Gia đình, tác nhân chính yếu của sứ mạng Phúc âm hóa

Gia đình, tác nhân chính yếu của sứ mạng Phúc âm hóa

 “Anh em sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa giữa một thế hệ gian tà, sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống…” (Pl 2, 15-16).

 

Phúc âm hóa và tân phúc âm hóa là gì?

– Nghĩa chữ “Tân”: Tân có 12 chữ Hán, nghĩa chính là: “mới”, thay đổi cho mới, những cái mới, những gì mới xuất hiện.

– Nghĩa chữ “Phúc”: Phúc có 9 chữ Hán, nghĩa chính là: những sự tốt lành, điều may, những điều tốt đẹp trời đất ban để thỏa mãn nguyện vọng của con người.

– Nghĩa chữ “Âm”: Âm có 11 chữ Hán, nghĩa chính là tiếng phát ra bởi vật thể bị chấn động, tin tức.

– Nghĩa chữ “Hóa”: Hóa có 2 chữ Hán, nghĩa chính là dạy, giáo dục, thay đổi, biến đổi. Nếu đặt sau danh từ hay tĩnh từ thì có nghĩa là chuyển biến trạng thái hay tính chất của vật, làm cho trở thành, biến thành, làm cho thấm nhuần.

(Trích trong tập Bài giảng Chúa Nhật của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, tháng 2-2013, mục “Mỗi tháng một từ”, linh mục Huỳnh Trụ)

 

Tân phúc âm hóa là gì?

  • Tân phúc âm hóa là canh tân, đổi mới việc phúc âm hóa, canh tân việc thông truyền rao giảng Phúc Âm, chứ không phải là rao giảng một Phúc Âm mới vì trên trần gian này mãi mãi chỉ có một Phúc Âm duy nhất mà Đức Giêsu Kitô đem đến cho mọi người “Đức Giêsu Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi là một” (Dt 13, 8).
  • Khi nói đến tân phúc âm hóa hay tái phúc âm hóa thì điều đó có nghĩa trước đó đã phải tồn tại việc phúc âm hóa. Tài liệu làm việc của Thượng hội đồng giám mục thế giới họp năm 1974 về đề tài “Evangelization in the Modern World” cho biết rằng thuật ngữ phúc âm hóa (evangelization) có thể hiểu theo bốn nghĩa:

– Nghĩa rộng: tất cả mọi công việc nhằm làm cho thế giới trở nên phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

– Nghĩa hẹp: việc thi hành các hoạt động ngôn sứ, tư tế và vương đế nhằm xây dựng Hội Thánh theo ý định của Chúa Kitô. Theo nhĩa này, nó đồng nghĩa với sứ mạng đặc thù của của Hội Thánh (để phân biệt với hoạt động của các tổ chức hoặc xã hội trần thế).

– Nghĩa chặt: tất cả những hoạt động nhằm giúp lương dân nhận biết Chúa cũng như giúp các tín hữu sống đức tin. Nghĩa là giới hạn vào việc thi hành công tác ngôn sứ (rao giảng Tin Mừng, dạy giáo lý, giảng thuyết, v.v).

– Nghĩa chuyên môn: việc rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa.

  • Nói một cách cụ thể, là làm cho thế giới thấm nhuần sứ điệp Phúc Âm, các giá trị của Tin Mừng để mọi người sống theo tinh thần Phúc Âm.

 

Phúc Âm/Tin Mừng là gì?

  • Phúc Âm có nội dung gần với triết lý và văn hóa Đông Phương, có Ngũ Phúc hay Phúc Lộc Thọ, nhất là có thể hội nhập với giáo lý Kitô giáo. Mặc dầu rất nhiều tài liệu vẫn dùng cả Phúc Âm và Tin Mừng lẫn lộn, nhưng không thấy dùng “những lời khuyên Tin Mừng” và cũng không thấy dùng “Tân Tin Mừng hóa”. Cụm từ phúc âm hóa bao hàm một nội dung rất gần gũi với đức tin Kitô giáo. Chính vì thế trong thời Kitô giáo mới được truyền bá đến nước ta thì sách Phúc Âm được gọi là sách Evan, viết tắt của tiếng La Tinh Evangelium, rồi sau đến từ Phúc Âm, có nguồn gốc Hán nôm và rồi sau này thường được gọi là Tin Mừng.
  • Phúc Âm hay Tin Mừng quy chiếu về chính con người của Đức Giêsu, triều đại của Người, cuộc sống và giáo huấn của Người, mà theo nghĩa hẹp chỉ về bốn cuốn Phúc Âm, hay Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô theo thánh Mathêu, Mác-cô, Luca và Gioan.
  • Đối với Kitô giới, Tin Mừng đã thực sự khởi đầu với việc: Thiên sứ ngỏ lời trấn an: Đừng sợ! Tôi đến để loan Tin mừng, Tin vui cho khắp muôn dân: Hôm nay chính Đấng Cứu Tinh ra đời, Con Chúa xuống thế làm người. Trong thành Đa-vít ở gần đây thôi. (Lc 2, 10-11)
  • Và lời loan tin này đã trở thành Tin Mừng thực sự với lời loan báo Tin Mừng Phục sinh của bà Maria Madalêna: Maria vội vã lên đường: Báo với môn đệ mình đã gặp Thầy. Rồi bà kể lại đầu đuôi. Những gì Người đã nói riêng với bà. (Ga 20, 18)

 

Sống Phúc Âm là bản chất của Kitô giáo

  • Là Kitô hữu mà không biết đến Phúc Âm thì liệu có còn phải là Kitô hữu không như thánh Hiêrônimô nói: Không biết Kinh Thánh, là không biết Đức Kitô. Như thế Kinh Thánh, Phúc Âm phải là cuốn sách được đọc trước tiên, đọc nhiều nhất, cuốn sách gối đầu giường, cuốn sách được tham khảo nhiều nhất, thậm chí thuộc nằm lòng nhất đối với Kitô hữu.
  • Lời kêu gọi phúc âm hóa, hay Tái phúc âm hóa không phải là lời kêu gọi có tính cách phong trào, cũng không phải là một phương thế cạnh tranh tôn giáo nhằm chiêu dụ tín đồ hay để tồn tại, mà đúng hơn và trước hết là một lời kêu gọi trở về với bản chất, và nguồn cội của Kitô giáo: phúc âm hóa là bản chất và là sứ mạng của Giáo hội.

 

Vì sao phải tái phúc âm hóa hay tân phúc âm hóa?

  • Khi kêu gọi phúc âm hóa, hay tái phúc âm hóa, điều này có nghĩa là trong thực tế đã có thời gian người Kitô không sống Phúc Âm hay lơ là, xao nhãng trong việc sống Phúc Âm. Đúng vậy, trong lịch sử Giáo hội Công giáo, đặc biệt vào thời Trung cổ, Kinh Thánh đã bị quên lãng ngay cả trong các thành phần lãnh đạo của Giáo hội. Cái quá khứ đó đã để lại một ảnh hưởng tiêu cực trong tín hữu Công giáo mãi cho đến ngày nay.
  • Nếu như đối với người Hồi giáo, việc học Kinh Koran là điều bắt buộc từ nhỏ, đối với anh em Tin Lành, họ cũng được dạy học Kinh Thánh từ nhỏ, còn đối với người Công giáo thì sao?
  • Kinh Thánh là một cuốn sách nằm trong thư viện cổ kính, phủ bụi, dành cho linh mục tu sĩ, chỉ họa hiếm tham khảo khi cần, hoặc may thay, chỉ được biết đến qua thánh lễ Chúa nhật hay ngày thường. Tuy giờ đây việc học Kinh Thánh, đọc Kinh Thánh được lưu ý hơn nhưng trong thực tế hiếm hoi và vẫn còn mang tính phong trào. Ngoài ra con người sống đầu đội trời, chân đạp đất, trời thì xa, nhưng đất lại quá gần, tạo nên chính con người mình. Bởi thế con người ít nhiều đều bị bị lây nhiễm bởi môi trường mà mình sống nơi mình hít thở mỗi ngày không khí độc hại ô nhiễm mà còn bởi hơi hướng của nền văn minh sự chết theo ngôn ngữ của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Đấng mà từ năm 1978 đã kêu gọi việc Tân (Tái) phúc âm hóa. Chính vì thế đến nay, rất nhiều lần lời kêu gọi ấy được lặp đi lặp lại.
  • Do đâu mà lời kêu gọi phúc âm hóa vẫn chưa thực sự mang lại kết quả mong muốn? Vì rất nhiều lý do. Trước tiên vì bản thân những người thực hiện sứ mạng phúc âm hóa chưa thực sự sống Phúc Âm, hay chưa cảm thấy được niềm vui thực sự của việc sống Phúc Âm mà có khi chỉ thực hiện như một việc phải làm, như một nhiệm vụ phải thi hành mà thôi.
  • Làm sao có thể thực hiện sứ mạng phúc âm hóa, hay Tân phúc âm hóa khi bản thân ta không biết, không sống Phúc Âm, không cảm thấy Phúc Âm thực sự là lời mang lại hạnh phúc cho chính bản thân mình, không cảm thấy Tin Mừng mà mình rao giảng là Tin mang đến niềm vui đích thực cho cuộc đời mình.
  • Thật nguy hiểm biết bao nếu những đấng bậc quen làm thầy giảng, mắc bệnh nghề nghiệp chỉ chú tâm sao giảng cho hay, cho trung thành với những đòi hỏi của Phúc Âm nhưng lại lơ là hay quên bẵng việc sống điều mình giảng. Chính vì kinh nghiệm hiện sinh đáng buồn này mà trong lời huấn từ của vị giám mục chủ phong đối với các tân chức đều lặp lại công thức này: Con hãy tin điều mình đọc, dạy điều mình tin, sống điều mình dạy.
  • Chính vì thế có gì lạ đâu khi người Công giáo vẫn đi lễ được nghe các linh mục giảng hằng tuần, thậm chí hằng ngày chưa nói là còn tham gia những khóa học Kinh thánh, hay Giáo lý từ bao nhiêu năm rồi vậy mà thử hỏi được bao nhiêu người cảm nhận được niềm vui của ơn giải thoát và cứu độ mà Đức Giêsu mang đến và trở nên nhân chứng cho Tin Mừng?

Hay:

Linh mục giảng lễ hằng ngày,

Giáo dân có mặt ngày ngày lắng nghe.

Mọi người đều thấy yên tâm,

Ít nhiều thỏa mãn lương tâm của mình.

Còn Lời Chúa nói mặc Người,

Giảng nghe, nghe giảng chẳng hề đổi thay.

  • Dụ ngôn người gieo giống mà Phúc Âm nhất lãm cho ta thấy một thực tế đáng buồn:

Hạt rơi vào chốn vệ đường,

Chim trời bay xuống ăn còn gì đâu.

Hạt rơi xuống đất không sâu,

Vì do đất ít, mọc ngay lên liền.

Nhưng vì đất sỏi khô cằn,

Nên khi nắng bốc nó liền héo ngay.

Rễ cụt nên bị cằn khô,

Không sao sống nổi, chết ngay tức thời.

Còn hạt rơi vào bụi gai

Bị gai bóp nghẹt sống đâu được nào (Mc 4, 4-7).

  • Biết bao nhiêu hạt giống Lời Chúa bị chim trời ăn hết (nghe qua loa chiếu lệ, tai này qua tai khác), biết bao nhiêu hạt giống rơi vào đá sỏi (nghe cho hay, cho đã thôi nhưng không thực hành), biết bao nhiêu hạt giống rơi vào bụi gai (nghe nhiều nhưng chẳng thấm được bao nhiêu vì chuộng tiền tài, danh vọng, thú vui trần thế hơn…).
  • Kế đến, trong quá khứ, việc phúc âm hóa là một sứ mạng dường như được hiểu chỉ dành cho hàng giáo sĩ, tu sĩ chứ không được coi là sứ mạng của giáo dân. Vì thế việc này không có kết quả bao nhiêu vì Phúc Âm không thể thâm nhập vào môi trường xã hội.
  • Việc độc quyền diễn giải Lời Chúa và thái độ nghi ngờ của chủ chăn Giáo hội công giáo về khả năng tiếp nhận Kinh Thánh của giáo dân trong một thời gian quá dài đã tạo nên một hậu quả vô cùng đáng tiếc đối với thái độ tiếp cận của giáo dân đối với Kinh Thánh: không quan tâm, thụ động, e dè vì nghĩ rằng không phải là việc của mình, mình không có quyền, không có đủ khả năng tiếp cận với Lời Chúa để từ đó hài lòng với việc lắng nghe thụ động qua loa trong thánh lễ chủ yếu vào ngày chủ nhật qua các bài đọc và bài giảng của chủ tế mà thôi.
  • Bởi nếu những chứng từ của những linh mục, tu sĩ thánh thiện, nếu có lôi cuốn làm cho người ta cũng nghe cho là hay thôi nhưng không noi theo vì người đời đâu xem họ là người phàm, mà là thầy tu, là thánh sẵn rồi nên mới làm được, còn giáo dân cũng người phàm mắt thịt như ai, nếu thực sự trở thành thánh thì mới có thể làm chứng tá sống động và hữu hiệu được.
  • Ngoài ra, những người thực hiện sứ mạng này chưa được đào tạo đầy đủ đúng nghĩa để có một ngôn ngữ, một cung cách, phương pháp, phương thế phù hợp để làm cho các giá trị Phúc Âm có thể được đón nhận một cách hữu hiệu bởi môi trường, chưa nói đôi khi còn tỏ những thái độ áp đặt, thiếu hiểu biết, thiếu khôn ngoan, còn tạo nên những thành kiến xấu đối với môi trường mà mình tiếp xúc.
  • Và hơn nữa do sự phản kháng thờ ơ của người tiếp nhận vì bản thân họ không có phương hướng, bị đánh trôi dạt theo mọi tư tưởng sai lạc, phù phiếm và thái độ chuộng dễ dãi và vì sự lan tràn bầu khí ô nhiểm của nền văn minh sự chết thể hiện qua việc chối bỏ Thiên Chúa, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng thụ, trào lưu tục hóa, chủ nghĩa tương đối hóa, chủ nghĩa thực dụng,
  • Vả chăng, người ta chưa ý thức và nhận rằng

Nước Trời cũng giống chuyện sau,

Giống một kho báu chôn sâu trong vườn.

Có người tìm thấy vội vàng

Mau mau chôn lại tức thì liền ngay.

Bán nhà cửa ruộng mình đi

Để mua thửa đất liền ngay tức thì.

hoặc

Nước Trời cũng giống chuyện này,

Một thương gia nọ đi lùng ngọc châu,

Tìm được ngọc quý trân châu.

Anh liền bán hết mua ngay tức thì (Mt 13, 44-46).

  • Tiếc thay, kho tàng vẫn mãi bị chôn giấu, chưa được tìm kiếm khám phá, thì làm sao nói đến chuyện khai thác. Viên ngọc vẫn mãi còn đâu đó, thậm chỉ nằm trong góc xó nào đó chưa được phát hiện. Bởi người ta mải mê chạy theo những ham mê của thế gian, chẳng cần phải bỏ công, cất công lên đường tìm kiếm mà có đầy rẫy trước mắt, sẵn sàng phục vụ mọi nơi mọi lúc. Người ta có đủ thứ lý do để từ chối không tham dự bàn tiệc Lời Chúa.

 

Làm sao để thực hiện sứ mạng phúc âm hóa?

  • Mọi người đều phải sống Phúc Âm, đó là cách phúc âm hóa hữu hiệu nhất.
  • Thay vì kêu gọi kẻ khác sống Phúc Âm hay nghĩ đến việc phúc âm hóa kẻ khác, hãy sống Phúc Âm với hết cả tấm lòng tin yêu, thành thật khiêm tốn, can đảm và bền bỉ.
  • Làm sao sống Phúc Âm nếu không biết đến Phúc Âm. Nhưng biết Phúc Âm là biết thế nào?
  • Biết Phúc Âm là một chuyện thật không dễ chút nào vì Phúc Âm không chỉ là một cuốn sách bình thường, ngoài những kiến thức nhân loại, cần có khoa học và mặc khải của của Thiên Chúa.
  • Hơn nữa Tin Mừng theo thánh Gioan gần ta nhất cách đây cũng hơn hai mươi thế kỷ, trong khi ta đang sống vào thế kỷ 21 với biết bao nhiêu thay đổi, với biết bao thách đố về mọi mặt. Chính vì thế cần phải tái khám phá Kinh Thánh hoài, vì Lời Chúa là lời hằng sống. Nó không nằm ở chữ viết bởi chữ viết vốn có giới hạn bởi không gian và thời gian nhưng nằm ở sự linh hứng và soi sáng của Thần Khí như Thánh Phaolô nói: “Chữ viết chỉ giết mà thôi, Tinh thần mới làm cho nó sống động” (2 Cr 3, 6).

 

Vì sao gia đình là tác nhân chính của việc phúc âm hóa?

  • Vì gia đình là nền tảng của xã hội: Ai cũng biết rằng gia đình là nền tảng của xã hội, và của Giáo hội. Không thể nào có một xã hội tốt đẹp, một Giáo hội thánh thiện mà không có những gia đình đạo đức thánh thiện. Đặc biệt cuốn sách How the West Really Lost God (tạm dịch Vì sao Phướng Tây đánh mất Thiên Chúa?) được xuất bản vào tháng 4 năm 2013 của tác giả Mary Eberstadt đã chứng minh rằng đời sống đạo ở phương Tây bị suy giảm là do cơ cấu gia đình truyền thống bị phá vỡ.
  • Lý thuyết này đã được nhiều học giả đón nhận một cách khá tâm đắc. Trước đó, người ta cho rằng những vấn đề như đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế, di họa chiến tranh tác động đến đời sống đạo của phương Tây. Nhưng với những gì bà Mary Eberstadt trình bày, ngày nay người ta tin rằng lý do chính yếu của sự suy thoái đời sống đạo ở phương Tây chính là sự khủng hoảng của cơ cấu gia đình truyền thống.
  • Và cứ tìm hiểu nguyên nhân của những trẻ em phạm pháp ta sẽ nhận thấy rằng hầu hết các trường hợp đều xuất phát từ những gia đình tan vỡ, hay rạn nứt: cha mẹ li dị, chia tay, sống lang bang, bất hòa chia rẽ…
  • Do chính ơn gọi của hôn nhân Kitô giáo:
  • Hôn nhân Kitô giáo không phải chỉ là một quan hệ trao đổi tình cảm, một định chế xã hội, mà là một Bí tích mà Thiên Chúa đã lập, là Bí tích Tình yêu.
  • Qua giao ước tình yêu giữa vợ chồng và mở ra cho việc đón nhận và vun trồng sự sống, qua việc truyền sinh, sinh con và giáo dục chúng, đôi bạn được mời gọi, trở nên dấu chỉ và biểu tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi, Gia đình đầu tiên, và là Gia đình của mọi gia đình, phản ánh giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại, tình yêu của Đức Giêsu với Hội Thánh của Người.
  • Qua việc phối hợp trong tình yêu, hai vợ chồng được mời gọi trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa: Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh mình, là nữ và nam. Chúc lành cho họ, phán rằng: “Hãy sinh sôi, nẩy nở cho thật nhiều sao cho đầy mặt đất luôn, và hãy thống trị toàn cỏi đất này. Hãy làm bá chủ cá, chim, mọi loài động vật bò trên đất luôn“ (St 1, 26-28).
  • Một Thiên Chúa yêu thương và luôn trung thành (Hs 2, 21).
  • Tình yêu và sự trung tín của Thiên Chúa được thể hiện trọn vẹn nơi Đức Kitô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu độ nhân loại bằng chính đời sống phục vụ và hiến thân trao ban trên thập giá.
  • Chúa Giêsu đến trần gian để loan báo Phúc Âm, Tin Mừng Nước Trời. Tin Mừng đó là gì nếu không phải là mặc khải quan trọng nhất này: Thiên Chúa chính là Tình yêu; con người không phải là kết quả của một sự ngẫu nhiên nào đó mà là hoa trái của Tình yêu Ba Ngôi, được tạo dựng vì tình yêu và được mời gọi chia sẻ và thông hiệp vào Tình yêu đó.
  • Như thế, ơn gọi hôn nhân Kitô giáo là ơn gọi nền tảng, hiện thực hóa chính sứ mạng phúc âm hóa của Đức Giêsu.
  • Do chính điều kiện của gia đình: Những giá trị nhân bản, đạo đức, đức tin, Phúc Âm mà chúng ta đón nhận được đầu tiên và tồn tại lâu nhất và có thể nói suốt đời trong tâm hồn chúng ta đến từ đâu nếu không phải là từ trong gia đình, trường học đầu tiên.
  • Nhất là trong thế giới tục hóa ngày hôm nay, người ta có khuynh hướng cô lập, biệt lập các cơ sở tôn giáo, các giá trị tôn giáo, biến nó thành một điều cá nhân, thậm chí xa lạ, lập dị.
  • Tôn giáo chẳng những không được dạy ở trong nhà trường mà thậm chí còn bị miệt thị, báng bổ. Xã hội ngày nay chẳng những không thuận lợi cho việc phúc âm hóa mà còn đi ngược lại với các giá trị Phúc Âm.
  • Chính vì thế hơn lúc nào hết, gia đình và các thành viên của gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phúc âm hóa.
  • Với vị thế và ơn gọi của mình, hơn ai hết, người giáo dân có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện sứ mạng phúc âm hóa.

 

Gia đình là con đường của Giáo hội

  • Đức Thánh Giáo hoàng G.P II đã tuyên bố trong thư gửi các gia đình rằng, trong nhiều con đường, gia đình là con đường đầu tiên và quan trọng nhất: Đó là con đường chung và vừa, là con đường đặc biệt, hoàn toàn độc nhất như thể mỗi người đều độc nhất, một con đường mà con người phải đi.
  • Cũng như Thiên Chúa làm người và sống trong một gia đình, con người cũng vào đời bên trong một gia đình. Đức Giêsu sống 30 năm, hầu hết đời mình trong gia đình Nagiarét.
  • Và ta có thể nói mỗi gia đình của ta đều được tạo ra bởi từ Thiên Chúa Ba Ngôi, Gia đình của các gia đình, và là biểu trưng cho chính Gia đình đó.
  • Cũng theo ngài, Giáo hội ưu ái quan tâm đến những ai sống trong gia đình vì Giáo hội biết rõ vai trò nền tảng mà gia đình được kêu gọi để hoàn thành
  • Hơn nữa, Giáo hội cũng biết rằng bình thường con người sẽ rời bỏ gia đình của mình để thực hiện ơn gọi của mình trong một gia đình mới của riêng minh. Và cho dù họ có chọn lựa sống một mình, gia đình vẫn mãi là chân trời cốt yếu, là cộng đoàn nền tảng mà trong đó mọi hệ thống tương quan xã hội bám rễ, từ các tương quan gần nhất cho đến các tương quan xa nhất.
  • Phải chăng người ta nói đến gia đình nhân loại về tất cả những ai sống trên thế giới này sao?

 

“Gia đình là thầy dạy về các giá trị nhân bản và Kitô”

  • Hội Đồng Tòa Thánh Về Gia Đình trong bài Giáo Lý Cho Cuộc Hội Ngộ Các Gia Đình Thế Giới Lần Thứ VI (Mexico, D.F., 16 – 18 tháng 01, 2009) đã xác định như thế.
  • Quả vậy, gia đình là trường học đầu tiên và không thể thay thế, nơi đó con cái được nuôi dưỡng và lớn lên trong bầu khí đức tin, đức cậy và đức mến, được vun trồng các giá trị nhân bản và thiêng liêng, phúc âm tồn tại mãi suốt đời.

“Việc phúc âm hóa tương lai phần lớn phụ thuộc vào Hội Thánh tại gia”

  • Trong diễn văn của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại Đại Hội lần III các giám mục châu Mỹ Latinh, 1979, ngài đã tuyên bố như thế.
  • Thật vậy, nếu trong gia đình, các giá trị phúc âm không được sống và vun trồng, nếu trẻ không được hít thở bầu khí phúc âm ngay trong gia đình mình, làm sao trẻ có thể sống Phúc Âm và trở nên chứng nhân của Tin Mừng về sau trong xã hội được.

 

“Gia đình là trái tim của công cuộc phúc âm hóa mới”

  • Trong bài diễn văn của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói với các Giám mục Phi châu đặc trách mục vụ gia đình vào năm 1992, ngài đã không ngần ngại xác định như thế.
  • Thật vậy, mọi nỗ lực phúc âm hóa hay Tân phúc âm hóa, phải được bắt đầu và khởi đi từ gia đình và thông qua gia đình, là Giáo hội nền tảng, Giáo hội tại gia, nhất là trong một xã hội tục hóa như ngày nay.
  • Khi nói đến Giáo hội, thường người ta chỉ nghĩ theo nghĩa hẹp, nghĩa là các chủ chăn (Đức Giáo hoàng, các giám mục, các linh mục). Chúng ta quen với từ Giáo hội, mẹ và thầy, Giáo hội dạy rằng…, nhưng thực ra Giáo hội là cộng đoàn của các kẻ tin vào Đức Giêsu Kitô bao gồm mọi thành phần, mà trong đó giáo dân là đại đa số, là thành phần chủ yếu.

 

Giáo dân là người đầu tiên đi loan báo Tin Mừng

  • Đức Maria:Mari vội vã lên đường, đi lên miền núi vào một thành kia Thuộc về chi tộc Giuđa, Cô bước vào nhà của Gia-ca-ri...(Lc 1, 39-40)
  • Người phụ nữ Samari: Chị này lập tức lên đường, bỏ vò nước lại đằng sau lưng mình, vào thành nói với chúng dân: Anh em hãy tới đây mau xem nào! có một người nói với tôi tất cả những chuyện mà tôi đã làm. Phải chăng là Đấng Kitô? Họ liền ra khỏi thành đến gặp Người? (Ga 4, 28-30)
  • Anh mù từ thuở mới sinh: Anh mù mới phản ứng rằng: Chúng ta đều biết Chúa nhậm lời ai. Chẳng phải kẻ tội lỗi đâu, chỉ ai kính sợ vâng lời Người thôi. Xưa nay chẳng thấy có ai có thể mở mắt người mù bẩm sinh. Nếu ổng chẳng bởi Chúa sai, thì ổng chẳng thể làm được thế đâu. (Ga 9, 30-33)
  • Maria Mađalêna: Mari vội vã lên đường báo với môn đệ mình đã gặp Thầy. Rồi bà kể lại đầu đuôi, những gì Người đã nói riêng với bà. (Ga 20, 18)
  • Vào thời Giáo hội sơ khai, người giáo dân loan báo Phúc Âm một cách tự phát, họ đi đến đâu thì Phúc Âm được lan đến đó.
  • Tuy Tin Mừng đầu tiên được công bố bởi các tông đồ, các môn đệ của Đức Giêsu. Nhưng chính nhờ giáo dân mà Tin Mừng được lan đến mọi nơi, mọi tầng lớp xã hội.
  • Khi bị bách hại, các Kitô hữu lánh nạn và tản mác đi khắp nơi, đến đâu họ đều loan báo Tin Mừng: Trốn cuộc bách hại tại Giêrusalem, họ lên Samari và Samari trở thành trung tâm của Giáo hội sơ khai.
  • Chỉ trong vòng ba thập niên truyền giáo, hạt giống Phúc Âm nẩy nở khắp nơi trong các nước xung quanh Địa Trung Hải.
  • Người Kitô hữu hiện diện trong mọi môi trường xã hội, từ nhà ổ chuột cho đến cách cung điện ở Roma, Phúc Âm được sống và loan báo từ những người nô lệ cho đến các chủ nhân.
  • Và sự hiện diện này mang chiều kích phúc âm hóa, làm cho môi trường sống của họ thấm nhập sứ điệp Phúc Âm như lời chứng của học giả Tertulianô: “Hãy xem tín hữu Kitô, kìa họ thương nhau đến mức độ nào!”
  • Phúc Âm được loan báo rộng rãi và mau chóng nhờ tác động của Thánh Thần và nhiệt tâm của người Kitô hữu không phân biệt thành phần phẩm trật.
  • Giáo dân không đợi bài sai của hàng giáo phẩm mới loan báo Phúc Âm. Bài sai duy nhất là của Thánh Thần mà họ đáp lại một cách nhiệt tâm và quảng đại.
  • Đặc biệt ở Antôkia, một số tín hữu đến từ Kyrênê, Kiprô nảy ra sáng kiến loan báo Phúc Âm cho dân ngoại, từ đó rất nhiều người ngoại gia nhập Kitô giáo, gây tiếng vang lan truyền đến Giêrusalem. Lúc ấy các tông đồ mới phái Barnaba đến khảo sát tình hình (Cv 11, 19-24).
  • Nói tóm lại, việc loan báo Phúc Âm là một việc làm hoàn toàn tự phát, khởi đi từ thúc bách bên trong như Phaolô từng nói: “Thật khốn cho bản thân tôi nếu như tôi không loan báo Tin Mừng” (1Cr 9, 16).
  • Những giáo dân làm chứng tá hùng hồn cho Phúc Âm nổi tiếng thời đó là vợ chồng Aquila- Priscilla, thuộc gốc Do Thái, Hy hóa, bị hoàng đế đuổi khỏi Rôma đến cư ngụ tại Corintô, Hy Lạp, là công sự viên thân tín và đắc lực của thánh Phaolô, đã giúp ngài rất nhiều thậm chí đã cứu sống ngài.
  • Gia đình, họ thực sự là một giáo hội tại gia, dấn thân cho công tác loan báo Tin Mừng: Nhà của họ trở nên nơi hội họp quy tụ các tín hữu Kitô, được đề cập trong Tông đồ Công vụ, và thư gửi Côrintô và Rôma.
  • Ngoài ra còn có bà Ly-đia và hàng chục nam nữ tín hữu được thánh Phaolô nhắc đến và thăm hỏi (Rm 16, 1-16).
  • Thậm chí Apôlô, vốn là một người ngoại chưa được rửa tội đã rao giảng Phúc Âm tại Alexandria và Êphêsô và sau khi được rửa tội tiếp tục rao giảng Phúc Âm tại Côrintô.
  • Lịch sử của Giáo Hội đã xác nhận điều này kể từ lúc khởi đầu. Một trường hợp tiêu biểu là thánh Augustinô, được sám hối trở lại nhờ ơn Chúa với bao nhiêu đau khổ hy sinh, cầu nguyên liên lĩ và âm thầm trong nước mắt của mẹ, là thánh nữ Monica.
  • Muốn phúc âm hóa hay Tái phúc âm hóa ta phải khởi đi từ việc phúc âm hóa hay Tái Phúc Âm chính bản thân mình, nghĩa là tái khám phá sứ điệp Phúc Âm và niềm vui sống Phúc Âm trong cuộc sống đời thường hằng ngày của chính mình, tái khám phá lời chúc phúc của bà Elisabét nói với Đức Mẹ: “Em thật có phúc biết bao vì đã tin lời Chúa nói với em.” (Lc 1, 45) hay Tám mối phúc mà Đức Giêsu tuyên bố trong Bài giảng trên núi.
  • Phúc âm hóa cần phải được thực hiện ở mọi thành phần trong Giáo hội, không phân biệt vị trí, nghề nghiệp, giai cấp, trình độ và ở mọi môi trường, ngay cả những môi trường tục hóa nhất như trường hợp xơ Christina , người đoạt giải the Voice của Ý năm nay.
  • Gia đình, với tư cách là Giáo hội tại gia, tuy xét về vị trí và tầm vóc thì quá nhỏ bé, là đơn vị nhỏ nhất của Giáo hội toàn cầu, nhưng lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phúc âm hóa.
  • Không có Giacaria và Êlisabét, không thể có Gioan: Trong số các trẻ sinh ra, không ai có thể so được với Gioan. (Lc 7, 28)
  • Không có Đức Maria và Thánh cả Giuse thì làm sao có Đức Giêsu, được ca khen và chúc tụng: Phúc cho dạ cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú trước đây. (Lc 11, 27)
  • Không có chân phúc ông bà Louis Martin, không có đại thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu.
  • “Không có nhẫn cưới của mẹ, thì không có nhẫn giám mục của con” (thánh GH Gioan XXIII, và đấng đáng kính Tgm. Ph.Xaviê Nguyễn Văn Thuận)
  • Thế giới không thể nào được phúc âm hóa nếu bản thân Giáo hội không được phúc âm hóa. Và Giáo hội không thể phúc âm hóa, nếu không có những người tín hữu được phúc âm hóa. Nhưng những người Kitô hữu xuất phát từ đâu nếu không phải từ chính Gia đình là Giáo hội tại gia.
  • Vậy liệu có thể thực hiện sứ mạng phúc âm hóa không nếu từ khi sinh ra cho đến lớn, từng người trong gia đình của chúng ta không được hít thở bầu khí thấm nhuần Phúc Âm.

 

Gia đình sống phúc âm hóa bằng cách nào?

  • Gia đình thực hiện “sứ mạng loan báo Tin Mừng của mình chủ yếu qua giáo dục con cái” (EV 92). Tông huấn Niềm vui yêu thương (Amoris Laetitia) tái khẳng định vai trò chính yếu và then chốt trong việc giáo dục con cái và nhấn mạnh đến những nhiêm vụ quan trọng của cha mẹ trong sứ mạng này trong suốt chương 7.
  • Và giáo dục con cái trước tiên và hữu hiệu nhất bằng việc nêu gương. Nghĩa là muốn phúc âm hóa gia đình mình, thì mỗi người trong gia đình được kêu mời sống Phúc Âm. Muốn phúc âm hóa con cái, thì đầu tiên bản thân cha mẹ phải sống Phúc Âm hay nói cách khác là chứng nhân của Tin Mừng.
  • Sống Phúc Âm là bổn phận của mọi Kitô hữu. Đã là Kitô hữu, thì không thể không biết và không sống Phúc Âm. Dù sống ở bậc sống nào, linh mục, tu sĩ, giáo dân đều phải sống Phúc Âm, mỗi người theo mỗi cách phù hợp với ơn gọi, bậc sống và vị trí của mình và trong ngay môi trường sống của mình.
  • Môi trường sống của giáo dân trước hết và trên hết là gia đình. phúc âm hóa đối với người giáo dân là phúc âm hóa chính gia đình, những người thân cận nhất, cha mẹ, vợ chồng con cái rồi đến láng giềng xung quanh…

 

Sống Phúc Âm là gì?

  • Sống Phúc Âm là trở nên chứng nhân cho sư thật và tình yêu. “ Tôi là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37). Sự thật sẽ giải thoát các người” (Ga 8, 31). “Anh em sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa giữa một thế hệ gian tà, sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống…”. (Pl 2,15-16)

Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 6).

Phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết cả trí khôn, hết tâm, hết sức, hết cả linh hồn. Và người thân cận cũng yêu, cũng phải yêu họ như yêu chính mình. Nghe thế, Người mới đáp rằng: Ông nói rất đúng, chỉ cần thế thôi! Cứ theo như vậy mà làm, chắc chắn ông sẽ được sống muôn đời. (Lc 10, 27-28)

Đây là giới răn của Thầy, là điều răn mới Thầy truyền anh em: Anh em hãy yêu mến nhau, cũng như Thầy đã thương mến anh em. Bởi vì chính ở điều này, người ta nhận biết môn đệ của Thầy: Là anh em yêu mến nhau, yêu như chính Thầy đã yêu anh em. (Ga 13, 34-35)

  • Sứ mạng này được thể hiện một cách riêng biệt đối với mỗi ơn gọi và bậc sống trong những môi trường khác nhau. Đối với các linh mục chủ yếu là trong địa bàn giáo xứ, đối với tu sĩ trong chính cộng đoàn mình, và những người mà mình được sai đến phục vụ, hay đến với mình, còn đối với giáo dân, trước tiên là trong gia đình mình, rồi mới đến láng giềng, giáo xứ, nơi làm việc, chợ đời…

 

  • Cũng là mệnh lệnh sống bác ái, nhưng bác ái đối với các linh mục chủ yếu là yêu thương những anh em linh mục cùng chung một giáo xứ, yêu thương chăm sóc cho đàn chiên mình được sống và sống dồi dào, đối với tu sĩ chủ yếu là yêu thương những anh em tu sĩ trong chính cộng đoàn mình, và những người mà mình được sai đến phục vụ, hay đến với mình, còn đối với giáo dân, đối tượng yêu thương chủ yếu và trước tiên phải là những người trong gia đình mình, rồi mới đến láng giềng, giáo xứ, nơi làm việc…

 

  • Tình yêu đích thực phải khởi đi từ chính mình, yêu chính mình, sau đó đến những người thân cận nhất là vợ/chồng con cái, cha mẹ, anh em rồi mới đến bên ngoài. Có những người chỉ thương con mà không thương vợ chồng. Thương con thực sự trước tiên là thương vợ chồng là thương mẹ/cha của chúng là người sinh thành ra chúng và chúng chỉ có thể hạnh phục thực sự, phát triển hài hòa khi hót thở bầu khí yêu thương: tình thương của cha mẹ chúng dành cho nhau và dành cho chúng. Ngày nay không ít các giáo dân rất tích cực phục vụ cho giáo xứ, hay cho công tác từ thiện đấy đó, thậm chí có thể là những điển hình đáng khen, làm ông nọ bà kia nhưng lại thờ ơ với chính những người sống trong gia đình mình, với vợ/chồng cha mẹ, con cái, anh chị em ruột thịt của mình, chểnh mảng việc gia đình, rất nhiều người giỏi việc Chúa, việc chùa mà dở việc nhà. Hoặc có những người tham gia hoạt động giáo xứ như một cách xả stress ở gia đình, hay trốn tránh đụng chạm với những người trong chính gia đình mình

 

  • Tình yêu đích thực không phải chỉ hệ tại ở việc cho đi điều này, điều nọ, hay làm việc từ thiện nơi này nơi kia, mà quan trọng nhất là dẫn đưa người khác đến với sự thật, vì chỉ có sự thật mới có khả năng giải thoát thực sự con người và đưa con người đến sự sống viên mãn.

 

  • Tuy trong bốn Phúc Âm, không có đoạn nào đưa ra một định nghĩa về sự thật và tình yêu nhưng thật ra toàn bộ Phúc Âm là một lời minh giải, quảng diễn về sự thật và tình yêu vì tất cà bốn Phúc Âm đều tập trung và xoay quanh con người của Đức Giêsu, chính là hiện thân của sự tật và tình yêu. Thật vậy, Đức Giêsu chính là Tình yêu Thiên Chúa mang lấy xác phàm, được cụ thể hóa, diễn tả một cách trọn vẹn nơi một con người, trong cử chỉ, lời nói, hành động và toàn bộ cuộc sống. Và Đức Giêsu, Đấng là đường, là sự thật và là sự sống, đến thế gian để xua tan đêm tối của tội lỗi, và ngộ nhận, và sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình để làm chứng cho sự thật giải phóng mang lại ơn cứu độ thực sự cho con người.

 

  • Vì thế sống Phúc Âm trước hết là chiêm ngắm chính Đức Giêsu trong Phúc Âm, là để Lời của Người thấm nhập vào lòng ta, là để cử chỉ và hành động của Người in sâu vào tâm trí ta, là đi vào một cuộc gặp gỡ cá vị với Người để Người biến đổi cái nhìn của ta, lòng trí ta và cuộc đời của ta để từ đó ta có thể ứng xử như chính Người trong từng giây phút sống hiện tại của đời ta, và trong hoàn cảnh cụ thể mà chúng ta đang sống, dấn thân biến đổi xã hội, làm cho xã hội thấm nhuần tinh thần phúc âm. Sở dĩ công cuộc phúc âm hay tái phúc âm hóa ở nước ta chưa thực sự đạt được hoa trái là vì người Kitô hữu chúng ta, Giáo hội của chúng ta chưa thực sự là chứng nhân sống động của Tin Mừng, chưa thực sự dấn thân canh tân xã hội, chứng tỏ cho mọi người thấy Tin Mừng có quyền năng tạo nên những biến đổi cụ thể và triệt để trong đời sống cá nhân và xã hội, đặc biệt trong việc giải quyết tận căn nguyên nhân chính yếu tạo nên những mối hiểm họa, mọi hình thức thoái hóa, nhiễu nhương, tiêu cực lớn nhỏ trong giáo hội và xã hội, được Hội đồng giám mục VN đề cập trong bức tâm thư gửi cho cộng đoàn dân Chúa vừa qua, xuất phát chủ yếu từ một cơ chế băng hoại tội lỗi.

 

Đã đến lúc Giáo hội nói chung và từng gia đình, cá nhân Kitô hữu cần phải nhận ra sự thật này  ngõ hầu trở thành những chứng tá sống động của Tin Mừng một cách cụ thê trong việc dấn thân đổi mới cơ chế tội lỗi bằng cách này hay cách khác tùy theo sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, công bằng, nhân ái, một môi trường trong lành, an toàn, và một đất nước thực sự tự do dân chủ trong đó mọi quyền lợi chính đáng của con người, đặc biệt của những người thấp cổ bé miệng được nhìn nhận và tôn trọng, hầu chứng tỏ cho mọi người thấy được quyền năng biến đổi thực sự của Tin Mừng.

Gioakim Trương Đình Giai

 

Bài viết liên quan:

Truyền giáo trên đất Nhật (2)
Cha Đắc Lộ và chữ quốc ngữ (1)
Phải thương Giáo hội thì mới phục vụ được..
Truyền giảng Tin mừng bằng việc in sách của các nữ tu dòng Đức Bà Loretto
Legio Mariae, dặm dài trước mắt
Khi các cánh đồng truyền giáo vào xuân
Linh Đạo Truyền Giáo
Dùng văn chương để loan báo Tin Mừng
Truyền giáo trong thế giới ảo
Cảnh báo NẠN truyền giáo
Page 1 of 10 (97 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1108
Tất cả: 49,068,864