Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy Ban Giáo dân (BÀI 2)

UBGD-HĐGM. VN

Ban Nghiên Huấn

BÀI 2 (PHẦN TU ĐỨC)

SỨ MẠNG THU PHỤC NGƯỜI TA (Lc 5,1-11)

Khi được hỏi, ngài tự xác định mình là ai-“Jorge Mario Bergoglio là ai?”, Đức thánh cha Phanxicô đã trả lời: “Tôi là một tội nhân. Đó là một định nghĩa chính xác nhất. Nó không phải là một lời nói bóng gió, một thứ văn chương. Tôi là một tội nhân". Một tội nhân được Chúa Giêsu yêu thương tha thứ và mời gọi bước theo Người. Đó là danh tính của thánh Phêrô, của Đức thánh cha Phanxicô, người kế vị thánh Phêrô, và cũng là danh tính của những ai sống ơn gọi tông đồ, trong đó có từng thành viên Hội đồng mục vụ chúng ta. Nhận biết mình là tội nhân được yêu thương tha thứ, đó là tâm điểm sứ mạng lãnh đạo mục vụ như thánh Phê-rô: “từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta” (Lc 5,10).

 

Hành trình trở nên người cảm hoá hay “thu phục người ta” khởi đi từ kinh nghiệm được thu hút và cảm hoá bởi lời Chúa. Thánh Phêrô hẳn đã kinh nghiệm được sức thu hút và cảm hoá này ngay cả khi ngài còn miệt mài với nghề nghiệp đánh cá của mình: “dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa” (Lc 5,1). Đức Giêsu thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ; và Người chọn bước xuống chiếc thuyền của ông Simon Phêrô. Đức Giêsu bước vào cuộc đời ông cách tinh tế và kín đáo, nhưng đó lại là cách Người chuẩn bị ơn gọi của ông, mời gọi ông trở nên người “thu phục người ta”.

 

Bị quấy rầy ngay khi đang bận rộn với công việc chính đáng của mình-đang giặt lưới, nhưng ông Simon Phêrô vẫn quảng đại với Đức Giêsu và cộng tác với Người ở nhiều cấp độ. Trước hết, ông cho Đức Giêsu mượn thuyền và giữ thuyền cho Người giảng dạy. Thứ đến, ông từ bỏ ý riêng để thực hiện sáng kiến của Đức Giêsu. Sau cùng, ông Simon Phêrô và các bạn đã “bỏ mọi sự mà theo Người”.

Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Một lời đề nghị trái khoáy. Ông đã vất vả cả đêm mà chẳng được gì; lưới lại bẩn và các ông còn đang phải giặt. Hơn nữa, ông chuyên nghiệp hơn Đức Giêsu. Thế nhưng, lời Đức Giêsu có sức thu hút, đã “thu phục” ông, nhưng rất kín đáo. Ông quăng lưới theo ý Đức Giêsu và kết quả là một mẻ cá lạ: “họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới”-lưới “hầu như” rách, nhưng không rách. Mẻ cá lạ là công trình cộng tác giữa ông Simon Phêrô và Đức Giêsu. Qua đó hẳn là ông Simon Phêrô cảm nghiệm được hiệu quả của Lời Chúa như thế nào.

 

Trước uy quyền của Đức Giêsu, ông Simon Phêrô thấy mình tội lỗi và bất xứng nên xin Chúa tránh xa mình: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”, nhưng Đức Giêsu không những không tránh xa, Người còn “sáp vô” và mời gọi: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Đức Giêsu mời gọi ông cộng tác vào sứ mạng của Người. Sau khi đưa thuyền vào bờ, các ông “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Trước đây các ông lo làm sao có nhiều cá để nuôi sống bản thân và gia đình mình, còn bây giờ các ông không bận tâm với cá, với bản thân và gia đình mình nữa, nhưng bận tâm đi theo Đức Giêsu. Gặp Chúa rồi, các ông thay đổi mối bận tâm, từ chỗ qui về mình đến chỗ hướng về Chúa; các ông bỏ mọi sự mà đi theo Người. Ông Simon Phêrô và các bạn không đặt điều kiện với Chúa, không tính toán hơn thiệt với Chúa. Họ đi theo Đức Giêsu vì chính sức thu hút của Người, để trở nên người có sức thu hút, cảm hoá và thu phục người ta.

 

Chèo ra chỗ nước sâu để thả lưới bắt cá”, đó là hình ảnh nói lên con đường phải đi của chính Đức Giêsu, của ông Simon Phêrô và của từng người chúng ta. Đó là hành trình “Vượt Qua”: phải ra tận chỗ nước sâu, nơi người ta chẳng còn cậy dựa vào bản thân hay những gì mình sở đắc, để chỉ còn tìm kiếm và cậy dựa vào ý Chúa; đó cũng là hành trình của người từng thành viên Hội đồng mục vụ khi đón nhận ơn gọi lãnh đạo cộng đoàn theo gương thánh Phêrô: “đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta” (Lc 5,11).

 

Hồi tâm.

  1. Đâu là “chỗ nước sâu” trong đời sống và việc phục vụ của tôi?

  2. Tôi lắng nghe và đáp lời mời gọi như thế nào khi lãnh đạo cộng đoàn? Tôi lãnh đạo theo tinh thần nào? Dựa vào đâu để tôi lãnh đạo và điều hành việc chung?

  3. Làm thế nào giúp anh chị em trong cộng đoàn giáo xứ ngày càng gia việc lãnh đạo?

 

Linh mục Toma Vũ Ngọc Tín SJ

 

BÀI 2 ( PHẦN MỤC VỤ)

 Đức Giêsu là con đường sự thật và sự sống

 

Lời mở

Cuộc đời con người giống như một con đường. Có con đường bằng phẳng, đầy bóng cây râm mát và ta đi dễ dàng trong ít phút, nhưng cũng có con đường khúc khuỷu, mấp mô, đầy thử thách, ta phải đi trong suốt cuộc đời. Ngoài những con đường hữu hình đo theo từng cột mốc, còn có những con đường vô hình được gọi là “đạo” như “đạo làm người, đạo làm con”. Đó là những đường lối hay nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong đời sống xã hội[1]. Những con đường tâm linh, được nhiều người đồng hoá với tổ chức tôn giáo như Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Hồi, Đạo Chúa…, lại còn có thể đưa con người vượt qua cả đời trần thế để đi vào cõi vĩnh hằng.

Vì thế, trong phạm vi bài này, chúng ta tìm hiểu về con đường của muôn loài, của Thiên Chúa và của Giáo hội Chúa Kitô để bước theo trong đời sống.

 

1. Con đường của muôn loài tìm về cội nguồn

Nhìn vào vũ trụ bao la, dù không phải là nhà khoa học, chúng ta cũng có thể thấy vạn vật chuyển động như đang đi chung một con đường. Sau vụ nổ lớn (Big Bang) đầu tiên cách đây 13,8 tỉ năm, các thành phần của vũ trụ là các thiên hà, các ngôi sao đang lao nhanh trong không gian và mỗi giây phút lại biến đổi và tiến hoá không ngừng[2] như đang tìm về một đích điểm. Nhà khoa học C.R. Darwin (1809-1882) còn mô tả cho ta quá trình tiến hoá này: từ vật chất vô cơ đến hữu cơ, từ đơn bào đến đa bào, từ sinh vật hạ đẳng đến thượng đẳng có tinh thần là chúng ta như “con người biết suy tư”, gọi là “homo sapiens”, xuất hiện cách đây khoảng 40.000 năm[3].

Hơn nữa, con người hiểu biết rằng vạn vật vô cùng kỳ diệu, được vận hành theo những định luật chính xác, giống như chiếc đồng hồ hết sức tinh xảo, nên không thể ngẫu nhiên mà có, mà cần phải do người thợ khéo léo, thông minh làm ra. Riêng con người có khoảng 75 ngàn tỉ tế bào trong cơ thể được chia thành 200 loại khác nhau, được tổ chức thành nhiều nhóm để tạo nên các mô, rồi thành các cơ quan như bộ não, tim phổi gan ruột, nhờ đó con người có thể suy nghĩ, rung cảm, yêu thương, chuyển động, tiêu hoá đồ ăn, sinh sản,[4]…quả là một cấu trúc nhiệm mầu.

 

Nhờ tinh thần biết suy tư, con người luôn đặt câu hỏi với mình: “Con người là gì hay là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu?”. Con người luôn muốn tìm ra cội nguồn của mình cũng là nền tảng tối thượng của mọi loài hiện hữu trong vũ trụ[5]. Trong đời sống ngắn ngủi, biến động, vô thường ở trần thế, con người ý thức và cảm nghiệm về đau khổ, bệnh tật, già yếu, chết chóc trong khi vẫn nuôi trong lòng khát vọng được sống tốt đẹp mãi mãi và được hưởng trọn vẹn tự do, công bằng, hạnh phúc, tình yêu, hoà bình…[6] .

Con người không muốn chỉ truyền lại sự sống và ước mơ của mình cho con cháu sau này, nhưng muốn chính mình đạt được khát vọng đó. Vì thế con người luôn cố gắng đi tìm con đường dẫn tới nguồn của mọi hiện hữu để “được cứu độ, giải thoát, được hoá thành thần thánh, được vào Niết Bàn, vào Thiên Đàng…”.

Đấy là con đường tự nhiên của vạn vật trong vũ trụ cũng là con đường tâm linh của con người[7].

 

2. Con đường của Thiên Chúa

Người Cha Tạo Hoá, mà mỗi tôn giáo gọi bằng tên khác nhau như Đức Chúa Trời, Thiên Chúa, Đức Thượng Đế, Đấng Cao Đài, Đấng Tối Cao…, đã vạch ra con đường yêu thương để muôn loài tìm về được với Ngài. Các nhà khoa học ngày càng kinh ngạc khi khám phá ra những định luật kỳ diệu trong từng cục đá tầm thường, từng bông hoa nay còn mai mất… như dấu hiệu của con đường siêu việt ấy ẩn giấu trong vạn vật. Muôn loài thọ tạo, vì được Thiên Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ tạo thành, nên đều được chia sẻ những phẩm tính cao đẹp vĩnh hằng của Thiên Chúa (x. Kn 1,13-15; Mt 6,25-32).

Con đường này càng rõ rệt và cụ thể hơn nơi con người vì con người được Ngài dựng nên theo hình ảnh Ngài với tinh thần mở rộng đến vô biên và với tình yêu tự do để đáp lại tình yêu của Đấng Tạo Hoá (x. St 1-3)[8].

Nhưng con người đã chối từ tình yêu này, muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời mình, cắt đứt với nguồn hiện hữu, nên con người đương nhiên mất hết những ân sủng cao quý Chúa ban: trẻ đẹp, khôn ngoan và sống mãi. Hành động chối từ của nguyên tổ Ađam-Eva nói lên thực trạng bất toàn của con người (x. St 1-3)[9]. Vạn vật, vì gắn bó một cách mật thiết với con người, nên cũng bị ép buộc lệ thuộc sự hư nát (x. Rm 8,28) do tội lỗi con người gây nên.

Vì thế, khi chiều theo những tham vọng và dục vọng, con người không còn nhận ra con đường của Chúa ghi khắc nơi vạn vật cũng như nơi chính mình. Con người quay sang tôn thờ những sức mạnh thiên nhiên, bái lạy các tượng thần tưởng tượng. Ngày nay con người còn tôn thờ cả tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp, tài năng, khoa học vì tưởng lầm rằng chúng có thể ban cho mình hạnh phúc, sự sống, tình yêu…

 

Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn đặt con đường của Ngài trong lương tâm ngay chính của con người để dẫn họ về với Ngài. Ngài đã chỉ bảo cho họ bằng nhiều cách khác nhau (x. Dt 1,14) và các tôn giáo được coi là những con đường tâm linh để giúp con người tìm về với Ngài. Những con đường ấy, dù còn những điểm bất toàn, sai lạc, có khi mê tín, nhưng thật sự cũng là những con đường được Chúa Thánh Thần soi sáng cho con người[10].

Thiên Chúa còn chỉ dạy con đường của Ngài qua lịch sử dân tộc Do Thái khi kêu gọi Abraham lên đường (x. St 12,1-5). Dân tộc Do Thái đã học kinh nghiệm đi với Thiên Chúa của mình (x. Mk 6,8), nhất là trong cuộc xuất hành qua hoang địa (x. Tv 68,8), có cột mây, cột lửa dẫn đường (x. Xh 13,21), với giao ước Mười Điều Răn như bộ luật đi đường, để vào được Đất Hứa. Cuối cùng, họ hiểu ra con đường của Giavê, Đấng hiện hữu, là con đường tình yêu và chân lý (x. Tv 25,10; Tv 136) chứ không phải là luật lệ hình thức và việc thờ phượng bên ngoài[11].

Sau những lầm lạc của dân Do Thái và mọi dân tộc, chính Thiên Chúa sẽ xây dựng một con đường mới (x. Is 49,11) cho muôn loài. Đó là con đường Giêsu.

 

3. Đức Giêsu là Con đường sự thật và sự sống

Việc Ngôi Lời Thiên Chúa trở thành con người chính là công trình Thiên Chúa xây dựng con đường của Ngài. Một Thiên Chúa tuyệt đối, vô hạn, siêu việt ở bên ngoài không gian, thời gian, đã trở thành một con người lịch sử hữu hình trong một không gian và thời gian nhất định. Con người đó là Đức Giêsu Nazareth. Thiên Chúa thực hiện công trình này do tình yêu thúc đẩy[12]  vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,6). “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài, thì khỏi phải chết nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Con đường Giêsu có 2 chiều: một chiều đi xuống từ phía Thiên Chúa đến với thụ tạo và một chiều đi lên để nâng thụ tạo thành thần linh, chia sẻ cho họ sự sống đời đời, giúp họ thoả mãn khát vọng sâu xa là trở thành Thiên Chúa như Ngài. “Không ai lên trời được ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13), chỉ cho họ con đường lên trời. Đây là điểm khác biệt của con đường Giêsu so với các con đường tâm linh một chiều khác trong lịch sử[13] .

Đức Giêsu thật sự là con đường dẫn đến sự thật toàn vẹn và sự sống vĩnh hằng khi Người công bố và minh chứng cho con người và vạn vật biết Người “con đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Người” (Ga 14,6)[14]. Người đã minh chứng con đường này bằng những lời giảng dạy đầy quyền năng, bằng những phép lạ, bằng cái chết trên thập giá và cuộc sống lại của Người. Như thế, con đường Giêsu không còn phải là những tín điều, những giáo thuyết, những nghi lễ hay luật lệ (x. Cv 9,2; 18,25; 24,22) nhưng là một con người sống động mà chúng ta cần tìm hiểu, đi theo, yêu mến và kết hợp thành một với Người.

Hơn nữa, Đức Giêsu còn đồng hoá mình với con người, nhất là với những ai đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, bị coi thường, bị tù tội (x. Mt 25,31-46) để mời gọi chúng ta yêu thương con người. Trong dòng lịch sử, nhiều tôn giáo đã có lúc quá chú trọng đến hình thức, nghi lễ dành cho thần linh, cho Thiên Chúa, mà coi nhẹ những hoạt động dành cho con người[15]. Đây cũng là một trong các nguyên nhân phát sinh ra những thái độ của con người chối bỏ thần thánh, tạo nên các chủ nghĩa vô thần. Những chủ nghĩa này đã nhân danh con người hay xã hội loài người để đòi lại những gì mà các tôn giáo đã dành cho thần linh, cho Thiên Chúa[16].

Vì thế, từ Công đồng Vaticanô II, Giáo hội Công giáo đã bắt đầu xây dựng một nền nhân bản, dựa vào Chúa Kitô và lấy con người làm gốc, để làm sáng tỏ mầu nhiệm về con người và mời gọi mọi người cùng tìm giải đáp cho những vấn đề chính yếu của thời đại[17]. Giáo hội Công giáo đã xác định rằng “con người là con đường của Giáo Hội”[18] và cũng là con đường của Thiên Chúa, vì “Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở thành Đức Giêsu Kitô (x. Ga 1,14). Người sống với con người để làm cho tất cả những giá trị của con người thành cao cả vô biên vì “mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ nơi Đức Giêsu Kitô”[19].

Lời kết

Khi hiểu được Đạo là Chúa Giêsu Kitô, chúng ta sẽ thấy việc đi đạo, theo đạo, giữ đạo, sống đạo chính là đi theo và kết hợp thành một với Chúa Giêsu trong tình yêu để chính mình lại trở thành con đường dẫn muôn loài về với Người.

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn đang theo đạo Công giáo, bạn hiểu đạo là gì?

2. Bạn đang quan tâm thế nào đến con người?

 


[1] X. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng-Vietlex, 2013, tr.386

[2] X. Hiên Phan, Thuyết Big Bang là gì?, Nguồn Space.com, Internet, 16/8/2005; Docat, câu số 2, tr.16.

[3] X. Bs. Alice Roberts, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.12-15

[4] X. Bs. Alice Roberts, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.18-24

 

[5]  X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 2, tr.16

[6]  X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 1965, số 10; Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, câu số 4, NXB Tôn Giáo, 2017, tr.18

[7]  X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 4, tr.17

[8]  X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội Công giáo, NXB Tôn Giáo, 2007, số 130; Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 53, tr. 64

[9]  X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 6, tr.19

[10] X. CĐ. Vat. II, Hiến chế Dei Verbum, số 2-6; x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn giáo, 2015, tr.245-251

[11] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 10-11, tr.21

[12] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 5, tr.19

[13] X. ĐTC Gioan Phaolo II, Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, số 6, 11; Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 13, tr.22; x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn giáo, 2015, tr.251-253

 

[14] X. Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 9, tr. 20-21

[15] X. Đức Giáo hoàng Phanxico, Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng,24/11/2013, số 49

[16] X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 19-21

[17] X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 10

[18] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội Công giáo, NXB Tôn Giáo, 2007, số 62; Docat, câu số 306, tr.277

[19] X. Công đồng  Vaticano II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 22

 

Linh mục Anton Nguyễn Ngọc Sơn

 

 

Phần I: KHÁI NIỆM VỀ HỘI THÁNH THEO VATICANO II

Bài 02 ( PHẦN HUẤN GIÁO)

NÊN THÁNH TRONG MỘT GIÁO HỘI THÁNH THIỆN

 

Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiên, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô (Ep 1,4-5).

 

Trở về với ý thức về sự thánh thiện Tin Mừng của tất cả mọi phần tử trong Hội Thánh là một trong những nét cơ bản của Hiến Chế Lumen Gentium. Đã từ lâu xem ra người ta giới hạn lời kêu gọi nên thánh vào bậc sống tu sĩ, thường được mệnh danh là bậc trọn lành, bậc thánh thiện. Nhiều người có khuynh hướng coi các giáo dân như những người đời (secular), những người thế tục có cuộc sống lỏng lẻo, tục hoá; và vì vậy họ chỉ là các Kitô hữu bậc hai, thua kém hàng giáo phẩm là những người có chức thánh, hay các tu sĩ là những vị được hiến thánh cho Chúa. Công Đồng dành cả chương V của Hiến Chế về Giáo Hội  để sửa sai quan niệm này. Chương V có nhan đề ‘Lời Kêu Gọi Mọi Người Nên Thánh Trong Giáo Hội’.

 

  • Định nghĩa sự thánh thiện Tin Mừng:

Công Đồng cho chúng ta một định nghĩa về sự thánh thiện chung cho mọi hạng người trong Giáo Hội như sau: “Những người được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn, nghe theo tiếng gọi của Chúa Cha, thờ phượng Ngài trong tinh thần và chân lý, noi gương Chúa Kitô nghèo khó, khiêm nhường và vác thập giá để xứng đáng tham dự vào vinh quang của Người; tất cả những người ấy cùng theo đuổi một sự thánh thiện tuy lối sống và nhiệm vụ của họ có khác nhau, cho nên mỗi người tùy theo ân sủng và nhiệm vụ mình, phải nhất thiết quyết tiến bước bằng con đường đức tin sống động, đức tin khơi động đức cậy, và hoạt động nhờ đức ái.” (LG 41)

Vì thế, trong và nhờ những trạng huống, chức nghiệp hay hoàn cảnh của cuộc sống, tất cả mọi Kitô hữu ngày càng được thánh thiện hơn, nếu họ biết tin tưởng lĩnh nhận tất cả mọi sự từ tay Cha trên trời, và biết cộng tác với thánh ý Thiên Chúa bằng cách tỏ lộ cho mọi người biết tình yêu Thiên Chúa đối với thế giới trong chính việc họ phục vụ trần thế.

 

  • Tín hữu giáo dân được thánh hoá trong Hội Thánh

Để có thể được thánh hoá, sau khi đã lĩnh nhận Phép Rửa ban Thánh Thần, tất cả mọi Kitô hữu bất luận đều cần tiếp tục kiện cường việc gắn kết với Đức Kitô. Qua việc lĩnh nhận các Bí Tích, Kitô hữu kín múc lấy nguồn sức sống là Đức Kitô là Đầu và Mục Tử, Người Tôi Tớ khiêm cung không ngừng hiến mạng sống mình vì phần rỗi mọi người (xem CFL số 21-22).

 

Do đó, chính vì sự thánh thiện của mình mà các Kitô hữu liên kết bền chặt với hàng giáo sĩ, vì nguồn mạch ơn thánh được tuôn đổ xuống các tín hữu qua các tác viên được chính Thánh Thần tuyển chọn, như thánh Phaolô đã xác quyết: “Chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và day dỗ. Nhờ đó dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta được hợp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,11-13).

Đó là lý do trước hết để họ lĩnh nhận cách sốt sáng các nguồn ơn thánh được Đức Kitô ban cho, thông qua các thừa tác viên của Người.

  • Các Kitô hữu giáo dân cũng tham gia vào việc thông truyền ơn thánh hoá (bên trong Hội Thánh.)

Các tín hữu giáo dân không tham gia vào sự thánh thiện của Đức Kitô cách thụ động. Kể từ ngày lĩnh nhận Phép Rửa ban Thánh Thần, và do chính ơn gọi chuyên biệt của mình, họ cũng tham gia vào sứ mạng tư tế, ngôn sứ và vương đế phổ quát của Đức Kitô (xem CFL 23), không những cho toàn thế giới, mà ngay trong lòng Hội Thánh nữa.

 

Vì thế, khi có nhu cầu, và sau khi đã được chuẩn bị thích đáng, một số trong họ được chọn để cộng tác với hàng giáo phẩm trong các nhiệm vụ thánh hoá, thông qua các công tác phụng vụ và bí tích khác nhau được trao phó cho họ (xem CFL 23).

Ngoài ra họ cũng được mời gọi cộng tác và chung tay vào việc điều hành Giáo Hội, nhất là trong những gì thuộc lĩnh vực tổ chức và quản trị mang tính đời, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, mà Hội Đồng Kinh Tế Giáo xứ và Giáo Phận là một điển hình (xin tham khảo Giáo Luật 537 và Tông Huấn CFL số 10).

 

Nhiều khi cũng rất cần sự phản hồi và đóng góp ý kiến của họ về những gì liên quan tới lĩnh vực mục vụ tại một địa phương nhất định, hầu các giáo sĩ có nhiệm vụ dẫn dắt và thánh hoá kịp thời điều chỉnh và phát huy hơn nữa việc phục vụ thánh hoá trong Hội Thánh sao cho hữu hiệu và đạt kết qua mong muốn. Thực vậy, Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân (CFL 27) khẳng định: “Hoạt động của họ bên trong cộng đoàn Giáo Hội là rất cần thiết, vì nếu thiếu, việc tông đồ của mục tử không thể đạt được kết quả sung mãn”.  Từ ý tưởng này chúng ta thấy xuất hiện các Hội Đồng Mục Vụ cấp giáo xứ và cấp giáo phận với nội dung rất quan trọng như trên (cũng nên tham khảo CIC các khoản 511, 536).

 

Ngoài ra vì mục đích gia tăng và kiện cường trách vụ thánh hoá bản thân cũng như cộng đoàn Giáo Hội địa phương, họ có thể, với sự chấp thuận của Đấng Bản Quyền, thành lập hay tham gia các hiệp hội đạo đức, tùy theo nhu cầu thiêng liêng đòi hỏi, và trong sự linh hứng của Thánh Thần thánh hoá (xem CFL 27-29).

  • Bổn phận thánh hoá chính của Kitô hữu giáo dân là thánh hoá thế giới.

  •  

Nếu toàn thể Hội Thánh nhận được mệnh lệnh lên đường của Đức Kitô là “anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi thọ tạo” (Mc 16,15) thì Kitô hữu Giáo Dân là thành phần chính có bổn phận đem Tin Mừng vào trong các lĩnh vực trần thế, vì lối sống và tác vụ của họ là như thế. Quả thật, Tông Huấn CFL số 33 khẳng định: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mệnh loan báo Tin Mừng, các bí tích khai tâm Kitô giáo và các ân huệ Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng cho họ và thúc giục họ thi hành sứ mạng này”. Sự hiện hiện sâu rộng của họ trong mọi lĩnh vực của thế giới con người làm cho họ hơn ai hết có khả năng đem Tin Mừng và các giá trị của nó đến cho thế giới.

 

Câu hỏi gợi ý:

  • Bạn có ý thức rằng, dầu hàng Giáo sĩ không làm nên Hội Thánh, nhưng vì nhận được tác vụ thánh hoá từ Đức Kitô trao ban để phục vụ toàn thể Dân Chúa, nên vai trò thánh hoá của họ phải luôn được tôn trọng không?

Bạn có ý thức đang góp phần mình vào việc xây dựng nhiệm thể Đức Kitô khi tham gia vào các hoạt động của Hội Thánh không?  

 

Linh mục Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

Bài 02 (PHẦN QUẢN TRỊ MỤC VỤ)

MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ

SỨ VỤ CỦA HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ

 

 “Sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc”. (Mt 20,2).

 

Sau khi đã thoả thuận với thợ...

Khi sánh ví các hoạt động trong “Nước Trời có phần giống như việc làm của những người thợ tại vườn nho – trong đó có vai trò rất đặc biệt của vị “mục tử riêng” (proper pastor)[1] tại vườn nho “giáo xứ” – Ki-tô hữu không được phép quên rằng, Vị Mục Tử Nhân Lành (Bon Pasteur, Good Shepherd) là gia chủ duy nhất của vườn nho.[2] Chính Vị “Mục Tử Nhân Lành-Gia Chủ Duy Nhất” ra mướn các thợ vào làm việc trong vườn nho của mình.

 

Theo đó, những người thợ, cả vị mục tử riêng với ơn gọi riêng, với nghĩa vụ được ủy thác riêng, cả quý chức các hội đồng, hội đoàn của giáo xứ, và tất cả những ai với thiện chí đáp lại lời mời gọi từ Vị “Mục Tử Nhân Lành-Gia Chủ Duy Nhất” mà hăng hái vào vườn nho làm việc sẽ được lãnh mỗi ngày một quan tiền”.[3] Thật vậy, “sau khi đã thỏa thuận với thợ...,[4] một thỏa thuận (agreement) trong “Tin-Cậy-Mến” như thế, có thể sánh ví như một hợp đồng (contract) như ý, mỹ mãn, thỏa chí toại lòng (win-win solution);[5] mà trong đó, hợp đồng “mỗi ngày một quan tiền” của các thợ vườn nho “giáo xứ” liên quan đến mọi người dân xứ, cách riêng là các thành viên hội đồng mục vụ giáo xứ với những quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể.[6]

 

Mỗi ngày một quan tiền (usual daily wage)

Vâng, ở đây, “mỗi ngày một quan tiền” cho mọi người thợ cũng đồng nghĩa với “mỗi ngày một quan tiền” cho từng người thợ. Thỏa thuận này giữa Vị “Mục Tử Nhân Lành-Gia Chủ Duy Nhất” với các người thợ là chuẩn mực cần và đủ.[7] Thỏa thuận này hướng đến ngày mùa cánh chung, hướng đến Vườn nho Thiên Quốc, áp dụng đúng cho người vào làm việc hăng say trong vườn nho hạ giới mà lòng luôn hướng về thượng giới, “ái mộ những sự trên trời”. Thật vậy, tại vườn nho giáo xứ, các người thợ là tất cả mọi người trong giáo xứ, có thể được áp dụng cách riêng cho quý chức, cách riêng hơn nữa chính là các thành phần thuộc hội đồng mục vụ giáo xứ.

Theo tập Gợi ý cho một quy chế hội đồng mục vụ giáo xứ của Ủy ban Giáo Dân (HĐGMVN), ra ngày 04 tháng 4 năm 2010, các thợ vườn nho được lãnh “mỗi ngày một quan tiền” là các thành viên hội đồng mục vụ giáo xứ với các ý nghĩa “hẹp, rộng, mở rộng”: “(1) nghĩa thứ nhất (hẹp): hội đồng mục vụ giáo xứ gồm ban thường vụ và các ủy viên; (2) nghĩa thứ hai (rộng): hội đồng mục vụ giáo xứ gồm ban thường vụ, các ủy viên, các trưởng của các giáo họ (ban chấp hành), các trưởng của các giới (ban trị sự), và các trưởng của các hội đoàn (ban phục vụ); (3) nghĩa thứ ba (mở rộng): hội đồng mục vụ giáo xứ gồm ban thường vụ, các ủy viên, tất cả các thành viên thuộc các ban chấp hành các giáo họ, các ban trị sự các giới, và các ban phục vụ các hội đoàn trong giáo xứ.[8]

 

Được sai vào vườn nho làm việc

Nói tóm lại, khi được sai vào vườn nho làm việc, quý chức hội đồng mục vụ giáo xứ với “cơ chế gồm giáo sĩ, tu sĩ và nhất là giáo dân (đại đa số là giáo dân) thuộc giáo xứ:[9] (1) được giám mục giáo phận cho phép thành lập (nếu ngài xét thấy thuận lợi);[10] (2) có quyền tư vấn và được điều hành theo các quy tắc do giám mục giáo phận ấn định;[11] (3) cộng tác với linh mục chính xứ thi hành sứ vụ Tin mừng, góp phần xây dựng giáo xứ thành một cộng đoàn dân Thiên Chúa, sống làm chứng và loan truyền Tin mừng, yêu thương, phục vụ cho sự sống và phẩm giá con người; (4) đặc biệt cộng tác với linh mục chính xứ trong việc quản trị giáo xứ, tổ chức và điều hành các sinh hoạt trong giáo xứ, xây đắp tình liên đới, hiệp thông của những người anh chị em thuộc gia đình giáo xứ”.[12]

Trong vườn nho giáo xứ, mọi người dân xứ – cách riêng là quý chức hội đồng mục vụ giáo xứ – đều “được sai vào vườn nho làm việc”, đều là những thợ vườn nho.

 

29-6-2018

GTHH

 


[1] X. Ban Nghiên Huấn (UBGD), “Vị mục tử riêng của giáo xứ” trong Bài 01, ngày 29-5-2018.

[2] X. Ga 10,1-39; Mt 20,1.

[3] Mt 20,2. Trong ngữ cảnh của câu Thánh kinh này, “mỗi ngày một quan tiền” là khát vọng cần và đủ cho mọi con người.

[4] Mt 20,2. “A contract is a promise or set of promises that are legally enforceable and, if violated, allow the injured party access to legal remedies” (https://www.iaccm.com/resources).

[5] X. Steven Croft, ed., The Future of the Parish System (Lon-don: Church House Publishing, 2006), 75-90.

[6] Bởi lẽ, hợp đồng là sự thỏa thuận, có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản, khi đã được xác lập, các bên tham gia phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo “hợp đồng”.

[7] Chủ đề ơn cứu độ duy nhất qua Đức Ki-tô và tính phổ quát của ơn cứu độ (universality of salvation) được lặp lại nhiều lần trong Công vTông Đồ (x. Kaiser W. C., Hard Sayings of the Bible (Downers Grove, Illinois: InterVarsity, 1997), 500-2.

[8] X. Ta, Thần học mục vụ... (TP. HCM: Nxb. Tôn Giáo, 2015), 753-4.

[9] X. Mt 20,1-7; BGL 1983, đđ. 228; 512; 532; 536; 537.

[10] X. BGL 1983, đ. 536 §1.

[11] X. BGL 1983, đ. 536 §2.

[12] X. TGP. Sài Gòn-TP. HCM, “Điều 3. Hội đồng mục vụ giáo xứ” trong Quy chế hội đồng mục vụ giáo xứ năm 2002

 

 

Bài viết liên quan:

Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy Ban Giáo dân (BÀI 4)
Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy Ban Giáo dân (BÀI 3)
Thánh Tôma Aquinô cho biết các lý do khiến lời cầu nguyện không được nhậm lời
Linh mục có được phong thánh và gia vạ tuyệt thông cho ai không?
Nghiên huấn tu đức của UB. Giáo dân: Ơn gọi lãnh đạo mục vụ
Thiên Chúa có làm cho người ta đồng tính không? Một nhà thần học trả lời.
Tóm Lược Đạo Công Giáo
Làm sao phân biệt tôn giáo thật với tôn giáo giả?
Tại sao cần đọc các giáo phụ
"Các tai ương ở Ai Cập"
Page 1 of 17 (165 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
15
16
17
Next
Lời Chúa mỗi ngày
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1002
Tất cả: 52,102,050