức Giêsu đã không kêu gào đòi công lý. Ngài chấp nhận cái chết để thiết lập luật tha thứ, luật của lòng thương xót. Anh viết tiếp: “Phải, cần vượt xa công lý, cho cả tôi nữa. Để chiến thắng chứng hoại thư của chủ nghĩa nạn nhân… như Chúa Giêsu, tôi phải khó nhọc leo ngược lên triền dốc của đau khổ và can đảm đi xuống gặp gỡ anh em tôi…” (“Những lá thư viết từ sa mạc”, Carlo Carretto, trang 193-204). Ở đây, Carlo nói đến những bất công thực sự phải chịu. Còn trường hợp những bất công do chúng ta nghĩ hoặc tưởng tượng, hoặc phóng đại, tuy có khác, nhưng hậu quả vẫn là một.

 

 

Bài viết liên quan:

Chầu Mình Thánh Chúa & Tĩnh tâm mùa Chay (bài 2)
Chầu Mình Thánh Chúa & Tĩnh tâm mùa Chay (bài 1)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài cuối)
Suy tư Thần học về Thánh Giuse
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 7)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 6)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 5)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 4)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô(3)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (2)
Page 1 of 22 (216 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
20
21
22
Next
Lời Chúa mỗi ngày
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1347
Tất cả: 70,006,947