Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 19 TN A - LM. INHAXIÔ HỒ THÔNG

Vào Chúa Nhật XIX Thường Niên Năm A nầy, bản văn Cựu Ước và Tin Mừng cùng nhau giới thiệu Thiên Chúa là nguồn mạch của sự bình an.
1V 19: 9, 11-13
Bài Đọc I trích từ sách Các Vua quyển thứ nhất, trong đó Thiên Chúa tỏ mình ra với ngôn sứ Ê-li-a trên núi Xi-nai, không còn trong cảnh sấm chớp ầm vang, nhưng trong cõi thinh lặng chứa chan ân tình trìu mến.
Rm 9: 1-5
Bài Đọc II trích từ thư gởi tín hữu Rô-ma, trong đó thánh Phao-lô xao xuyến trước sự kiện đồng bào Do thái của thánh nhân vẫn cứng lòng tin, tuy họ đã được đổ tràn biết bao thánh ân.
Mt 14: 22-33
Tin Mừng tường thuật việc Đức Giê-su đi trên mặt nước. Ngay khi Ngài gặp lại các môn đệ trên thuyền, phong ba bão tố trở nên dịu êm. Bầu khí bình yên lại ngự trị trên thiên nhiên và trong cõi lòng của các môn đệ.


BÀI ĐỌC I (1V 19: 9, 11-13)
Sách Các Vua quyển thứ nhất và quyển thứ hai dành một chỗ rộng lớn cho vai trò các ngôn sứ, đặc biệt cho ba ngôn sứ: Ê-li-a, Ê-li-sa và I-sai-a.
Ngôn sứ Ê-li-a được phác họa như một nhân vật huyền bí, có quyền năng hô phong hoán vũ, nhưng tiên vàn, một con người của đức tin. Ông thực hiện sứ vụ ngôn sứ của mình ở vương quốc miền Bắc, vào triều đại vua A-khát (874-853 BC). Sứ vụ của ông gặp nhiều gian truân. Vua A-khát là một vị quân vương vô đạo. Vợ vua là hoàng hậu I-da-ven ngoại đạo. Bà là công chúa của vua Xi-đon, ông này vừa là vua đồng thời cũng là tư tế của thần Ba-an. Vua A-khát sùng bái việc cúng tế ngẫu tượng và không thể chịu đựng được những lời khiển trách của ngôn sứ Ê-li-a. Trong khi đó, hoàng hậu I-da-ven quyết tâm truy lùng ngôn sứ Ê-li-a.


1.Hành trình tâm linh của ngôn sứ Ê-li-a.
Trước cuộc bách hại của vương triều, Ngôn sứ Ê-li-a rời bỏ vương quốc miền Bắc, trốn chạy vào vương quốc miền Nam cho đến tận biên giới sa mạc xa xôi. Ở đó, ông quyết định thực hiện một cuộc hành hương theo vết chân của ông Mô-sê. Sau một cuộc hành trình dài, ông đến núi thánh Khô-rếp (cũng được gọi núi Xi-nai theo truyền thống vương quốc phương Bắc). Vị ngôn sứ, chán nản vì những nổ lực của ông đã biến thành mây khói, cố gắng tôi luyện lại niềm tin của mình trên chính nơi Thiên Chúa đã tỏ mình ra.
Bốn thế kỷ cách biệt giữa ngôn sứ Ê-li-a và ông Mô-sê, dường như núi Khô-rép (Xi-nai) đã trở thành một thánh địa cho những người hành hương. Vị ngôn sứ nằm nghỉ trong một chiếc hang xưa kia ông Mô-sê đã trú ngụ, nơi mà truyền thống đã xem như thánh địa.
Chính để an ủi người tôi trung của mình, Thiên Chúa tỏ mình ra cho ông, nhưng không trong tiếng sấm chớp kinh thiên động địa, cũng không trong cảnh đất trời rung chuyển hồn xiêu phách lạc, nhưng trong“làn gió mát hiu hiu thổi” (dịch sát từ: “trong tiếng động của cõi thinh lặng tinh tế”) gợi nhớ khung cảnh địa đàng: “Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày” (St 3: 8).


2.Tấm lòng ân cần trìu mến của Thiên Chúa.
Hai hoàn cảnh thần hiển hoàn toàn khác nhau. Xưa kia, dân Do thái cắm lều ở dưới chân núi Xi-nai. Vào thời điểm đó, Thiên Chúa đã ngỏ lời với dân trong cảnh trời đất rung chuyển và núi non hừng hực lửa, ngõ hầu toàn dân nhận biết sự hiện diện của Ngài và biết lắng nghe người tôi trung của Ngài là ông Mô-sê.
Trái lại, giờ đây ngôn sứ Ê-li-a hoàn toàn cô độc, không gặp thấy nơi nương tựa trần thế nào. Thiên Chúa, thay vì làm ông khiếp sợ, tỏ mình ra trong tiếng thì thầm dịu êm. Đây không là cách bày tỏ khác về sự thánh thiêng của Thiên Chúa sao? Hành động cứu độ của Thiên Chúa không tất yếu phải là ngoạn mục, ngược lại thường nhất rất kín đáo. Trong trường hợp của ngôn sứ Ê-li-a, Thiên Chúa muốn ông hiểu rằng Ngài đang lắng nghe lời khẩn nguyện của ông. Chính trong ân tình trìu mến mà Ngài muốn chuyện trò với ông.
Ngoài ra, không ngoại trừ rằng tác giả của bản văn này muốn cho dân Do thái bất tín và thờ ngẫu tượng một bài học. Thần Ba-an của dân Ca-na-an là thần bão tố, còn Đức Chúa, Thiên Chúa chân thật, thì hoàn toàn khác.
Nhưng Tin Mừng hôm nay đã không cung cấp cho chúng ta ý nghĩa của phong ba bão tố trong câu chuyện của ngôn sứ Ê-li-a sao? Thật tuyệt vời, phụng vụ đã đối chiếu hai bản văn để giới thiệu Đức Giê-su là Đấng dẹp yên phong ba bão tố. Chính Ngài đem lại sự bình an. Luôn luôn là thế, sự hiện diện của Thiên Chúa là nguồn mạch của sự bình an.


BÀI ĐỌC II (Rm 9: 1-5)
Bài Đọc II được trích từ thư của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Rô-ma. Chương 9 nầy bắt đầu với những tâm tư trào dâng tận đáy lòng, theo đó thánh nhân thú nhận nỗi phiền muộn bao la của mình trước lòng chai dạ đá của đồng bào mình.


1.Nỗi ưu phiền lớn lao.
Thánh Phao-lô chất chứa trong lòng mình nỗi phiền muộn lớn lao đến mức ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Vì thế, thánh nhân viện dẫn trước hết Đức Ki-tô ra làm chứng: “Có Đức Ki-tô chứng giám”, đoạn Chúa Thánh Thần: “Lương tâm tôi, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi”. Người ta có thể nghĩ rằng thánh Phao-lô đã muốn trung thành với truyền thống Do thái, theo đó một sự kiện được cho là thật nếu có hai nhân chứng.
Thánh nhân vừa mới trình bày một cách nồng nàn vận mệnh vinh quang được chuẩn bị cho các tín hữu (chương 8). Thật sự là nỗi đau đến xé lòng nếu như đồng bào Do thái của thánh nhân đã không dự phần vào vinh quang nầy. Thánh Phao-lô chấp nhận chịu nguyền rủa để cứu đồng bàu cùng chung huyết thống với mình, dù phải “xa lìa Đức Ki-tô”, thánh nhân cũng cam lòng. Ở đây, thánh nhân dùng động từ Hy lạp “xa lìa” theo nghĩa tiêu cực. Động từ Hy lạp nầy có hai nét nghĩa, hoặc tích cực: “xa lìa trần thế” để hoàn toàn thuộc về Đức Ki-tô, hoặc tiêu cực: “xa lìa Đức Ki-tô” để bị nguyền rủa. Thánh nhân dùng động từ Hy lạp nầy ở những nơi khác cũng theo nghĩa tiêu cực (1Cr 12: 3; 16: 22; Gl 1-8). Tiếng kêu xé lòng, tiếng kêu quá đổi bi thương cùng cực, có lẽ được linh hứng từ tiếng kêu đến xé lòng của ông Mô-sê trước tội phản nghịch của dân Do thái khi họ phủ phục trước ngẫu tượng con bê vàng: “Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ! Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi Sách sự sống” (Xh 32: 32).


2.Một dân phản loạn.
Thánh nhân nhắc lại tất cả những ân ban mà Thiên Chúa đã tuôn đổ dư tràn trên dân Ngài: “Họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Ngài cho thấy vinh quang, ban tặng giao ước, lề luật, nền phụng tự và những lời hứa”. Sau hết, đặc ân cao vời khôn sánh, đó là “Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ”. Thánh nhân còn nói thêm: “Người (Đức Ki-tô) là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn đời”. Đây là một trong những ví dụ hiếm hoi, ở đó thánh Phao-lô gọi Đức Ki-tô là Thiên Chúa. Chúng ta còn gặp một ví dụ khác nữa trong thư gởi ông Ti-tô:“Đức Giê-su là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3: 13).


TIN MỪNG (Mt 14: 22-33)
Bài trình thuật Đức Giê-su đạp trên sóng nước và dẹp yên bão tố được định vị vào lúc ban đêm sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Đức Giê-su đã hối thúc các môn đệ xuống thuyền đi sang bờ bên kia trong khi Ngài giải tán đám đông dân chúng. Thánh Mát-thêu không đưa ra bất kỳ lý do nào cho thái độ nầy. Chúng ta biết được lời giải thích ở Tin Mừng Gioan: “Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt đi lên núi một mình” (Ga 6: 15). Đức Giê-su cẩn trọng tách riêng các môn đệ ra khỏi đám đông, vì sợ các ông để mình bị sự cuồng nhiệt của đám đông lôi cuốn mà nẩy sinh trong lòng ước muốn tái lập vương quyền Ít-ra-en.


1.Đức Giê-su ở riêng một mình để cầu nguyện.
Bất cứ khi nào các thánh ký kể ra việc Đức Giê-su cầu nguyện, các ngài đều nhấn mạnh tính chất trầm lắng và cô độc của Ngài: “Đức Giê-su cầu nguyện riêng một mình, trên núi cao, ở một nơi vắng vẽ”. Ngài cầu nguyện trong những trường hợp quan trọng như trước chịu phép rửa trong dòng sông Gio-đan, hay trước khi chọn nhóm Mười Hai, hoặc trước khi Biến Hình… Ngài cũng cầu nguyện trước khi đưa ra những quyết định quan trọng như những thử thách trong hoang địa hay ở vườn Cây Dầu. Việc Đức Giê-su cầu nguyện sau phép lạ hóa bánh ra nhiều thật sự là một câu chuyện bản lề. Đám đông tán dương Ngài như một nhà phép thuật thần thông; họ ước mơ một Đấng Thiên Sai có quyền năng trần thế; họ để ngoài tai sứ điệp của Ngài. Thất vọng, Đức Giê-su sắp chuyển hướng sứ vụ của Ngài theo một hướng đi khác, tức là đặt ưu tiên vào việc đào tạo các môn đệ của Ngài. Trước khi đưa ra quyết định nầy, Đức Giê-su trải qua suốt buổi chiều và thâu đêm để cầu nguyện cho đến “khoảng canh tư, Đức Giê-su đi trên mặt biển mà đến với họ”.


2.“Thầy đây, đừng sợ.” 
Trước tiếng kêu hốt hoảng của các môn đệ: “Ma đấy!”, Đức Giê-su trấn an họ: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”. “Thầy đây” được dịch từ bản văn Hy lạp: “Ego Eimi” (bản văn La-tin: “Ego sum”), là Danh Thiên Chúa được mặc khải cho ông Mô-sê trước bụi gai cháy đỏ (Xh 3: 13-15). Khi nhận cho mình danh xưng thần linh này, Đức Giê-su khẳng định nguồn gốc thần linh của Ngài. Quả thật, theo quan niệm Do thái, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng bước đi trên biển cả:
“Nước đã thấy Ngài, lạy Thiên Chúa, 
thấy Ngài nước rùng mình khiếp sợ, 
cả vực sâu cũng run rẩy kinh hoàng.
….
Đường của Chúa băng qua biển rộng, 
lối của Ngài rẽ nước mênh mông, 
mà chẳng ai nhận thấy vết chân Người” (Tv 74: 17, 20).
Thánh Phê-rô có thật sự hiểu được chân tính của Thầy mình như vậy không? Rõ ràng thánh nhân đã thưa với Đức Giê-su bằng danh xưng thần linh nầy: “Lạy Chúa, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Được Thầy chấp thuận, thánh nhân hăm hở liều mình lao xuống nước. Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu ba lần làm nổi bật con người của thánh Phê-rô: trong câu chuyện nầy, trong câu chuyện tuyên xưng đức tin ở Xê-da-rê và trong câu chuyện Biến Hình. Tuy nhiên, thánh Phê-rô không hoàn toàn vững tin, khi thấy sóng to gió lớn, thánh nhân hoảng sợ và cầu cứu: “Lạy Chúa, xin cứu con”. Đây là lần đầu tiên, một trong các Tông Đồ đã ban cho Đức Giê-su tước hiệu “Chúa Cứu Độ”. Ngay khi Đức Giê-su bước lên thuyền, thánh Phê-rô và các Tông Đồ khác phủ phục trước Đấng, không chỉ có quyền năng đi mặt biển sóng to gió lớn, nhưng còn truyền lệnh cho phong ba bão tố, tức là, những thế lực hung dữ và cuồng dại, phải lặng yên. Trước cảnh tượng này, các ông lập lại lời tuyên xưng mà thánh Phê-rô đã tuyên xưng ở Xê-da-rê: “Quả thật, Thầy là Con Thiên Chúa”.
Câu chuyện này của Tin Mừng Mát-thêu sở hữu một hậu cảnh Giáo Hội. Một con thuyền trong cơn phong ba bão tố và việc Đức Giê-su can thiệp đúng thời đúng buổi là hình ảnh gợi lên biết bao ý tưởng. Giáo Phụ Tết-tu-li-a-nô và sau nầy thánh Giáo Phụ Âu-gút-ti-nô sẽ khai triển, bằng một sự so sánh nổi tiếng, chủ đề con thuyền Giáo Hội bị vùi dập trong phong ba bão tố giữa biển cả trần gian, nhưng Đức Giê-su không bỏ mặc con thuyền.  

 

LM. INHAXIO HỒ THÔNG

 

Bài viết liên quan:

Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 3 MV B- Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Học hỏi Phúc âm CN 2 MV B - năm A Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu Siêu
Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 2 MV B- Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 1 MV B- Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Học hỏi Phúc âm CN Chúa Kito là Vua, Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ.
Học hỏi Phúc âm lễ các Thánh Tử đạo VN - Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.
Suy niệm chú giải Lời Chúa lễ các Thánh tử đạo VN- Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Học hỏi Phúc âm CN 32 TN A - Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.
Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 32 TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Học hỏi Phúc âm CN 31 TN A - Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.
Page 1 of 26 (255 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
24
25
26
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1239
Tất cả: 46,260,172