Chủng Viện Á Thánh Phụng Châu Đốc 1963

TIỂU CHỦNG VIỆN

 

Chủng Viện Á Thánh Phụng Châu Đốc 1963

Năm nay lớp chúng tôi kỉ niệm năm mươi năm vào tiểu chủng viện (1968-2018). Nhận ra những dấu ấn tốt đẹp mà nếp sống tiểu chủng viện đã để lại trong suốt cuộc đời của mình, những anh em linh mục và cả những anh em đã rẽ hướng, đều vui mừng cử hành biến cố này một cách long trọng. Riêng tôi những ngày tháng này tâm hồn tôi tràn ngập những hình ảnh và kí ức về tiểu chủng viện. Tuy nhiên tôi cứ buồn buồn khi nghĩ rằng tiểu chủng viện có lẽ chỉ còn lưu lại trong sử sách của Giáo hội thôi. Nhưng khi tìm hiểu thêm tôi mới biết nhiều giáo phận trên thế giới vẫn còn tổ chức tiểu chủng viện. Tiêu biểu nhất, đó là một giáo phận bên nước Uganda, một quốc gia thuộc miền đông châu Phi có đến 40% công giáo, là quê hương của thánh Lwanga và các bạn tử đạo, tại đây tiểu chủng viện Nswanjere của tổng giáo phận Kampala được thành lập năm 1964 đã hoạt động xuyên suốt hơn 50 năm qua, và họ mới mừng kim khánh thành lập ngày 2 tháng 2, 2014. Ở một nước khác, nước Lithuania một quốc gia thuộc vùng biển Baltic, miền đông bắc châu Âu, có hơn 79 % công giáo, chiếm số tín hữu công giáo đông nhất trong các nước vùng Baltic, cũng có tiểu chủng viện. Chủng viện ở đây đã gặp rất nhiều khó khăn khi quân đội Xôviết tràn vào xâm chiếm lãnh thổ nước này năm 1940. Khi đó các chủng viện phải đóng cửa, mãi đến năm 1989 chủng viện mới được mở lại. Các đấng bản quyền tại đây đã quyết định mở một tiểu chủng viện tại Žemaičių Kalvarija, cũng là trung tâm hành hương của Lithuania. Gần 50 năm không có chủng viện để đào tạo linh mục chăm sóc mục vụ cho hai triệu tín hữu, chúng ta thấy Giáo hội Lithuania gặp khó khăn như thế nào. Ngoài ra, gần chúng ta hơn Giáo hội Philippines cũng còn tiểu chủng viện. Một số giáo phận tại Hoa Kỳ và Canada cũng vẫn duy trì và tổ chức tiểu chủng viện. Chúng ta không biết tiểu chủng viện ngày nay được tổ chức như thế nào, nhưng cứ nhìn vào hình ảnh những chú bé Uganda sinh hoạt đạo đức, học tập, đá banh, làm công tác vệ sinh…thấy thật dễ thương và mến nhớ vô cùng.

 

Như vậy tiểu chủng viện vẫn còn vị trí của nó trong Giáo hội. Mặc dù lớp tiểu chủng viện của chúng tôi bắt đầu năm 1968, tức là sau Công đồng Vatican II (1962-1965) đã ba năm, Giáo hội đã có những văn kiện hướng dẫn việc đào tạo linh mục, (văn kiện chính là Optatam Totius, ban hành ngày 28 tháng mười 1965), tuy nhiên việc tổ chức tiểu chủng viện của chúng tôi thời ấy vẫn còn ít nhiều theo đường hướng của Công đồng Trento (1545–1563). Công đồng Trento trong phiên họp thứ 23 vào tháng bảy năm 1563 đã dành một chương khá dài, chương 18 để nói về việc thiết lập các chủng viện và đào tạo hàng giáo sĩ. Tài liệu sau đó đúc kết thành văn kiện chính thức là sắc lệnh Cum Adulescentium Aetas (1563). Trento đã quyết định các nhà thờ chính tòa phải có chủng viện bên cạnh; các giáo phận cũng phải có chủng viện riêng của mình để đào tạo giáo sĩ. Như vậy hệ thống chủng viện như chúng ta thấy chỉ mới bắt đầu vào thế kỉ XVI, trước đó việc chuẩn bị cho chức linh mục thì không chính thức. Thí dụ vào thời của thánh Augustinô (422), gần ngôi nhà của ngài tại Hippo ngài lập ra một “monasterium clericorum” nơi các giáo sĩ chung sống với nhau. Và những ai muốn trở thành giáo sĩ thì phải vào sống trong ngôi nhà này. Trong những năm ấy “monasterium clericorum” của ngài đã sản sinh cho giáo hội châu Phi 10 giám mục. Mô hình của thánh Augustinô sau đó được nhân rộng ra nhiều nơi, ở Milan, Nola rồi Rôma. Năm 531 Công đồng ở Toledo phán quyết rằng giáo sĩ phải được đào tạo trong “domo Ecclesiae” (ngôi nhà của giáo hội). Rồi cũng Công đồng này, năm 633 đã quyết định phải đào tạo các thiếu niên trở thành giáo sĩ hết sức sớm có thể để tránh đi những phân tán nội tâm do những “thú vui thế gian vô ích” lôi cuốn…Những đường hướng mục vụ mở đầu này sau đó đã được đưa vào văn bản chính thức của giáo hội. Có thể nói trong bảy thế kỉ đầu của giáo hội việc đào tạo linh mục hệ tại việc tiếp xúc cá nhân với giám mục địa phương, để các ứng sinh tập thi hành các chức nhỏ tại các nhà thờ. Các giám mục và các giáo sĩ hữu trách ở những nhà thờ chính tòa quy tụ những ứng sinh trẻ tuổi lại trong nhà ở của mình, rồi dạy bảo hướng dẫn họ trở thành giáo sĩ. Các giám mục chủ yếu được chọn từ trong các tu viện nơi các ngài đã được thụ huấn và đào tạo theo các môn học của hàng giáo sĩ.

Tuy không được tổ chức chính thức nhưng không phải vì vậy mà việc đào tạo linh mục được coi là lơ là, “có sao nên vậy!”. Tuyển chọn một ứng sinh vào chức thánh luôn là một công việc hết sức hệ trọng trong truyền thống của giáo hội. Ngay từ thời giáo hội sơ khai thánh Phaolô đã đưa ra một bản hướng dẫn để tuyển chọn các kì mục cho các cộng đoàn của mình. Ngài căn dặn Timôthê không được vội đặt tay trên những người chưa được coi là xứng đáng (1 Tm 5,22). Có lẽ chính vì vậy mà Công đồng Trento đã đề ra một bản quy luật rất chặt chẽ cho việc đào tạo giáo sĩ. Thí dụ, phải chọn vào tiểu chủng viện các trẻ em mới bắt đầu 12 tuổi, ưu tiên chọn con nhà nghèo, phải là con của đôi vợ chồng có hôn nhân hợp pháp, phải mặc y phục giáo sĩ, phải cắt tóc ngắn…và rất nhiều quy định nghiêm ngặt khác trong đời sống đạo đức và luân lí của hàng giáo sĩ. Chắc chắn Trento đặt nặng nếp sống kỉ luật bản thân, khổ hạnh, sống từ bỏ và tiết chế trong bậc sống giáo sĩ. Điều mà ngày nay chúng ta coi là thiếu nền tảng nhân bản khi bắt các trẻ em mới 12 tuổi phải rời xa gia đình, phải sống xa cách tình thương của cha mẹ và người thân, như vậy tạo cho người linh mục sau này mất quân bình về tâm cảm, nhưng vào thời trước người ta cho rằng phải đào tạo các trẻ em hết sức sớm có thể, để thứ nhất, dễ huấn luyện uốn nắn và, thứ hai để tránh tập nhiễm các khuynh hướng xấu của bản thân, cũng như những thói xấu của xã hội.

 

Lịch sử thiết lập chủng viện thì dài, và có ít nhiều thay đổi tùy từng thời điểm và từng miền khác nhau. Thí dụ các tiểu chủng viện ở Việt Nam chắc chắn có pha thêm những nét kinh nghiệm của tổ chức nhà Đức Chúa Trời, nhà tràng, nên các chủng sinh sống với nhau như trong bầu khí một gia đình: các cha giáo đáng yêu đáng kính thay cho cha mẹ; các chú sống với nhau như anh em. Tình thân đó đậm đà, gắn bó và kéo dài mãi như chúng ta thấy. Tuy cách tổ chức có khác nhau, nhưng mục đích hướng đến đều là đào tạo một con người trở thành linh mục toàn vẹn để phục vụ giáo hội. Quyết định của Trento về việc xây dựng chủng viện thì tiến triển chậm. Có những giáo phận phải vào cuối những năm 1600, thậm chí đến cuối năm 1700 mới thiết lập chủng viện. Tuy nhiên việc đào tạo linh mục thời hậu Trento mở ra trong Giáo hội nhiều tổ chức nổi bật. Trong số này chúng ta không thể không nhắc đến hai tổ chức ít nhiều ảnh hưởng đến công việc đào tạo tại Việt Nam, đó là Hội các cha Thừa Sai Vinh Sơn, do thánh Vinh Sơn Phaolô (1581-1660) thành lập, và Hội Xuân Bích do cha Jean-Jacques Olier (1608-1657)thành lập. Lịch sử cho biết đây là hai cột trụ của công trình đào tạo linh mục, không chỉ ảnh hưởng riêng trong nước Pháp mà còn trên phạm vi toàn cầu. Đường hướng đào tạo của Thừa Sai Vinh Sơn và Hội Xuân Bích bảo đảm một đời sống đạo đức và nội tâm vững chắc nơi hàng giáo sĩ.

 

Bắt đầu thời cận đại người ta thấy có một bước ngoặt trong việc tổ chức và đào tạo chủng viện. Người canh tân công việc trọng đại này là Đức Giáo hoàng Piô XII. Trong tông huấn Menti Nostrae (1950) ngài đã mạnh mẽ bác bỏ các quy định quá nghiêm ngặt quá chi tiết trong chương trình đào tạo chủng sinh; ngài loại bỏ việc giám thị quá chặt chẽ đối với người được đào tạo. Ngài mong muốn các chủng sinh phải được hướng dẫn và rèn luyện trong “một môi trường không được tách biệt với thế giới bên ngoài”. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải huấn luyện các nhân đức siêu nhiên dựa trên một nền tảng tự nhiên vững chắc, thí dụ lòng trung thành, sự thành thật, tình bạn…Người ta nhận ra ngay rằng những chủ trương của Đức Piô XII mang nhiều nét rộng mở hơn của Đức Gioan XXIII trong thông điệp Sacerdotii Nostri (1959), một văn bản cũng nói đến đào tạo linh mục. Và tài liệu đào tạo linh mục của Vatican II, Optatam Totius đã có nhiều điểm quy chiếu vào giáo huấn mà Đức Piô XII đã đề ra. Văn bản này nói đến một nhu cầu quan trọng của việc đào tạo các ứng sinh linh mục là phải dựa trên sự hài hòa và quân bình tâm lí, tạo nên những tiếp xúc cởi mở đối với mọi con người, gắn bó gần gũi với gia đình, yêu mến những giá trị tốt đẹp…Nhất là việc đào tạo thiêng liêng phải được kết hợp chặt chẽ với việc đào tạo trí thức. Cuối cùng ngày nay chúng ta có tông huấn Pastores Dabo Vobis (25-3-1992) một tài liệu của hậu Thượng Hội đồng Giám mục 1990 về đào tạo linh mục trong hoàn cảnh ngày nay. Tông huấn này đặt việc đào tạo trên bốn chiều kích: nhân bản, thiêng liêng, trí thức, mục vụ. Riêng Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ còn thêm chiều kích đào tạo đời sống cộng đoàn. Những chiều kích đào tạo này nhằm giúp các linh mục trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Linh Mục, hi sinh phục vụ con người.

 

Nhớ lại năm mươi năm bước vào đời tu trì bằng việc tìm hiểu một chút về lịch sử thành lập chủng viện để thấy mình đã được ươm trồng một cách quá là kĩ lưỡng và do đó để tạ ơn Chúa nhiều hơn. Những dòng tài liệu ngắn ngủi này chắc chắn cũng khơi lên trong chúng ta lòng yêu mến giáo hội, yêu mến các bậc chủ chăn trong giáo hội, nhất là cảm thông với trách nhiệm nặng nề của giáo hội trong việc đào tạo linh mục. Nhờ đường hướng đào tạo nghiêm ngặt mà Công đồng Trento đã sản sinh ra biết bao vị thánh, bao nhiêu vị chủ chăn tài đức, bao nhiêu nhà truyền giáo, bao nhiêu nhà tư tưởng lớn như chúng ta thấy xuất hiện trong giáo hội những thế kỉ qua. Có lẽ hầu hết các vị chủ chăn của giáo hội Việt Nam hôm nay cũng đều xuất thân từ các tiểu chủng viện. Từ Công đồng Trento đến hôm nay lịch sử chủng viện đã trải qua gần năm thế kỉ, bao nhiêu thế hệ con người đã trôi qua, bao nhiêu hoàn cảnh lịch sử đã đổi thay, nhưng giáo hội vẫn luôn trung thành với sứ vụ khó khăn của mình, không ngừng canh tân cũng như thích nghi phương thức đào tạo nhằm làm xuất hiện những linh mục thánh thiện tốt lành để phục vụ giáo hội và con người.

Giuse Ngô Quang Trung

 

Bài viết liên quan:

Thánh lễ An táng Cha Phêrô Vũ Quang Thành
Điếu văn LM Phêrô Vũ Quang Thành
Thánh lễ An táng Cha Cố Giuse Vũ Tuấn Tú
Thư mục vụ của Đức giám mục Giáo phận tháng 10/2018
Khóa huấn luyện kỹ năng mục vụ chăm sóc bệnh nhân năm 2018
Nhà Dự Tu Têrêxa: Thánh lễ Khai giảng Năm học 2018 - 2019
Thánh lễ lập lại lời khấn của các chị Tu hội Nguồn Sống
Bàn giao mặt bằng ĐCV Toma (cũ) cho Tòa Giám mục Long Xuyên
Thánh lễ An táng Cha Cố Phanxicô Xaviê Hoàng Đình Mai
Lễ nhận chức cha sở Nhà thờ Chính tòa Long Xuyên
Page 1 of 37 (370 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
35
36
37
Next
Bài viết mới
Thống kê Truy cập
Đang online: 1406
Tất cả: 53,219,983